VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH SANG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH SANG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành
: Chính sách công
Mã số
:
kiến đóng góp quý báu của Quý thầy, cô và các bạn học viên để luận văn có
giá trị thực tiễn hơn.
Trân trọng cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn “Thực hiện Chính sách dạy nghề cho lao
động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Bình Dương” này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và xuất
phát từ thực tiễn công tác, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Đỗ Phú Hải.
Các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực,
chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và
công nhận bởi Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Chính sách
công.
Một lần nữa tôi xin khẳng định sự trung thực của lời cam kết trên.
Tác giả
Nguyễn Thành Sang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
Chương 1. LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DẠY NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ......................................................................................... 7
1.1. Khái niệm chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn ................................ 7
1.2. Nội dung chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay ................... 8
1.3. Tổ chức thực hiện chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn .................. 20
AFTA
: ASEAN Free Trade Area
(Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN)
ASEAN
: Association of Southeast Asian Nations
( Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á)
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GQVL
: Giải quyết việc làm
HĐND
: Hội đồng nhân dân
ILO
: International Labour Organization
(Tổ chức Lao động quốc tế)
KCN
UBND
: Ủy ban nhân dân
WTO
: World Trade Organization
(Tổ chức Thương mại thế giới)
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
XKLĐ
: Xuất khẩu lao động
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội của đất nước. Đảng và
nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước mà trước hết là
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, nền kinh tế nói chung và sản xuất
nông nghiệp của Việt Nam nói riêng đang phải đương đầu với một cuộc cạnh tranh
quyết liệt, trong đó có nhiều cơ hội để phát triển nhưng những thách thức mà Việt
Nam phải đối mặt cũng không nhỏ. Chất lượng của nguồn nhân lực vốn được xem
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó thì công tác đào tạo nghề của
tỉnh cũng gặp phải những khó khăn, hạn chế như là: Việc triển khai công tác đào tạo
nghề vẫn còn chậm, đạt kết quả thấp; Ban chỉ đạo cấp huyện, thị xã, thành phố vẫn
chưa thống kê được số người học xong có việc làm, đã thoát nghèo, số hộ gia đình
đã trở thành hộ khá; Đa số cán bộ phụ trách công tác dạy nghề của huyện, thị xã,
thành phố còn kiêm nhiệm nhiều việc nên chưa đáp ứng tốt việc thực hiện đầy đủ
các yêu cầu của Đề án đào tạo nghề; Mô hình ký cam kết với các doanh nghiệp trên
địa bàn tham gia giải quyết việc làm hoặc bao tiêu sản phẩm cho học viên tốt
nghiệp sau đào tạo trước khi mở lớp chưa thực hiện được.
Do vậy, để công tác đào tạo nghề của tỉnh ngày càng phát triển, đáp ứng
được nhu cầu của thời kỳ CNH, HĐH cần được các cấp, các ngành và toàn thể các
tập thể, cá nhân trong và ngoài tỉnh hưởng ứng, đầu tư triển khai trong những giai
đoạn tiếp theo.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài
“Thực hiện Chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Bình
Dương” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Chính sách công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Kể từ khi đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 (Đề án
1956) của Chính phủ được ban hành, đào tạo nghề cho lao động nông thôn đang
nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương. Chính vì vậy trong
2
thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết liên quan đến chính
sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Cụ thể như sau:
- Bài viết “Những vẫn đề đặt ra trong công tác đào tạo nghề hiện nay” của
tác giả Doãn Huy và “Nan giải công tác đào tạo nghề cho lao động nông
thôn” của Thắng Trung – Tạp chí Cộng sản cung cấp cho người đọc những vấn đề
còn tồn tại trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay. Điều này,
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về chính sách đào
tạo nghề cho lao động nông thôn và những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách đào
tạo nghề cho lao động nông thôn, sau đó phân tích thực trạng chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn tại Bình Dương,. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải
pháp tăng cường thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở nước
ta và tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn
- Vận dụng lý luận về thực hiện chính sách công để nghiên cứu thực hiện
chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Bình Dương:
+ Nghiên cứu đưa ra giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đổi mới việc xây dựng và thực hiện, đánh giá
chính sách chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn phù hợp với điều kiện
thực tế tại địa phương nhằm nâng cao hiệu quả chính sách đào tạo nghề cho lao
động nông thôn tại tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu:
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, cụ thể là nghiên
cứu về lý luận và thực tiễn thực hiện giải pháp và công cụ chính sách chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu tại tỉnh Bình Dương nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2011-2015 và đề ra giải pháp hoàn
4
5
bàn tỉnh Bình Dương.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận:
- Luận văn có ý nghĩa về mặt lý luận, nghiên cứu và vận dụng các lý thuyết
về chính sách công nói chung và chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
nói riêng.
