VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN BẢO CHIÊU
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI LAO
ĐỘNG HƢỞNG BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN BẢO CHIÊU
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI LAO
ĐỘNG HƢỞNG BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
Chuyên ngành
: Chính sách công
Mã số
những thiếu sót và hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự chia sẻ và những ý
kiến đóng góp quý báu của Quý thầy, cô và các bạn học viên để luận văn có
giá trị thực tiễn hơn.
Trân trọng cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ
nguồn gốc./.
Bình Dương, tháng 2 năm 2018
Tác giả luận văn
Phan Bảo Chiêu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI LAO
ĐỘNG HƢỞNG BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP ........................................... 7
1.1 Một số khái niệm......................................................................................... 7
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nước về dạy nghề cho người lao
động hưởng Bảo hiểm thất nghiệp .................................................................. 12
1.3. Khái niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách dạy
nghề cho lao động hưởng Bảo hiểm thất nghiệp ............................................ 15
1.4. Nội dung các bước trong tổ chức thực hiện chính sách dạy nghề cho
người lao động hưởng Bảo hiểm thất nghiệp.................................................. 16
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách dạy nghề cho người lao
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
ASEAN
:
Association of Southeast Asian Nations
(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)
BHXH
:
Bảo hiểm xã hội
BHYT
:
Bảo hiểm y tế
BHTN
:
Bảo hiểm thất nghiệp
(Tổ chức Lao động Quốc tế)
KTLĐ
:
Kinh tế lao động
LĐ-TB&XH
:
Lao động – Thương binh và Xã hội
NLĐ
:
Người lao động
NSDLĐ
:
Người sử dụng lao động
TCTN
:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội mà hầu hết các nước trên thế
giới phải đương đầu. Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp được biểu lộ một
cách rõ nét, nó là hệ quả tất yếu của phát triển công nghiệp. Giảm thất nghiệp và
bảo vệ người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp không chỉ là nhiệm vụ riêng
của từng quốc gia mà trở thành mục tiêu chung của các tổ chức quốc tế, tổ chức liên
kết kinh tế và các khu vực...
Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Trong những năm qua, nền kinh tế thị trường ở nước ta ngày càng phát
triển, sự phát triển của các thành phần kinh tế trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phức tạp của nền kinh tế thị trường
đã đặt ra nhiều thách thức như: Sự lựa chọn, đào thải lao động của thị trường dẫn
đến mất việc làm và thất nghiệp. Vấn đề giải quyết việc làm, chống thất nghiệp trở
thành vấn đề nóng bỏng của mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngoài các giải pháp
mang tính truyền thống đưa người lao động tìm kiếm việc làm như tư vấn, giới
thiệu việc làm thì một trong những giải pháp hiệu quả đưa người lao động sớm quay
lại thị trường lao động đó chính là đào tạo nghề cho lao động hưởng trợ cấp thất
nghiệp.
Đào tạo nghề cho NLĐ hưởng BHTN là một chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước ta. Đào tạo nghề có ý nghĩa rất quan trọng để NLĐ thất nghiệp nâng cao
tay nghề hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, từ đó có cơ hội sớm tìm được việc làm. Việc
tư vấn học nghề đóng vai trò quan trọng, có thể giúp người lao động hiểu rõ các
điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, các nhu cầu của người sử dụng lao động, nhu
cầu của thị trường,… qua đó góp phần định hướng nghề nghiệp phù hợp cho người
thất nghiệp.
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, tỉnh Bình Dương đang trên con
đường phát triển thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại và phấn đấu đến năm
2020 là thành phố trực thuộc Trung ương,; bên cạnh việc đầu tư cơ sở hạ tầng phục
đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu đề xuất những
khái niệm, cơ sở lý luận mới của đào tạo nghề, về lịch sử đào tạo nghề và giải
2
pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta [34].
- Tác giả Nguyễn Viết Sự đã có một nghiên cứu khá công phu về “Giáo dục
nghề nghiệp – những vấn đề và giải pháp”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã nhận
diện những vấn đề tồn tại phổ biến trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Việt
Nam, từ chương trình, phương pháp, nội dung, đến đội ngũ giáo viên, chất lượng
giảng dạy, khả năng thích ứng với môi trường làm việc, tác phong nghề nghiệp.
Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục nghề
nghiệp [35].
