ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------&----------
LÊ VĂN NGUYÊN
ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN LÃNH ĐẠO
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------&----------
LÊ VĂN NGUYÊN
ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN LÃNH ĐẠO
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2014
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Lƣơng Diệu
Hà Nội - 2015
CNH - HĐH:
HĐND:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội đồng nhân dân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
HƢNG YÊN TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỪ NĂM
1997 ĐẾN NĂM 2005 .................................................................................... 10
1.1. Các yếu tố tác động, quyết định đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên trong việc phát huy vai trò của phụ nữ ...................................... 10
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ................................................ 10
1.1.2. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy vai trò của
phụ nữ ....................................................................................................... 13
1.1.3. Tình hình phụ nữ tỉnh Hưng Yên trước năm 1997 ........................ 16
1.2. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong phát huy
vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2005 ........................................... 20
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên ....................................... 20
1.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ (1997-2005) ................. 23
Chƣơng 2. ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN LÃNH ĐẠO PHÁT HUY VAI
TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014 .............................. 41
2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên .............................................. 41
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử và những yêu cầu mới đặt ra ............................ 41
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên ....................................... 45
2.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên ............................................... 49
2.2.1. Chỉ đạo phát huy vai trò của phụ nữ thông qua việc tiếp tục kiện
toàn và củng cố Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh .............................................. 49
chính trị đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”, Đảng sớm nhận rõ,
phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải
giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải
phóng phụ nữ. Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng
(công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các
tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
Ngày 20/10/1930, với nhu cầu của thực tế sự phát triển của cách mạng,
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chính thức được thành lập. Sự kiện lịch sử
này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong
cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ và đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Ngày nay, trong quá trình CNH-HDH đất nước Phụ nữ có mặt trong
hầu hết trong các hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội. Phụ nữ với bản tính
cần cù và tỉ mỉ, trong quá trình phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp
nhẹ hay những ngành nghề về thủ công nghiệp, những công việc liên quan
1
đến sự khéo léo của phụ nữ, họ đang phát huy tốt khả năng và năng lực của
mình. Phụ nữ Việt Nam, họ có mặt ở các nhà máy hay xí nghiệp cũng như
những vị trí lãnh đạo tại các cơ quan hành chính sự nghiệp. Phụ nữ nông thôn
cũng đang phát huy khả năng của mình với những phong trào thi đua phụ nữ
hỗ trợ giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo và thực tế cho thấy rằng vai
trò của phụ nữ là cực kì quan trọng. Chính vì vậy, nhận thức được những điều
đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam càng coi trọng và đảm bảo quyền bình đẳng
giới của phụ nữ hơn, nó được thể hiện trong các văn bản pháp luật về giới và
những chính sách cải thiện đời sống tinh thần của phụ nữ.
Đảng và Nhà nước còn thể hiện sự quan tâm tới tầm quan trọng của phụ
nữ thông qua hoạt động tăng cường hơn nữa phụ nữ tham gia vào các công tác
quản lý và hoạt động của nhà nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nữ. Điều này được thể hiện thông qua các chủ trương và nghị quyết cụ thể của
từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.
Việc tìm hiểu về sự lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Hưng Yên phát huy vai trò
của phụ nữ từ năm 1997 tới 2014 nhằm đưa ra một cách nhìn hệ thống và cụ
thể sự nhận thức của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về vai trò của phụ nữ thông qua
những chủ trương chỉ đạo và những sáng tạo của Đảng bộ với hoàn cảnh cụ
thể của tỉnh. Đồng thời luận văn cũng đưa ra được những đánh giá về ưu
điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm thực tiễn là một trong những việc
làm cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn về những vấn đề Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên làm được và chưa làm được trong quá trình phát huy vai trò của
phụ nữ.
Vì những lý do đó, tôi chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo
phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2014” làm luận văn thạc
sỹ, chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài về phụ nữ luôn hấp dẫn và thu hút nhiều sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Để đề cập tới những
công trình liên quan đến đề tài này tôi chia thành hai nhóm công trình nghiên
cứu như sau:
Nhóm 1: Các công trình, bài viết về phụ nữ, vai trò của phụ nữ
Cuốn Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, xuất bản năm 1981, do
Nguyễn Thị Thập chủ biên đã trình bày một cách xuyên xuốt về lịch sử ra
đời cũng như đấu tranh và phát triển của phụ nữ Việt Nam qua các thời kì
cách mạng.