- Kết quả nghiên cứu của việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao
động nông thôn đã làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết liên quan đến chính
sách công, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực
hiện chính sách.
Về mặt thực tiễn:
- Luận văn đã nêu lên những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận
dụng các lý thuyết về chính sách công để phân tích, đánh giá và xem xét thực
trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn thực tế tại tỉnh
Bình Dương để từ đó nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của chính sách
trong những năm tiếp theo.
- Luận văn cũng là một cơ sở khoa học có ý nghĩa thiết thực cho các cơ
quan, ban ngành tỉnh trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách một cách
hiệu quả trong công cuộc phát triển KT-XH ở địa phương và luận văn cũng là một
tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo, cụ thể:
- Chương 1: Lý luận về thực hiện chính sách dạy nghề cho lao động nông
thôn.
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn tại
Bình Dương.
với công cụ thực hiện nhằm giải quyết vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà
còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách.
Dạy nghề: là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái
độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự
tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học.
7
Như vậy, chính sách dạy nghề là sự vận dụng chính sách công vào vấn đề
dạy nghề, do đó, có thể hiểu chính sách dạy nghề là một tập hợp các quyết định có
liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công
cụ thực hiện giải quyết các vấn đề dạy nghề cho NLĐ nông thôn để phát triển kinh
tế - xã hội địa phương.
1.1.3. Khái niệm chính sách dạy nghề đối với lao động nông thôn
Chính sách dạy nghề đối với lao động nông thôn là chính sách dạy nghề đối
với lao động nông thôn áp dụng đối với một đối tượng người lao động cụ thể, đó là
những người lao động ở nông thôn, tức là: “Chính sách dạy nghề đối với lao động
nông thôn là chính sách công, là một tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà
nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải
quyết các vấn đề dạy nghề đối với lao động nông thôn, nhằm đáp ứng những nhu
cầu sống và sự phát triển toàn diện của NLĐ lao động nông thôn, nhằm truyền đạt
kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành cho người học nghề là lao động nông
thôn, để người học có được trình độ, kỹ năng, kỹ xảo và đạt được những tiêu chuẩn
nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề đáp ứng yêu cầu việc làm của thị trường
lao động, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Theo nghĩa đầy đủ hơn, chính sách dạy nghề đối với lao động nông thôn là
hệ thống các quan điểm, chủ trương, phương hướng, các mục tiêu, các giải pháp
và công cụ thực hiện để dạy nghề đối với lao động nông thôn và bảo đảm việc làm
cho lao động nông thôn, kỹ năng làm việc có khả năng lao động và có nhu cầu việc
cho lao động nông thôn hiện nay đúng nhưng nếu chính sách đó không được vào
thực hiện có hiệu quả cũng sẽ trở thành vô nghĩa, trở thành khẩu hiệu suông, không
những không có ý nghĩa, không có giá trị mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Nhà
nước, chủ thể ban hành chính sách. Nếu chính sách dạy nghề cho lao động nông
thôn hiện nay không được thực hiện đúng sẽ ảnh hưởng đến an sinh xã hội, dẫn đến
thiếu niềm tin, phản ứng tiêu cực của người dân đối vối nhà nước. Điều này hoàn
toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây khó khăn bất ổn cho Nhà nước trong
công tác quản lý. Qua tổ chức thực hiện chính sách dạy nghề cho lao động nông