- Các tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến đã có nghiên cứu về “Phát
triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn”. Trong nghiên cứu này,
các tác giả đã đề cập đến nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật của Việt Nam nhằm
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Những nội dung về
đổi mới chương trình giảng dạy, tăng cường đầu tư thiết bị, công nghệ phù hợp
với thiết bị, công nghệ của sản xuất, nâng cao chất lượng lao động kỹ thuật [5].
- Tác giả Trần Khánh Đức đã nghiên cứu, xuất bản “Giáo dục kỹ thuật - nghề
nghiệp và phát triển nguồn nhân lực”, NXB Giáo dục, Hà Nội – 2002. Nội dung
cuốn sách tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và giải pháp giáo dục kỹ thuật - nghề
nghiệp và phát triển nguồn nhân lực [15].
Các công trình nghiên cứu, bài viết trên mới chỉ đề cập riêng lẻ lĩnh vực việc
làm, thất nghiệp, hoặc mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tổng thể về nâng cao hiệu
qủa công tác đào tạo nghề nói chung mà chưa đi sâu vào đào tạo nghề cho người lao
động hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh việc kế
Chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN, cụ thể là nghiên cứu giải
pháp và các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng
BHTN dưới góc độ khoa học chính sách công.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng
BHTN tại tỉnh Bình Dương.
Thời gian nghiên cứu: Năm 2010 đến tháng 12 năm 2016.
4
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính
sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khai thác thông tin dữ
liệu từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm: các văn bản chỉ đạo
của Đảng, Chính phủ, Bộ ngành ở TW và địa phương; thu thập thông tin trên mạng
internet, một số sách, báo, tạp chí và công trình nghiên cứu khác như các báo cáo,
tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực
tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách chính sách đào tạo nghề cho người lao động
hưởng Bảo hiểm thất nghiệp.
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, kết hợp với tiếp cận,
cập nhật những vấn đề, những lĩnh vực mới mẻ trong đời sống KT-XH từ thực
tiễn tỉnh Bình Dương, phù hợp với yêu cầu của cấu trúc luận văn.
- Luận văn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu. Tác giả tập trung vào
phương pháp phỏng vấn sâu đối với đối tượng cán bộ, công chức lãnh đạo, quản
lý và phỏng vấn đối với các chủ thể chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo, cụ thể:
Chương 1: Tác giả tập trung nêu về Cơ sở lý luận về dạy nghề cho NLĐ
hưởng BHTN, trên cơ sở nêu các khái niệm về Dạy nghề,
Chương 2: Tác giả tập trung phân tích thực trạng thực hiện chính sách dạy
nghề cho người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình
Dương.
Chương 3: Hoàn thiện giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dạy
nghề cho NLĐ hưởng BHTN trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG HƢỞNG
BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm đào tạo nghề
Để hiểu rõ khái niệm đào tạo nghề, ta tìm hiểu thêm khái niệm về nghề.
Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau. Có khá nhiều diễn đạt về khái niệm nghề. Có tác giả quan niệm: “Nghề” là
một hình thức phân công lao động, nó được biểu thị bằng những kiến thức lý
thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định.
Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức
lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ
tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng”[37].
Theo giáo trình Kinh tế lao động của trường ĐH KTQD thì khái niệm nghề là
một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là
toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện
các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định [21].
ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn “Vốn
nhân lực”, coi công nhân như là cái máy sản xuất. Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn
về vấn đề tinh thần và kỷ luật lao động - một yếu tố vô cùng quan trọng trong hoạt
động sản xuất công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện nay.
Phân loại đào tạo nghề: Đào tạo nghề cho người lao động là quá trình giáo
dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên
môn bao gồm cả những người đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề
có chuyên môn khác.
* Theo mức độ của truyền bá kiến thức nghề có đào tạo nghề mới, đào tạo lại
nghề và bồi dưỡng nâng cao tay nghề.
Đào tạo mới: là hình thức đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có
chuyên môn chưa có nghề. Gồm những người đến tuổi lao động chưa được học
nghề hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa học được nghề.
Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động có trình độ, tay nghề cao cho xã hội.
Vì vậy, đào tạo mới có thể thực hiện ở các cơ sở đào tạo nghề chuyên nghiệp hoặc
8
truyền nghề trong từng cơ sở sản xuất kinh doanh.
Đào tạo lại nghề: là quá trình đào tạo nghề áp dụng cho những người đã có
nghề, có chuyên môn, song vì yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến
việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn, nghề của họ không còn phù
hợp nữa, đòi hỏi phải chuyển sang nghề khác, chuyên môn khác. Đào tạo lại nhằm
tạo cho NLĐ có cơ hội học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề. Vì
vậy, đào tạo lại nghề thường được đào tạo ở các cơ sở đào tạo chuyên, những nơi có
đầy đủ phương tiện đào tạo cập nhật các kiến thức nghề mới.
Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: là quá trình bồi dưỡng, cập nhật hóa
kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các khả
năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng
thị trường định hướng XHCN. Dạy nghề gắn với các tổ chức chuyên hoạt động dạy
nghề. Truyền nghề là truyền bá kỹ năng thực hành để những người lao động hưởng
BHTN có một trình độ kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, và thành thục nhất định về
nghề nghiệp.
1.1.2 Người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp
“Thất nghiệp” trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc
làm mà không tìm được việc làm (từ Hán - Việt thất: mất mát, nghiệp: việc làm). Tỷ
lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực
lượng lao động xã hội.
Tại hội nghị Quốc tế về thống kê lao động lần thứ 13 tại Genevơ năm 1982
về Thống kê dân số hoạt động kinh tế, việc làm, thất nghiệp vừa thiếu việc làm đã
thống nhất đưa ra khái niệm về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp bao gồm toàn bộ
số người ở độ tuổi quy định trong thời gian điều tra có khả năng làm việc, không có
việc làm và đang đi tìm kiếm việc làm”.
Từ định nghĩa về thất nghiệp, ILO đã đưa ra bốn tiêu chí cơ bản để xác định
“người thất nghiệp”, đó là: trong độ tuổi lao động; có khả năng lao động đang
không có việc làm, đang đi tìm việc làm. Nhìn chung, các tiêu chí này mang tính
khái quát cao, đã được nhiều nước tán thành và được lấy làm cơ sở để vận dụng tại
Việt Nam khi đưa ra những khái niệm về người thất nghiệp. Việc đưa ra một khái
niệm hoàn chỉnh về “người thất nghiệp” là rất quan trọng, từ đây sẽ tạo một cơ sở
chung giúp cơ quan Nhà nước có những thống kê chính xác về tình trạng thất
10
nghiệp, và đề ra những chính sách khắc phục tình trạng thất nghiệp và những hậu
quả của nó phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia. Ở Việt Nam từ khi
chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thuật
ngữ “thất nghiệp” được đề cập đến trong những văn kiện quan trọng của Đảng và
Nhà nước ta (khởi đầu là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII) và chiến
hƣởng Bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1. Quan điểm của Đảng về dạy nghề cho lao động hưởng Bảo hiểm
thất nghiệp
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (năm 1991 và bổ sung, phát triển năm 2011) và nghị quyết của các kỳ đại hội,
đặc biệt Nghị Quyết số 15-NQ/TW, ngày 1-6-2012, của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI, về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã
đặt ra yêu cầu: Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và
thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng
nguồn lực trong từng thời kỳ...; đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bảo
đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn; coi bảo
đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của
cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ
thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm người dân có việc
làm, thu nhập tối thiểu; tham gia BHXH; bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu nhập thấp,
người khuyết tật nặng, người nghèo,…); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các
dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin),
có những chính sách hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm (đặc biệt là NLĐ
hưởng BHTN).
1.2.2. Chính sách của nhà nước về dạy nghề cho lao động hưởng Bảo
hiểm thất nghiệp
Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên khẳng định quyền an sinh xã hội cơ bản
cho người dân (Điều 34: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”; Điều
59: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát
triển hệ thống an sinh xã hội. Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm
1994 (sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007). BLLĐ năm 1994 mặc dù đã
12
Quyết định số 77/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/12/2014
quy định mức hỗ trợ học nghề đối với NLĐ tham gia BHTN.
Quyết định số 29/2016/QĐ-UBND ngày 19/8/2016 của UBND tỉnh Bình
Dương về chế độ, chính sách hỗ trợ đối với đơn vị, công chức, viên chức, học sinh,
sinh viên ngành giáo dục – đào tạo và dạy nghề tỉnh Bình Dương.
1.2.3. Nội dung chính sách dạy nghề cho lao động hưởng Bảo hiểm thất
nghiệp cụ thể của nhà nước ta
Ngày 16/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật việc làm trong đó có nội dung
về chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN đã tạo ra khung pháp lý kịp thời,
tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có cơ hội nâng cao tay nghề, tăng cơ hội
sớm quay lại thị trường lao động. Ngay sau khi Luật việc làm được ban hành, Chính
phủ và các Bộ, ban, ngành đã khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật
việc làm. Nội dung cơ bản của chính sách dạy nghề cho lao động hưởng BHTN
theo quy định của Luật việc làm như sau: Đối tượng hưởng hỗ trợ chính sách; điều
kiện hưởng hỗ trợ; thời gian hưởng và mức hỗ trợ dạy nghề; Quyền và trách nhiệm
của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ
hưởng BHTN:
Đối tượng được hỗ trợ: Người lao động đang đóng BHTN bị chấm dứt hợp
đồng lao động, đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc
làm và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ;
Điều kiện hỗ trợ: Người lao động đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên
trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm
việc theo quy định của pháp luật; hoặc đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời
gian 36 tháng trước khi chấm dứt Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một
công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12tháng.