Cuốn Truyền thống Phụ nữ Việt Nam, xuất bản năm 2001, của Trần
Quốc Vượng đã đưa đến một cách nhìn sâu sắc của tác giả về người phụ nữ
lãnh đạo của Đảng giai đoạn 1930-1945.
Luận văn khoa học lịch sử của tác giả Trần Thị Minh Hải (2010), Đảng
với cuộc vận động phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2009, đã tập hợp được một
cách cụ thể và chính xác những chủ trương của Đảng về vận động phụ nữ từ
năm 1986 tới năm 2009 qua việc nêu lên những quan điểm của chủ nghĩa Mác
– Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Luận văn khoa học lịch sử của tác giả Trương Thị Thủy (2012), Đảng
lãnh đạo xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
từ năm 1986 đến năm 1996 trình bày hệ thống quan điểm, chủ trương của
Đảng liên quan đến tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
trong những năm 1986 – 1996.
Luận văn khoa học lịch sử của tác giả Hồ Thị Liên Hương (2013),
Đảng với hoạt động đối ngoại của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam từ năm
1996 đến năm 2010 trình bày sự chỉ đạo của Đảng với hoạt động đối ngoại
nhân dân thông qua chủ thể là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996
đến năm 2010.
5
Những công trình khoa học trên đây đã đạt được những thành tựu
nghiên cứu cơ bản ban đầu. Các công trình này đã tập hợp được cơ bản đầy
đủ những Chủ trương, Nghị quyết của TW Đảng về những vấn đề liên quan
đến phụ nữ nói chung. Ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả đi theo một
hướng nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau liên quan đến phụ nữ như: lịch
sử hình thành, quá trình xây dựng và hoạt động của Hội LHPN, hay những
vấn đề liên quan đến phụ nữ phát triển kinh tế, phụ nữ với các hoạt động đối
ngoại, hay phụ nữ với các hoạt động xã hội.
Tuy nhiên, ở mỗi công trình nghiên cứu họ lại đề cập đến một vấn đề
nghiên cứu khác nhau, mà vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
năm 1997 đến năm 2014.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu Luận văn là các chủ trương, chính sách và sự chỉ
đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với việc phát huy vai trò của phụ nữ từ
năm 1997 đến năm 2014.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu các chủ trương, chính sách, biện pháp tổ chức
thực hiện, công tác tổng kết, kiểm tra, đánh giá... của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
đối với việc phát huy vai trò của phụ nữ, cụ thể: phát huy vai trò của phụ nữ
thông qua việc xây dựng và củng cố Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh; phát huy vai
trò của phụ nữ trong hoạt động kinh tế; và phát huy vai trò của phụ nữ trong
công tác tuyên truyền các hoạt động xã hội.
- Về thời gian: Bắt đầu từ năm 1997 (thời điểm tách tỉnh Hải Hưng thành
hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên) đến năm 2014 – là 17 năm Hưng Yên tái
lập tỉnh và cũng là thời điểm học viên đăng ký đề tài nghiên cứu.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu quá trình lãnh đạo phát huy vai trò
của phụ nữ của Đảng bộ tỉnh trên địa bàn toàn tỉnh Hưng Yên.
7
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phụ nữ,
phát huy vai trò của phụ nữ.
5.2. Nguồn tư liệu
Luận văn dựa vào các nguồn tài liệu cơ bản sau để nghiên cứu:
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến phụ nữ,
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy những vấn đề liên quan đến phát huy vai trò của phụ nữ của Đảng
bộ và chính quyền tỉnh Hưng Yên tại các trường Đảng, các trung tâm chính trị
tại địa phương.