thôn hiện nay mới biết được chính sách có đúng hay không đúng, phù hợp hay
không phù hợp, chính sách có đi vào cuộc sống hay không đi vào cuộc sống. Có
những vấn đề trong giai đoạn hoạch định, xây dựng chính sách chưa phát sinh ra,
9
hoặc đã phát sinh ra nhưng các nhà hoạch định, xây dựng chính sách dạy nghề cho
lao động nông thôn hiện nay nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực hiện chính sách
mới phát hiện ra. Chính quá trình tổ chức thực hiện chính sách dạy nghề cho lao
động nông thôn hiện nay với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ
sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn đáp ứng yêu cầu của cuộc
sống. Đồng thời việc phân tích đánh giá chính sách dạy nghề cho lao động nông
thôn hiện nay (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, có sức thuyết phục sau khi thực
hiện chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay . Thực tiễn là chân lý,
kết quả thực hiện chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay sẽ là thước
đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác và khách quan chất lượng, hiệu quả của
chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay. Như vậy, tổ chức thực hiện
chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay là yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu
khách quan, là yếu tố quyết định thành công hay không thành công của chính sách
dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay .
Vấn đề chính sách
bình quân tại địa phương (trở thành hộ khá), chiếm 4,5% tổng số LĐNT tham gia
học nghề.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta đang gặp phải những vấn đề
nổi cộm đó là chính sách cho dạy nghề lao động nông thôn hiện nay vẫn còn có
nhiều bất cập, chính sách có lúc chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh
tế.Có thể nhìn nhận và thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Nổi bật là tình trạng đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu dẫn đến việc không
ít LĐNT tham gia học nghề nhưng không thể áp dụng thực tiễn hoặc không thể tồn
tại lâu bền với nghề. Một số nghề phi nông nghiệp vẫn đào tạo theo hình thức,
người lao động sau đào tạo khó có việc làm do yếu về tay nghề và thiếu về kinh
nghiệm. Phần lớn lao động sau học nghề mới chỉ sản xuất được những mặt hàng
đơn giản, chưa thể sản xuất được những mẫu mã chất lượng cao. Nếu không được
doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm thì không thể tự tạo việc làm.Ví dụ như: Đơn cử
như nghề thêu tranh nghệ thuật dễ học, dễ áp dụng nhưng để phát triển lâu dài và
tạo công ăn việc làm ổn định thì thời gian 3 tháng học nghề là quá ít. Một số nghề
nông nghiệp như: trồng rau an toàn, nuôi trồng thủy sản… hướng dẫn người nông
dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất trên nền tảng kinh nghiệm sẵn có, tuy
11
nhiên để phát huy hiệu quả kinh tế đòi hỏi một sự đầu tư lớn, trong khi mức vay hỗ
trợ ưu đãi thấp. Điều này khiến không ít hộ nông dân sau khi học nghề đành phải bỏ
ngang hoặc làm không tới nơi tới chốn vì khó khăn về vốn và kỹ thuật.
Một là, một số địa phương trong quá trình tư vấn học nghề, chọn nghề, điều
tra, khảo sát nhu cầu học nghề chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu của LĐNT; chưa
gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động; việc định hướng nghề nghiệp và giải
quyết việc làm khi kết thúc khoá học cho LĐNT học nghề chưa được quan tâm thoả
đáng. Số người có việc làm sau đào tạo đều phần lớn là do họ tự tạo nên. Trên địa
bàn các xã, phường, thị trấn vốn đã ít cơ sở dạy nghề, ít doanh nghiệp, trong khi đó
chương trình lại chưa được bổ sung tương ứng với các đối tượng bổ sung nên gây
khó khăn cho LĐNT muốn vay vốn.
