ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ HẢO
ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN VỚI CÔNG TÁC
DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ HẢO
ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN VỚI CÔNG TÁC
DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
Chuyên ngành Lịch Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 602256
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Danh Tiên
2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với công
tác dạy nghề cho lao động nông thôn .................................................................. 31
2.1.1 Quan điểm của Đảng về vấn đề dạy nghề cho lao động ở nông thôn ............. 31
1
2.2.2 Chủ trương của Đảng bộ Hưng Yên về công tác dạy nghề cho lao động
nông thôn ............................................................................................................. 37
2.2 Đảng bộ Hưng Yên chỉ đạo phát triển công tác dạy nghề cho lao động nông
thôn ......................................................................................................................... 42
2.2.1 Quá trình Đảng bộ Hưng Yên chỉ đạo công tác dạy nghề cho lao động nông
thôn ...................................................................................................................... 42
2.2.2 Kết quả công tác dạy nghề cho lao động ở nông thôn ............................... 53
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ...................................... 66
3.1 Nhận xét ........................................................................................................... 66
3.1.1 Thành tựu .................................................................................................... 66
3.1.2 Hạn chế ....................................................................................................... 74
3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu .......................................................................... 76
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 83
PHỤ LỤC
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dạy nghề cho lao động nông thôn vừa là khâu cơ bản, vừa là khâu đột phá, góp
phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, từng
bƣớc nâng cao trình độ đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao. Nhận
hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới, các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Hƣng
Yên rất chú trọng công tác dạy nghề cho ngƣời lao động. Trong đó, đặc biệt quan tâm
đến chất lƣợng dạy nghề cho lao động nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua dạy nghề còn thấp, mạng lƣới
cơ sở dạy nghề phát triển không đồng đều, quy mô dạy nghề nhỏ, chất lƣợng dạy nghề
chƣa cao, chƣa bổ sung kịp thời các nghề mới theo yêu cầu của thị trƣờng lao động.
Vì vậy, dạy nghề nói chung, dạy nghề cho lao động nông thôn của tỉnh Hƣng Yên nói
riêng đã và đang đặt ra một cách cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Hƣng
Yên với công tác dạy nghề cho lao động ở nông thôn từ năm 2001 đến năm 2011”
làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Dạy nghề cho lao động nông thôn là vấn đề đang đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và các
cấp, các ngành, các địa phƣơng quan tâm. Vấn đề này cũng đƣợc nhiều nhà khoa học
nghiên cứu, tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau:
Những công trình, đề tài khoa học nghiên cứu về lý luận chung của công tác dạy
nghề:
Đỗ Minh Cƣơng, Mạc Văn Tiến (1995), Phát triển lao kỹ thuật ở Việt Nam –
Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Thông kê, Hà Nội. Nội dung cuốn sách đi sâu
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển lao động kỹ thuật ở nƣớc ta. Tổng cục
Dạy nghề (2000), Một số luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược dạy nghề giai
đoạn 2001 -2010, Đề tài cấp Bộ, mã số CB-19-2000 – . Đề tài nghiên cứu cơ sở lý
luận về dạy nghề, đi sâu khảo sát kết quả dạy nghề ở nƣớc ta, đề ra chiến lƣợc dạy
nghề 2001 -2010. Phan Chính Thức, Những giải pháp phát triển dạy nghề góp phần
đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến
sỹ, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2003. Luận án đi sâu nghiên cứu, đề xuất những khái
niệm, cơ sở lý luận mới về dạy nghề, về lịch sử dạy nghề và giải pháp phát triển dạy
nghề, góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
4
quốc gia Hồ Chí Minh, đề tài nghiên cứu phƣơng thức quản lý giáo dục nghề nghiệp
5
(trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề), trong đó đi sâu vào vấn đề quản lý giáo dục.