7. Bố cục Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên
trong phát huy vai trò của phụ nữ từ năm 1997 đến năm 2005
Chương 2. Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên lãnh đạo đẩy mạnh phát huy
vai trò của phụ nữ từ năm 2006 đến năm 2014
Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm
9
Chương 1
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN TRONG
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Các yếu tố tác động, quyết định đến sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Hƣng Yên trong việc phát huy vai trò của phụ nữ
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Điều kiện tự nhiên
Hưng Yên là vùng đất hình thành sớm ở trung tâm châu thổ sông Hồng,
có ranh giới tiếp giáp với 6 tỉnh và thành phố. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh,
địa phận huyện Thuận Thành, địa giới dài 16km. Phía Đông giáp Hải Dương,
chiều dài 93km. Phía Đông Nam giáp tỉnh Thái Bình, chiều dài 26km, có
sông Luộc làm ranh giới. Phía Tây Bắc và Tây Nam giáp Hà Nội, Hà Nam
với chiều dài 67km, có sông Hồng làm giới hạn. Hưng Yên có diện tích tự
Hiện nay Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, thị là : Thị xã
Hưng Yên (nay là Thành phố Hưng Yên, các huyện Văn Lâm, Văn Giang,
Mỹ Hào, Yên Mỹ, Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, với 161
xã, phường và thị trấn).
Điều kiện kinh tế - xã hội
Hưng Yên cũng giống như các vùng khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ, là
tỉnh đất chật người đông. Nhờ chính sách trọng nông của nhà nước phong kiến,
vùng đất Hưng Yên được khai thác từ rất sớm. Nhà Trần đã cho phép các vương
hầu được chiêu mộ dân phiêu tán đến khai hoang, lập ấp, dựng điền trang dọc
theo sông Hồng. Hệ thống đê quai vạc dọc sông Hồng được xây đắp cùng với
việc đào nắn nhiều mương ngòi dẫn nước để tiêu úng chống hạn. Thời Lê, đội
ngũ hà đê chánh, phó sứ giúp nhiều cho công việc đê điều, thủy lợi.
Tuy nhiên, việc độc canh cây lúa và việc phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên khắc nghiệt không đủ đảm bảo cho cuộc sống thường nhật của người
dân, do đó nhiều nghề phụ đã ra đời tạo ra các làng nghề thủ công, phường
thủ công nổi tiếng ra đời.
11
Hoạt động thương mại, buôn bán của Hưng Yên phát triển từ khá sớm,
và khá mạnh. Ngoài truyền thuyết về Chử Đồng Tử - Tiên Dung được coi như
tổ sư nghề buôn, ta còn thấy xuất hiện nhiều làng chuyên buôn bán, bến chợ
bên bờ sông Hồng từ Mễ Sở xuống tận thị xã Hưng Yên. Làng Huê Cầu
(Nghĩa Trụ - Văn Giang) có người buôn bán khắp các tỉnh, thành như: Hà
Nội, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên, Cao Bằng, Hải Dương. Làng Đa
ngưu (Văn Giang) có tới hơn 70% số hộ buôn bán thuốc bắc, cung cấp 9/10
thuốc bắc cho các hiệu thuốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh bắc
Trung Bộ. Làng Đồng Tỉnh ở Nghĩa Trụ Văn giang, cả làng đi buôn thuốc lào
và cau, có nhiều cơ sở ở Nghệ An, Hà Đông, Thái Nguyên. Đặc biệt, với Phố
từng vùng trong tỉnh, phát huy được vai trò của từng vùng cũng như từng bộ
phận nguồn nhân lực cụ thể trong đó có phụ nữ.
1.1.2. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy vai trò
của phụ nữ
Ngay từ đầu khi Đảng mới thành lập. Những nhận thức mới về phụ nữ
đã tạo điều kiện cho họ phát huy hết tài năng và đức hạnh của mình góp phần
quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời năm 1930, với Chính cương văn tắt
khẳng định “nam nữ bình quyền” [40, tr.2]. Trong Án nghị quyết của Hội
nghị Trung ương tháng 10-1930 nêu rõ: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ là
một cái lực lượng rất trọng yếu. Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không
tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi
được. Bởi vậy nên công tác trong quần chúng phụ nữ không phải là một cái
nhiệm vụ phụ thuộc của Đảng; công tác ấy chánh là một cái nhiệm vụ lớn và
rất trọng yếu” [40, tr.188].