Trong xác định đối tượng, đề án cũng đưa ra: LĐNT thuộc diện hộ có thu
nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo sẽ được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn
hạn. Tuy nhiên, ngày 30/1/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
09/2011/QĐ-TTg quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn
2011-2015 (trong đó hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bằng 130% mức thu nhập
hộ nghèo); điều này dẫn đến các xã lúng túng trong xác định rõ đối tượng nào thuộc
diện hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn. Nhiều xã cũng băn khoăn về việc: Một số
đối tượng hưởng phụ cấp (không hưởng lương) như: Trưởng thôn, phó bí thư Đoàn
xã, Công an viên đang làm nông nghiệp liệu có được xếp vào LĐNT không. Thêm
vào đó, mức hỗ trợ tiền ăn cho các đối tượng thuộc hộ nghèo, người có công với
cách mạng, người tàn tật, dân tộc thiểu số, người bị thu hồi đất canh tác. Theo
Quyết định số 1956 là 15.000 đồng/ngày hiện không còn phù hợp với tình hình giá
cả tăng cao hiện nay.
Năm là, số lượng giáo viên được đào tạo kỹ năng dạy nghề còn thấp, việc
xây dựng giáo án, bài giảng, tổ chức thi kiểm tra, xét cấp chứng chỉ nghề cho học
viên còn chưa có nhiều kinh nghiệm. Chương trình, giáo trình dạy nghề còn nhiều
bất cập, đội ngũ giáo viên nhìn chung còn thiếu và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ
sư phạm. Chất lượng cán bộ quản lý theo dõi công tác dạy nghề chưa cao vì phải
kiêm nhiệm công việc khác. Một số trung tâm dạy nghề cấp huyện chưa được đầu
13
tư về cơ sở vật chất, chưa có trụ sở riêng phải thuê hoặc ở chung với các đơn vị
khác, diện tích chật hẹp, không đảm bảo yêu cầu dạy và học.
Thực trạng nói trên của vấn đề chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn
hiện nay, có nhiều nguyên nhân, song có một số nguyên nhân chính sau đây:
1.2.2. Mục tiêu của chính sách cho dạy nghề cho lao động nông thôn hiện
năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956). Trong Quyết định này đã thể hiện rõ quan điểm
của Đảng. Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã nêu, Đề án đã đề ra đồng bộ 5
nhóm giải pháp, gồm (1) Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội, của
cán bộ, công chức xã và lao động nông thôn về vai trò của đào tạo nghề đối với tạo
việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn; (2) Phát
triển mạng lưới cơ sở đào tạo nghề; (3) Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và
cán bộ quản lý; (4) Phát triển chương trình, giáo trình, học liệu; (5) Tăng cường
hoạt động kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện Đề án.
Đề án cũng đã đề ra 8 nhóm hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn, bao
gồm: (1) Tuyên truyển, tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông thôn;
(2) Điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn; (3) Thí
điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn; (4) Tăng cường cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy nghề đối với các cơ sở dạy nghề công lập; (5) Phát triển chương
trình, giáo trình, học liệu và xây dựng danh mục thiết bị dạy nghề; (6) Phát triển đội
ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề; (7) Hỗ trợ lao động nông thôn học nghề;
(8) Giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Đề án.
Đồng thời với Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”,
ngày 4-6-2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt
“Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20102020”. Theo đó, sẽ có 11 nhóm nội dung phải triển khai thực hiện từ nay đến năm
2020, trong đó có nội dung “đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc
đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ
cấu lao động nông thôn”.
Chính vì vậy một số giải pháp, công cụ chính sách dạy nghề cho lao động
nông thôn trong giai đoạn hiện nay như sau:
15
Một là, giải pháp tuyên truyền chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn.
- Phối hợp với Hiệp Hội làng nghề Việt Nam xây dựng đề án dạy nghề như:
dạy nghề và tổ chức việc làm gắn với phát triển làng nghề mới; dạy nghề với kết
hợp vùng nguyên liệu, tổ chức việc làm và bao tiêu sản phẩm; dạy nghề gắn với duy
trì, phát triển làng nghề truyền thống.