Nguyễn Đức Tĩnh (2001), Hoàn thiện quản lý nhà nước về dạy nghề ở nước ta hiện
nay, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn
nghiên cứu một cách khái quát hệ thống cơ sở lý luận, thực tiễn và một số giải pháp
hoàn thiện phƣơng thức quản lý nhà nƣớc về dạy nghề ở nƣớc ta. Tổng Cục dạy nghề,
Nghiên cứu đánh giá hệ thống các cơ sở dạy nghề, kiến nghị biện pháp nhằm nâng
cao hiệu lực quản lý nhà nước về công tác dạy nghề, Đề tài cấp Bộ, mã số CVCB1998-05-05, năm 1998. Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng hệ thống các cơ sở dạy
nghề của nƣớc ta, kiến nghị biện pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nƣớc về công tác
dạy nghề. Lƣu Đình Mạc, Một số kiến nghị về kiểu cách đầu tư cho các loại hình đào
tạo, loại hình trường theo cơ cấu hệ thống giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề mới, Đề tài cấp Bộ, mã số 52.VNN.02.06, Viện nghiên cứu giáo dục đại
học và giáo dục chuyên nghiệp, năm 1990. Phạm Văn Quyết, Một số kiến nghị và
phương pháp xây dựng định mức chi phí thường xuyên trong đào tạo một học sinh đại
học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, Đề tài cấp Bộ, mã số 52.VN.04.01, Viện
nghiên cứu giáo dục đại học và giáo dục chuyên nghiệp, năm 1989. Đề tài nghiên cứu,
đƣa ra các định mức chi phí thƣờng xuyên cho dạy nghề cho một học sinh.
Các công trình, đề tài trên đã đề cập đến một số lĩnh vực về dạy nghề nhƣ: Đổi
mới, sắp xếp hệ thống các cơ sở dạy nghề; nội dung, hình thức đào tạo, bồi dƣỡng
nghề nghiệp, giải pháp nâng cao chất lƣợng dạy nghề; quản lý về dạy nghề. Tuy
nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nào làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng đối với
công tác dạy nghề cho lao động nông thôn.
Vì vậy, đề tài: “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên với công tác dạy nghề cho lao động ở nông
thôn từ năm 2001 đến năm 2011” là một đề tài mới, chuyên biệt, chƣa đƣợc nghiên cứu
một cách có hệ thống, độc lập. Trong quá trình thực hiện đề tài, với việc kế thừa có chọn
lọc những thành tựu nghiên cứu đã đạt đƣợc của các công trình nghiên cứu về dạy nghề,
chúng tôi chú trọng tham khảo, kết hợp khảo sát những vấn đề mới nảy sinh trong thực
Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên về công tác dạy nghề cho lao
động nông thôn. Trên cơ sở những kết quả đạt đƣợc trong công tác dạy nghề cho lao
động nông thôn, bƣớc đầu đƣa ra những nhận xét về chủ trƣơng và sự chỉ đạo của
Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên về công tác dạy nghề cho lao động ở nông thôn.
Về mặt thời gian: Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên
trong công tác dạy nghề cho lao động nông thôn từ năm 2001 đến năm 2011.
7
Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu vấn đề trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên.
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu của luận văn
Cơ sở lý luận: Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc ta qua các
thời kỳ, gắn với những lý thuyết của kinh tế học hiện đại có liên quan đến vấn đề dạy
nghề, nhất là dạy nghề cho lao động nông thôn; chủ trƣơng, chính sách của Tỉnh ủy,
HĐND, UBND tỉnh Hƣng Yên về dạy nghề cho lao động nông thôn.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phƣơng pháp lịch sử và
logic. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp: Tổng hợp, thống kê, so sánh,
đồng đại, lịch đại, chuyên gia, điền dã, khảo sát thực tế…
- Nguồn tư liệu:
Luận văn chủ yếu dựa vào Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X,
XI của Đảng; các nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên lần thứ XIV, XV, XVI;
số liệu thống kê của của Sở Lao động – Thƣơng binh và Xã hội về lao động và hệ
thống dạy nghề nói chung, dạy nghề cho lao động nông thôn nói riêng; các Nghị
quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nƣớc; các công trình nghiên cứu khoa học; các sách,
báo, tạp chí.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa quan điểm, đƣờng lối của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hƣng
Yên về dạy nghề cho lao động nông thôn
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác dạy nghề và những thành tựu, hạn chế
và bƣớc đầu nêu một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh trong việc lãnh đạo công tác
đào tạo ban đầu và đào tạo lại; đào tạo tập trung và đào tạo tại chức, đào tạo từ xa; đào
tạo qua trƣờng lớp và tự đào tạo…Nhƣ vậy, dạy nghề là một trong các dạng đào tạo
nâng cao chất lƣợng nguồn lao động.
