giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện gia lộc, tỉnh hải dương - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC TUYẾN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HUYỆN GIA LỘC,
TỈNH HẢI DƯƠNG CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.62.01.15 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN VĂN SONG

Song người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ, công chức, viên chức văn phòng Sở
Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
UBND huyện, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, các đoàn thể
chính trị-xã hội huyện Gia Lộc và Trung tâm Dạy nghề huyện Gia Lộc đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thiện khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện của bạn bè, đồng
nghiệp và người thân trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài.

Hải Dương, ngày 28 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Tuyến

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv

MỤC LỤC Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vi
Danh mục các từ viết tắt viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1

3.2.1 Thuận lợi 50
3.2.2 Khó khăn 50
3.3 Phương pháp nghiên cứu
51
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 51
3.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 52
3.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài
53
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
4.1 Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Gia Lộc
55
4.1.1 Chủ trương, chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện Gia Lộc 55
4.1.2 Công tác tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn 58
4.1.3 Nguồn lực cho công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 60
4.1.4 Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn 65
4.1.5 Đánh giá công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn
huyện Gia Lộc 70
4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông
thôn trên địa bàn huyện Gia Lộc
80
4.2.1 Nhóm yếu tố bên trong 80
4.2.2 Nhóm yếu tố bên ngoài 86
4.3 Các giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho LĐNT trên địa
bàn huyện Gia Lộc
93
4.3.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn 93
4.3.2 Giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
huyện Gia Lộc 97
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110

4.7 Đánh giá của người dạy nghề về học viên, chương trình học, công tác
quản lý trên địa bàn huyện Gia Lộc 74
4.8 Đánh giá của người sử dụng lao động về lao động được tuyển dụng
qua đào tạo 76
4.9 Đánh giá của cán bộ quản lý về học viên, chương trình học, giáo trình,
tài liệu học tập, cơ sở vật chất 77
4.10 Đánh giá của cán bộ quản lý về đội ngũ giáo viên, phương pháp giảng
dạy, công tác quản lý 79
4.11 Chương trình khung đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện Gia Lộc 82
4.12 Cơ sở vật chất của địa phương phục vụ đào tạo nghề 84
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii

4.13 Kinh phí ĐTN cho LĐNT của tỉnh Hải Dương 85
4.14 Các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn huyện Gia Lộc 86
4.15 Nhu cầu học nghề của các đối tượng điều tra trên địa bàn huyện Gia
Lộc giai đoạn 2014-2016 87
4.16 Phân cấp quản lý trong công tác ĐTN cho LĐNT của tỉnh Hải Dương
năm 2013 và 2014 90
4.17 Dự báo nhu cầu học nghề của nông dân trên đại bàn huyện Gia Lộc
năm 2015 96 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Nguyên nghĩa
CN Công nghiệp

thấp, thu nhập thấp và bấp bênh.
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của lao động nông thôn trong thực hiện
chính sách nông nghiệp, nông dân và nông thôn, tại Hội nghị lần thứ bảy, Khoá X,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
05/8/2008, Nghị quyết nêu rõ: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các
vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng
với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ
nông thôn mới Phấn đấu đến năm 2020 lao động nông nghiệp còn khoảng 30%
lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%”. Để cụ thể hoá
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính
phủ đã phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 “Mục tiêu
giai đoạn 2011 – 2015, đào tạo nghề cho 5,2 triệu lao động nông thôn; giai đoạn 2016 –
2020, đào tạo cho 6,0 triệu lao động nông thôn”. Đó là đường lối, chính sách đúng đắn
và có ý nghĩa quan trọng nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế -xã hội đất nước
nhanh và bền vững (Chính phủ, 2009b).
Đến năm 2013, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương vẫn là huyện thuần nông,
dân số là 137.927 người, có 78.796 người trong độ tuổi lao động trong đó lao động
nông nghiệp là 55.609 người, chiếm 71,10%. Số lao động đi làm kinh tế xa nhà trên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2

6 tháng, gồm cả lao động xuất khẩu là 18.502 người, chiếm 25,64% lao động nông
thôn. Thời gian qua, Huyện ủy – HĐND – UBND – Uỷ ban MTTQ, các ngành,
đoàn thể trong huyện đã tích cực triển khai và có nhiều biện pháp thực hiện Nghị
quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương, Đề án 1956
của Chính phủ về dạy nghề, bồi dưỡng kiến thức cho lao động nông thôn, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế,
giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động (Ban chấp hành Đảng bộ
tỉnh Hải Dương, 2010).