- Phối hợp với một số tập đoàn, tổng công ty, khu công nghiệp, CSSX kinh
doanh và một số trường đào tạo về lĩnh vực công nghiệp chế biến, dịch vụ...để triển
khai đặt hàng dạy nghề cho người lao động chuyển sang làm công nghiệp, dịch vụ ở
nông thôn hoặc làm việc trong các KCN - KCX và các doanh nghiệp của địa
phương.
Việc tổ chức dạy nghề thực hiện theo cơ chế cộng đồng trách nhiệm giữa các
bên có liên quan: cơ quan quản lý nhà nước cấp kinh phí đào tạo từ nguồn kinh phí
đào tạo nghề cho người lao động được phân bổ, doanh nghiệp nhận học viên vào
thực tập, tham gia xây dựng chương trình và đánh giá kết quả đào tạo, tiếp nhận lao
động sau khi đào tạo vào làm vào làm việc, CSDN tổ chức đào tạo theo nhu cầu sử
dụng.
Ba là, phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề, đa dạng hoá các hoạt động
dạy nghề
- Phát triển, mở rộng mạng lưới CSDN cả về quy mô và chất lượng đào tạo.
Củng cố, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các CSDN hiện có.
- Khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và các cá
nhân đầu tư thành lập CSDN. Khuyến khích các cơ sở giáo dục đào tạo, trung tâm
khuyến nông, khuyến công, đủ điều kiện tham gia dạy nghề, cụ thể cần tiến hành.
- Hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới CSDN của hệ thống
khuyến nông cả nước đến năm 2020 trên cơ sở căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát
triển mạng lưới CSDN cả nước. Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác giữa Hệ
thống khuyến nông với các trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp chuyên
nghiệp, các viện nghiên cứu và các cơ sở giáo dục khác tham gia liên kết trong việc
tổ chức dạy nghề nông nghiệp. Đa dạng hoá hoạt động dạy nghề và học: đa dạng
hoá phương thức đào tạo, liên kết với các trường CĐN, TCN để dạy nghề chính quy
xây dựng chương trình cho từng trình độ đào tạo từ SCN đến CĐN đảm bảo các
mục tiêu dạy nghề theo từng cấp trình độ và tính liên thông giữa các trình độ cho
từng nghề, đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp.
18
Xây dựng cơ chế chính sách và tham mưu cho Bộ Lao động thương binh và
Xã hội, Bộ NN&PTNT về việc huy động các nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư,
người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và CSSX kinh doanh, các
trung tâm khuyến nông-lâm-ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia xây dựng chương
trình, giáo trình, học liệu dạy nghề cho người lao động.
Năm là, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên là lực lượng quan trọng đóng góp vào thành công của
công tác dạy nghề, đặc biệt là nghề nông nghiệp, vì vậy cần có những giải pháp
nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ kỹ thuật, trình độ sư phạm của người làm công
tác dạy nghề nói chung và nghề nông nghiệp nói riêng, cụ thể: Xây dựng và thực
hiện quy hoạch đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý (CBQL) dạy nghề, bảo đảm đủ
về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển dạy nghề,
Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức giáo viên dạy
nghề; tiêu chuẩn hiệu trưởng trường CĐN; hiệu trưởng trường TCN, giám đốc
TTDN; tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức quản lý dạy nghề; Đổi mới nội
dung chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và CBQL dạy
nghề. Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hành nghề và nghiệp
vụ sư phạm của giáo viên; tầm nhìn chiến lược, năng lực sáng tạo, tính chuyên
nghiệp của CBQL dạy nghề. Đào tạo giáo viên dạy nghề ở nước ngoài đối với
những ngành nghề đào tạo mới, có công nghệ, kỹ thuật hiện đại; Đổi mới phương
thức và đa dạng hoá đối tượng tuyển dụng giáo viên dạy nghề theo hướng khách
quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh. Mở rộng việc tuyển chọn những người đã
đạt chuẩn trình độ đào tạo và chuyên môn (tốt nghiệp các trường CĐ,ĐH chuyên