Dạy nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, không thể tách rời
nhau. Đó là: dạy nghề và học nghề. Vì vậy, trong trƣờng hợp dạy nghề và dạy nghề
đƣợc đồng nhất với nhau trong diễn đạt của các văn bản.
Dạy nghề, theo Luật Giáo dục (sửa đổi) năm 2005: “Dạy nghề là một cấp học
trong giáo dục nghề nghiệp và đƣợc thực hiện dƣới một năm đối với dạy nghề trình độ
sơ cấp, từ một đến ba năm đối với dạy nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng”;
Luật Dạy nghề năm 2006 xác định: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị
kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm
đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”.
Để hiểu rõ hơn khái niệm dạy nghề, cũng cần hiểu thêm về khái niệm nghề. Cho
đến nay thuật ngữ “nghề” đƣợc hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Các nhà khoa học ở Nga đƣa ra khái niệm: “Nghề là một loại hoạt động lao động
đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thƣờng là nguồn gốc của sự sinh tồn”[19, tr 9]. Ở
Pháp, khái niệm nghề đƣợc hiểu rõ, đó “là một loại lao động có thói quen về kỹ năng,
kỹ xảo của một ngƣời để từ đó tìm đƣợc phƣơng tiện sống”[19, tr 9]. Ở Anh, khái
niệm nghề đƣợc quan niệm cao hơn khi cho rằng, nghề “ là công việc chuyên môn đòi
hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật” [19, tr 9]. Trong khi đó, ngƣời Đức lại
quan niệm, “nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định
đòi hỏi phải đƣợc đào tạo ở trình độ nào đó”[19, tr 9].
Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa “nghề” đƣợc đƣa ra song chƣa đƣợc thống nhất.
Nghề đƣợc quan niệm “là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy
định mà giá trị của nó trao đổi đƣợc. Nghề mang tính tƣơng đối, nó phát sinh, phát
triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội”[15, tr 15]. Quan
niệm cho rằng, những chuyên môn có đặc điểm chung, gần giống nhau đƣợc xếp
thành một nhóm chuyên môn và đƣợc gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm
lao động nông thôn còn mang tính tự phát và chƣa đồng bộ, trình độ học vấn thấp,
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ yếu, có nơi gần nhƣ không có hoặc có rất ít lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật... Bên cạnh đó, việc học nghề còn chƣa thực sự gắn
với thị trƣờng sử dụng lao động. Do đó, việc dạy nghề cho lao động nông thôn là vấn
11
đề quan trọng, đòi hỏi phải có chính sách, biện pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội của từng địa phƣơng.
Dạy nghề cho lao động ở nông thôn hƣớng nhằm nâng cao chất lƣợng lao động
trong tất cả các ngành nghề nhƣng trọng tâm là phát triển các ngành nông nghiệp và
phi nông nghiệp phục vụ quá trình thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn.
Dạy nghề cho lao động nông thôn không chỉ tạo ra cơ hội cho lao động nông
thôn, nâng cao trình độ tay nghề mà còn góp phần hỗ trợ cả về vật chất lẫn tạo cơ hội
cho các đối tƣợng thụ hƣởng chính sách (ngƣời học nghề, ngƣời dạy nghề, cơ sở dạy
nghề và mạng lƣới trung gian làm cầu nối lao động - thị trƣờng lao động).