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại
Biểu Toàn Quốc lần thứ VI (15/12/1986) khẳng định: Phụ nữ nói chung và
lao động nữ nói riêng, có những đặc điểm cần chú ý. Để phát huy vai trò to
13
lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động
phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản,
được cụ thể hóa thành chính sách, luật pháp. Các cơ quan nhà nước, với sự
phối hợp của các đoàn thể, cần có những biện pháp thiết thực tạo thêm nhiều
việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em,
thực hiện đúng Luật hôn nhân và gia đình. Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp
được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh
phúc [41, tr.450].
LHPN Việt Nam đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đáp ứng yêu
cầu của thực tiễn cũng như nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ. Các cấp hội
phụ nữ đã có nhiều phương thức hoạt động, vận động phụ nữ cả nước phát
huy tính năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, vươn lên thực hiện tốt cả
hai chức năng “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, nhất là trong lao động sản xuất,
giúp nhau xóa đói giảm nghèo với các phong trào “ngày tiết kiệm vì phụ nữ
nghèo”, “phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất
nước”... Đã có hàng triệu lượt phụ nữ nghèo được hướng dẫn kiến thức, kinh
nghiệm làm ăn, vay vốn hàng chục nghìn tỷ đồng để xóa đói, giảm nghèo,
nhiều chị em vươn lên làm kinh tế giỏi, khẳng định vai trò của mình trong gia
đình, xã hội. Hơn bao giờ hết, phụ nữ Việt Nam tiếp tục tỏ rõ năng lực và
khẳng định vai trò vị trí của mình. Thực hiện thông điệp “Bình đẳng cho phụ
nữ là tiến bộ của tất cả chúng ta”, Việt Nam phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ
được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp
vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần;
tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực;
đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Phấn đấu để Việt Nam là
một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực.
15
Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã thể hiện rất rõ
sự quan tâm và chú trọng phát huy những vai trò và tiềm năng của phụ nữ để
khai thác tối đa những nguồn lực chất lượng phục vụ công tác quản lý hành
chính cũng như quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đẩy mạnh sự phát triển của
đất nước.
1.1.3. Tình hình phụ nữ tỉnh Hưng Yên trước năm 1997
Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hưng Yên được thành lập vào tháng 1 năm
vai trò quan trọng của các tầng lớp phụ nữ:
- Chương trình nâng cao kiến thức, trình độ và năng lực cho phụ nữ
- Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập
- Chương trình chăm sóc sức khỏe phụ nữ, trẻ em, thực hiện sinh đẻ có kế
hoạch, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc
- Chương trình xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, góp phần chăm lo
đào tạo cán bộ hội, cán bộ nữ
- Chương trình nghiên cứu và giám sát
Và hai cuộc vận động “phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây
dựng gia đình hạnh phúc” và “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”.
Những chương trình phát triển kinh tế này của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
đã được đưa ra trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và được Hội
phụ nữ cụ thể hóa đưa xuống cơ sở nhằm phù hợp với thực tiễn của các tầng
lớp phụ nữ của địa phương và những hoạt động này luôn phối hợp chặt chẽ
với các ngành có liên quan để lồng ghép công tác của Hội với các phong trào
phụ nữ của địa phương cụ thể.
Những chương trình hành động của tỉnh hội phụ nữ đưa ra luôn bám sát
vào các mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh trong các giai đoạn nhằm phát huy
tối đa vai trò của phụ nữ trong thời kì phát triển kinh tế-xã hội.
Tuy nhiên, bước đầu khi tái lập tỉnh, những khó khăn và tồn tại mà
không chỉ các Ban, Ngành, Đoàn thể khác trong toàn tỉnh gặp phải như cơ sở
17
vật chất và hạ tầng và vấn đề con người cũng là một vấn đề cần thiết cần giải
quyết. Hội phụ nữ tỉnh Hưng Yên cũng đang tồn tại những khó khăn và cần
được Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nhanh chóng đưa ra những chủ trương chỉ đạo
tỉnh Hội để góp phần kiện toàn hơn nữa khả năng phát huy vai trò của phụ nữ
trong tỉnh. Những khó khăn về tổ chức và con người gặp phải trong giai đoạn