Thời gian hỗ trợ: Thời gian học nghề theo thời gian học nghề thực tế nhưng
thời gian hỗ trợ không quá 06 tháng.
nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn. Có chính sách dạy nghề cho
NLĐ hưởng BHTN đúng nhưng nếu chính sách đó không được đưa vào thực hiện
15
có hiệu quả cũng sẽ trở thành vô nghĩa, trở thành khẩu hiệu suông, không những
không có ý nghĩa, không có giá trị mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, chủ
thể ban hành chính sách. Nếu chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN không
được thực hiện đúng sẽ ảnh hưởng đến an sinh xã hội, dẫn đến thiếu niềm tin, phản
ứng tiêu cực của người dân đối vối nhà nước. Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt
chính trị và xã hội, gây khó khăn bất ổn cho Nhà nước trong công tác quản lý. Qua
tổ chức thực hiện chính sách dạy nghề cho lao động hưởng BHTN mới biết được
chính sách có đúng hay không đúng, phù hợp hay không phù hợp, chính sách có đi
vào cuộc sống hay không đi vào cuộc sống. Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch
định, xây dựng chính sách chưa phát sinh ra, hoặc đã phát sinh ra nhưng các nhà
hoạch định, xây dựng chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN nhận thấy, đến
giai đoạn tổ chức thực hiện chính sách mới phát hiện ra. Chính quá trình tổ chức
thực hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN với những hoạt động thực
tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực
tiễn đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Đồng thời việc phân tích đánh giá chính sách
dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, có sức
thuyết phục sau khi thực hiện chính sách BHTN. Thực tiễn là chân lý, kết quả thực
hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN sẽ là thước đo, là cơ sở đánh giá
một cách chính xác và khách quan chất lượng, hiệu quả của chính sách dạy nghề
cho NLĐ hưởng BHTN. Như vậy, tổ chức thực hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ
hưởng BHTN là yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu khách quan, là yếu tố quyết định thành
công hay không thành công của chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN.
1.4. Nội dung các bƣớc trong tổ chức thực hiện chính sách dạy nghề cho
ngƣời lao động hƣởng Bảo hiểm thất nghiệp
- Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực: Dự kiến về cơ sở vật chất, trang thiết
bị kỹ thuật phục vụ tổ chức thực hiện chính sách, các nguồn lực tài chính, vật tư văn
phòng phẩm…
- Kế hoạch, thời gian triển khai thực hiện: Dự kiến thời gian duy trì chính
sách, dự kiến thời gian thực hiện các bước tổ chức triển khai thực hiện chính sách từ
tuyên truyền, phổ biến chính sách đến tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm thực hiện
chính sách. Mỗi bước phải nêu rõ mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho
việc thực hiện mục tiêu.
17
- Kế hoạch đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách: Dự kiến về tiến
độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện chính sách. Ngoài
ra trong dự thảo kế hoạch triển khai thực hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng
BHTN cần quy định nội dung, quy chế về tổ chức điều hành, về trách nhiệm, nhiệm
vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức tham gia tổ chức
thực hiện chính sách, về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong
tổ chức thực hiện chính sách.
Dự thảo kế hoạch triển khai thực hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng
BHTN ở cấp nào do lãnh đạo ở cấp đó xem xét thông qua. Sau khi các cấp có thẩm
quyền quyết định thông qua kế hoạch triển khai thực hiện chính sách dạy nghề cho
NLĐ hưởng BHTN có giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện. Kế
hoạch triển khai thực hiện chính sách sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN có thể
được xem xét điều chỉnh nếu kế hoạch đó không phù hợp với tình hình thực tế; việc
điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định.
1.4.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách dạy nghề cho người lao động
hưởng Bảo hiểm thất nghiệp
Phổ biến, tuyên truyền chính sách là bước thứ hai trong quy trình tổ chức
thực hiện chính sách dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN, nhưng là bước quan trọng