1.1.3. Nội dung dạy nghề cho lao động ở nông thôn
Nội dung dạy nghề cho lao động nông thôn là những yêu cầu đặt ra để mang lại
cho ngƣời học có đƣợc những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết. Nó
bao gồm đào tạo tay nghề và những kiến thức tổng hợp. Vì vậy, dạy nghề theo nghĩa
rộng bao hàm cả đào tạo văn hóa (làm nền tảng cho dạy nghề); dạy nghề nghiệp (nội
dung chính là đào tạo chuyên môn theo từng nghề nghiệp của ngƣời lao động, hoạt
động chính của ngƣời lao động ở chuyên môn này); đào tạo kiến thức về kinh tế thị
trƣờng, pháp luật, tổ chức cuộc sống...Tuy nhiên, dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp,
dạy nghề cho lao động nông thôn cũng bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất là, việc xây dựng hệ thống mạng lưới dạy nghề, những chủ thể của quá
trình dạy nghề cho lao động nông thôn
Hệ thống dạy nghề ở mỗi quốc gia, mỗi vùng, địa phƣơng và các cơ sở sản xuất
Thứ ba là, xây dựng các chương trình dạy nghề
Đây chính là cơ sở để các cơ sở day nghề thực hiện các hoạt động dạy nghề. Các
chƣơng trình phải rất cụ thể theo từng nghề và nhóm nghề. Các chƣơng trình hƣớng
đến hai mục tiêu là trang bị cho ngƣời học những kiến thức cơ bản và rèn luyện kỹ
năng nghề một cách cụ thể. Để xây dựng đƣợc chƣơng trình dạy nghề, các cơ sở dạy
nghề phải xác định đƣợc hệ thống ngành nghề cơ sở sẽ tham gia đào tạo. Cơ sở xác
định hệ thống ngành nghề là phạm vi sản phẩm của các cơ sở dạy nghề sẽ cung ứng.
Thứ tư là, phát triển đội ngũ cán bộ dạy nghề:
Đội ngũ cán bộ dạy nghề bao gồm cán bộ quản lý ở cơ sở dạy nghề và đội ngũ
giáo viên dạy nghề. Đội ngũ giáo viên dạy nghề, trực tiếp truyền đạt các kiến thức cơ
bản về nghề, đồng thời, cũng là những ngƣời hƣớng dẫn nghề và rèn luyện tay nghề.
13
Vì vậy, đội ngũ giáo viên dạy nghề phải là những ngƣời vừa nắm vững lý thuyết vừa
giỏi thực hành.
Thứ năm là, xác định nhu cầu dạy nghề trong từng vùng, từng cơ sở đào tạo trên
địa bàn tỉnh
Nhu cầu dạy nghề là cơ sở quan trọng để hệ thống dạy nghề chuẩn bị các điều
kiện dạy nghề nhƣ xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo, chuẩn bị các điều kiện vật chất,
đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tƣơng ứng.
Tuy nhiên, khi đến nhu cầu dạy nghề, cần xem xét tới đối tƣợng của hoạt động
dạy nghề, những ngƣời học nghề với nhu cầu học nghề thực sự của họ và các điều
kiện của chính họ để có thể tham gia vào quá trình dạy nghề. Nông dân là những
ngƣời có điều kiện sống khó khăn nên kinh phí học nghề dƣới dạng học phí thƣờng sử
dụng ngân sách Nhà nƣớc hoặc qua các chƣơng trình hỗ trợ. Thậm chí, một số đối
tƣợng nhƣ ngƣời nghèo, các đối tƣợng chính sách khác còn phải hỗ trợ kinh phí cho
ngƣời học mới thì mới tổ chức đƣợc dạy nghề. Vì vậy, xã hội hóa dạy nghề nhằm
giảm bớt gánh nặng về kinh phí mới hy vọng nâng cao trình độ nghề cho lao động ở
nông thôn - khu vực có số lƣợng ngƣời cần dạy nghề rất lớn.
ngành nông nghiệp (bằng 15,5% tổng số các trƣờng, đào tạo 9.050 học sinh hệ chính
quy (bằng 9% tổng số học sinh đƣợc đào tạo)”[78, tr 185]. “Đội ngũ giáo viên dạy
nghề có xu hƣớng giảm, năm 1986 có 7.396 giáo viên, đến năm 1998 có 6.193 giáo
viên, giảm 19%. Bên cạnh đó, trình độ giáo viên không đƣợc nâng cao”[78, tr 186].
Có thể nói, tình hình dạy nghề của nƣớc ta trong những năm đầu đổi mới còn
nhiều khó khăn, số các trƣờng dạy nghề còn ít, phân bổ chƣa hợp lý; cơ sở vật chất,
trang thiết bị còn thiếu và lạc hậu. Công tác dạy nghề của tỉnh Hƣng Yên cũng nằm
tình trạng chung đó.
Hƣng Yên là một tỉnh có điểm xuất phát thấp với bộn bề những khó khăn của
thời kỳ đầu mới tái lập tỉnh. Trƣớc tình hình đó, tỉnh đã nỗ lực vƣơn lên, hoàn thành
cơ bản những nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của năm 1997.
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, mở rộng ngành nghề
và phát triển công nghiệp, tỉnh Hƣng Yên thu hút 20.000 lao động (trong đó 500
ngƣời đƣợc nhận vào cơ sở xí nghiệp công nghiệp, 100 ngƣời đi lao động nƣớc
ngoài).
Trong điều kiện mới tái lập, trƣớc bộn bề công việc, Đảng bộ lâm thời tỉnh bắt
tay ngay vào công việc với trách nhiệm cao. Đảng bộ tỉnh xác định: phát triển kinh tế
15
là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Trong đó, điều cốt lõi là
phải xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tƣ tƣởng và tổ chức.
Quán triệt Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Tỉnh ủy đã nghiên cứu xây dựng 8
chƣơng trình kinh tế - xã hội: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn,
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội, xây dựng kết
cấu hạ tầng, xây dựng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh…Học tập Nghị quyết Trung
ƣơng II và trung ƣơng III, khóa VIII; đồng thời, xây dựng chƣơng trình hành động
xuất phát từ đặc điểm và điều kiện cụ thể của địa phƣơng. Tuyên truyền sâu rộng và
đƣa các Nghị quyết của Trung ƣơng, Tỉnh ủy vào cuộc sống; đồng thời, khơi dậy
những tiềm năng, thế mạnh và truyền thống lịch sử của tỉnh.
các ngành. Tạo điều kiện xuất khẩu lao động, đƣa ngƣời đi xây dựng vùng kinh tế
mới, khuyến khích các hình thức dạy nghề đi đôi với tƣ vấn, giới thiệu việc làm. Đặc
biệt chú trọng dạy nghề cho lao động nông thôn. Đây đƣợc coi là nguồn lao động lớn
cho các ngành công nghiệp dịch vụ và xuất khẩu lao động.
Thời gian đầu sau ngày tái lập tỉnh, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn
tỉnh Hƣng Yên chƣa thực sự đƣợc chú trọng. Bởi lẽ, Hƣng Yên vẫn còn là một tỉnh
nghèo, 90% dân số sống bằng nông nghiệp nên phát triển nông nghiệp đƣợc coi là
nhiệm vụ then chốt nhằm ổn định đời sống, nông dân. Vì thế, các cơ sở dạy nghề trên
địa bàn tỉnh và hoạt động dạy nghề chủ yếu đƣợc triển khai trong các trƣờng chuyên
nghiệp và chủ yếu là do ngành giáo dục quản lý.
1.3 Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên lãnh đạo công tác dạy nghề cho lao động nông
thôn từ năm 2001 đến 2005
1.3.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về dạy
nghề cho lao động nông thôn
1.3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác dạy nghề cho lao động
ở nông thôn
Năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 109/CP ngày 12/3/1981 về
phƣơng hƣớng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển công tác dạy nghề. Để đảm bảo thực
hiện các nhiệm vụ đã đề ra, Hội đồng Chính phủ đề ra phƣơng hƣớng, nhiệm vụ phát
triển công tác dạy nghề nhƣ sau:
17
Một là, xây dựng quy hoạch đào tạo phải dựa vào quy hoạch mạng lƣới trƣờng
và lớp dạy nghề.
Hai là, cần kết hợp nhu cầu của các ngành Trung ƣơng và nhu cầu địa phƣơng để
sắp xếp, quy hoạch lại mạng lƣới trƣờng dạy nghề trên địa bàn tỉnh, thành phố, khu
công nghiệp, bảo đảm cho trƣờng dạy nghề có quy mô thích hợp, và bảo đảm nâng
trọng của đào tạo nguồn nhân lực.
Trƣớc yêu cầu xây dựng chiến lƣợc phát triển dạy nghề đáp ứng yêu cầu nguồn
nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, từ năm 1996 đến nay, đầu tƣ
phát triển dạy nghề đƣợc Đảng, Nhà nƣớc tập trung nghiên cứu và đề ra những định
hƣớng quan trọng, từng bƣớc quy hoạch và xây dựng kế hoạch phát triển.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: Giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho xã hội, đề ra phƣơng
hƣớng phát triển dạy nghề trong chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực. Lần đầu tiên,
Đại hội nêu định hƣớng rõ nét trong việc đầu tƣ phát triển dạy nghề. Đại hội chỉ rõ:
Cần đổi mới hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, tạo nguồn nhân lực có khả năng tiếp
cận với công nghệ tiên tiến, mở rộng hệ thống trƣờng, lớp dạy nghề và đào tạo công
nhân lành nghề. Tập trung xây dựng trƣờng công lập, có chính sách giúp đỡ, hƣớng
dẫn phát triển trƣờng ngoài công lập. “Khuyến khích dạy nghề tại doanh nghiệp, giải
quyết mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 10%
năm 1996 lên 22-25% năm 2011”[27, tr 199].
Tiếp đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) chủ trƣơng: Phát
triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề,
trung cấp nghề, mở rộng mạng lƣới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề cấp
huyện. Tạo chuyển biến căn bản về chất lƣợng dạy nghề. Đẩy mạnh xã hội hóa dạy
nghề nhằm thu hút các nguồn lực đầu tƣ cho dạy nghề. Đổi mới cơ chế quản lý, phân
cấp tạo động lực cho cơ sở. Nhà nƣớc đầu tƣ tập trung cho các mục tiêu ƣu tiên, hỗ
trợ đối tƣợng chính sách. Tăng cƣờng hợp tác quốc tế về dạy nghề.
Để cụ thể hóa chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc đã sửa đổi và ban
hành hai văn bản Luật quan trọng liên quan trực tiếp đến định hƣớng chiến lƣợc quy
hoạch, kế hoạch đầu phát triển dạy nghề. Đó là: Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi
Luật Giáo dục năm 1998) và Luật Dạy nghề năm 2006. Tiếp đó, Chính phủ ban hành
Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 9/1/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Lao động
và Luật Giáo dục về dạy nghề để làm căn cứ xây dựng định hƣớng chiến lƣợc, quy
19
cũng nhƣ của từng vùng, từng địa phƣơng và từng ngành kinh tế.
20
Nhƣ vậy, trong những năm đầu thế kỷ XXI, đƣợc sự quan tâm của Đảng và Nhà
nƣớc, dạy nghề đã từng bƣớc vƣợt qua giai đoạn khủng hoảng, dần dần phục hồi và đã
có những bƣớc phát triển mới. “Tính đến hết năm học 2002-2003, trong hệ thống dạy
nghề cả nƣớc có 5 trƣờng sƣ phạm kỹ thuật đào tạo giáo viên dạy nghề, 204 trƣờng
dạy nghề, 150 trung tâm dạy nghề. Toàn ngành có khoảng 6.200 giáo viên, quy mô
đào tạo hệ dài hạn đến 210.000 học sinh; trong đó, tuyển sinh năm học 2002-2003 đạt
146.000 học sinh”[54, tr. 79].
Công tác dạy nghề nói chung và dạy nghề cho lao động nông thôn nói riêng luôn
nhận đƣợc sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nƣớc. Điều này không chỉ thể hiện
trong các Văn kiện mà cả trong các văn bản chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng
và Chính phủ.
Dạy nghề cho lao đô ̣ng nô ng thôn đƣợc coi là sƣ̣ nghiê ̣p của Đảng , Nhà nƣớc,
của các cấp, các ngành và toàn xã hội nhằ m nâng cao chấ t lƣơ ̣ng lao đô ̣ng nông thôn ,
đáp ƣ́ng yêu cầ u công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa nông nghiê ̣p , nông thôn. Nhà nƣớc
tăng cƣờng đầu tƣ để phát triển đào ta ̣o nghề cho lao động nông thôn , có chính sách
bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đố i với mọi lao động nông
thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào ta ̣o nghề
cho lao đô ̣ng nông thôn; chuyển mạnh đào ta ̣o nghề cho lao động nông thôn tƣ̀ đào ta ̣o
theo năng lực sẵn có của cơ sở đào ta ̣o sang đào ta ̣o theo nhu cầu học nghề của lao
động nông thôn và yêu cầu của thị trƣờng lao động ; gắn đào ta ̣o nghề với chiến lƣợc ,
quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc , từng vùng, từng ngành,
từng điạ phƣơng.
Nhận định đây là một chủ trƣơng, chính sách lớn của Đảng và Nhà nƣớc nhằm tổ
chức hiệu quả công tác dạy nghề cho lao động nông thôn, nâng cao trình độ, năng lực
cho đội ngũ cán bộ xã, tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động trong khu vực
công, làng nghề, các ngành kinh tế dịch vụ. Thành lập công ty xuất khẩu lao động,
trong đó có công ty đủ tƣ cách pháp nhân đẩy mạnh xuất khẩu lao động, xây dựng
vùng kinh tế mới, mở rộng các hình thức dạy nghề đi đôi với giới thiệu việc làm. Đến
năm 2005, lao động nông nghiệp còn 65%, lao động qua đào tạo đạt 33%.
Thứ ba là, phát triển các hình thức dạy nghề, truyền nghề bằng nhiều hình thức
nhƣ: đa dạng hoá các loại hình trƣờng lớp, khuyến khích hỗ trợ phát triển trƣờng dân
lập, tƣ thục theo quy định của Nhà nƣớc.
22
1.3.2 Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên chỉ đạo công tác dạy nghề cho lao động nông
thôn
Dạy nghề cho lao động nông thôn đòi hỏi một nguồn lực rất lớn về cơ sở vật
chất, về đội ngũ cán bộ, giáo viên dạy nghề, về chƣơng trình, giáo trình và nguồn lực
hỗ trợ cho ngƣời học. Bởi vì, nông thôn là lĩnh vực có nhiều khó khăn, trong đó sản
xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Đứng trƣớc tình hình đó, Đảng bộ tỉnh Hƣng
Yên đã tuyên truyền sâu rộng đến các cấp, các ngành và đến từng ngƣời dân về chủ
trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc và Đảng bộ tỉnh về công tác dạy nghề cho lao
động nông thôn. Để thực hiện tốt các chủ trƣơng của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo công tác dạy nghề cho lao động
nông thôn: Kế hoạch số 205/KH-UBND ngày 8/5/2001 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về
việc ban hành kế hoạch thực hiện công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tỉnh
Hƣng Yên từ năm 2001-2005; Quyết định số 345/QĐ-UBND ngày 12/11/2001 của
Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thực hiện chƣơng trình dạy nghề cho lao động nông
thôn giai đoạn 2001-2005; Quyết định số 30/QĐ-UBND ngày 20/12/2003 của Ủy ban
nhân dân tỉnh về việc sửa đổi Quyết định số 184/2005/QĐ-UBND ngày 12/10/ 2005
của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên của tỉnh
Hƣng Yên đang học tại các trƣờng Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và
Dạy nghề; Công văn số 926/LĐTBXH-DN ngày 23 tháng 9 năm 2004 về chƣơng