1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hiện trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông
thôn trên địa bàn huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi về nội dung
Luận văn tập trung vào nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo
nghề đối với lao động nông thôn. Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
công tác đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lộc, Tỉnh
Hải Dương.
1.4.2 Phạm vi về không gian
Trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
1.4.3 Phạm vi về thời gian
- Số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm (2012, 2013, 2014).
- Số liệu sơ cấp được khảo sát trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2014
đến tháng 12 năm 2014.
1.5 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Thực trạng công tác dạy nghề cho lao động nông thôn của huyện Gia Lộc,
Tỉnh Hải Dương.
- Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
trên địa bàn huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương.
- Các giải pháp tăng cường công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trên
địa bàn huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về lao động nông thôn

2.1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề
+ Khái niệm nghề
Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động
của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần
có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất
định.
Quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định về khái niệm nghề.
Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: “Là một hoạt động lao động đòi hỏi
có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn”.
Khái niệm nghề ở Pháp: “Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ
sảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống”.
Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: “Là công việc chuyên môn đòi hỏi
một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật”.
Khái niệm nghề ở Đức: “Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực
lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó”.
Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt
với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại.
Bởi vậy, nghề được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu trên nhiều khía
cạnh khác nhau.
Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra, hiện tại vẫn chưa thống nhất
được định nghĩa chung nhất về nghề. Song nhìn chung các quan niệm về nghề đều
đồng ý rằng: “Nghề là một dạng xác định của hoạt động lao động trong hệ thống phân
công lao động xã hội, là tổng hợp những kiến thức và kỹ năng trong lao động mà con
người tiếp thu được do kết quả đào tạo chuyên môn và tích luỹ kinh nghiệm trong lao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6

động cần có để thực hiện một loạt hoạt động cụ thể trong lĩnh vực nhất định. Nghề
mang tính tương đối, nó phát sinh phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và
nhu cầu của xã hội” (Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu, 2010).

Trần Xuân Cầu, 2010).
Như vậy, đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền
đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để
thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết. Nói cách
khác thì đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá
nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất. Đào tạo
được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ
làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của
công việc chuyên môn.
+ Khái niệm về đào tạo nghề.
Có nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về ĐTN như với tác giả (William
Mc. Gehee,1979) cho rằng: “ĐTN là những quy trình mà những công ty sử dụng để
tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết quả hành vi đóng góp vào mục đích và
các mục tiêu của công ty”.
Còn với tác giả (Max Forter, 1979) cũng đưa ra khái niệm “ĐTN phải đáp
ứng việc hoành thành 4 điều kiện: Gợi ra những giải đáp ở người học, phát triển tri
thức, kỹ năng và thái độ, tạo ra sự thay đổi trong hành vi, đạt được những mục tiêu
chuyên biệt”.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: “ĐTN là nhằm cung cấp cho
người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới
công việc, nghề nghiệp được giao”.
Theo luật dạy nghề của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng
11 năm 2006 định nghĩa: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến
thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm
được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” (Quốc hội, 2006).
Còn theo Giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân
Hà Nội thì: “Đào tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực, là quá trình trang bị kiến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8

thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm

thời kỳ mới. Hệ thống này có nhiệm vụ đào tạo người lao động về kiến thức, kỹ
năng thực hành nghề, nhân cách ở các cấp trình độ, có đủ khả năng tìm việc làm và
năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích nghi với sự biến đổi nhanh chóng của công
nghệ và thực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội, liên
thông với các trình độ đào tạo khác.
Như vậy, khái niệm dạy nghề hay đào tạo nghề là những khái niệm được sử dụng
theo quan niệm truyền thống và có ý nghĩa hạn hẹp, không hàm chứa được bản chất và
các nội dung mới của đào tạo nghề trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và hội nhập của nền kinh tế tri thức. Hiện nay chúng ta phải thống nhất dùng khái
niệm “đào tạo lao động kỹ thuật” thay thế cho khái niệm “dạy nghề” hoặc “đào tạo
nghề” trong các văn bản pháp quy và trong đời sống xã hội. Trong trường hợp còn sử
dụng thuật ngữ “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” thì phải hiểu theo quan điểm mới, đó là
“đào tạo lao động kỹ thuật” trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành (Quốc hội, 2006).
Tựu chung lại, đào tạo nghề chính là đào tạo lao động kỹ thuật, là quá trình
hoạt động đào tạo có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch trong hệ thống đào tạo kỹ
thuật thực hành nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mỗi
cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công việc phức
tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi
nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế.
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là: Dạy
nghề và học nghề:
+ Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành để học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành
thục nhất định về nghề nghiệp. Dạy nghề có ba trình độ đào tạo là sơ cấp nghề,
trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy
nghề thường xuyên.
+ Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của
người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định (Quốc hội, 2006).
- Đào tạo nghề bao gồm:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11

mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ. Bởi thực tế, khi
chuyển đổi mục đích, nhiều thách thức, khó khăn đặt lên vai nông dân.
- Giúp cho người nông dân thoát nghèo, làm giàu chính tại địa phương. Đại
bộ phận nông dân còn nghèo, sản xuất nhỏ lẻ do thiếu vốn, sự hiểu biết, ứng dụng
khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Mặt khác họ lại không có thói quen hợp tác sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm nên càng khó đưa sản phẩm ra thị trường.
- Giúp nông dân gắn bó với sản xuất nông nghiệp, thực tế hiện nay sản xuất
nông nghiệp hiệu quả thấp lại gặp nhiều rủi ro cả về điều kiện tự nhiên và thị trường
nên nhiều người đã không mặn mà với sản xuất nông nghiệp. Bởi vậy muốn người
dân gắn bó với sản xuất nông nghiệp thì rất cần phải được đào tạo nghề.
- Nâng cao chất lượng lao động nông thôn. Hiện nay hầu hết nông dân, nhất
là các chủ hộ còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, hoạt động lao
động sản xuất chủ yếu vần thông qua kinh nghiệm, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu,
chậm đổi mới nên năng suất thấp, giá trị các sản phẩm hàng hoá chưa tương xứng
với thời gian và chi phí lao động. Chất lượng lao động nông thôn thấp đã làm cho
thu nhập của người lao động không thể tăng nhanh, gây ra khoảng cách giàu nghèo
giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng. Bởi vậy rất cần đào tạo nghề cho nông
dân có như vậy mới nâng cao chất lượng lao động khu vực nông thôn.
- Đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của người nông dân sẽ được trang bị
những kiến thức cơ bản về kỹ thuật các nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp,
những kiến thức về giá cả, thông tin thị trường.
- Đảm bảo an sinh xã hội ở địa phương khi nền kinh tế đang bước vào giai
đoạn chuyển đổi, tái cơ cấu như hiện nay, chúng ta càng phải quan tâm đến việc đào
tạo nghề, trang bị kỹ năng, kỹ thuật cho người nông dân. Đời sống vật chất, tinh
thần của người dân được nâng cao đồng nghĩa với việc đảm bảo trật tự an toàn xã
hội và có điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao các dịch vụ và chất lượng phúc lợi
xã hội.
Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp CNH – HĐH,

giảm nghèo, từng bước đưa kinh tế nước nhà lên một tầm cao mới.
Năm là dạy nghề góp phần thay đổi nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13

lao động và việc làm cho một bộ phận lớn thanh niên và xã hội. Khi thực hiện tốt xã
hội hoá đào tạo nghề sẽ tạo ra một phong trào đào tạo nghề sâu rộng, lôi kéo toàn bộ
xã hội vào quá trình học tập, nâng cao trình độ, đào tạo gắn với việc làm, từ đó thay
đổi nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp, lao động và việc làm cho một bộ phận
lớn thanh niên và xã hội.
Sáu là đào tạo nghề cho lực lượng lao động nông thôn còn góp phần vào việc
đảm bảo an sinh xã hội. Trình độ dân trí thấp, cùng với việc sản xuất nông nghiệp
có tính thời vụ sẽ dẫn đến một bộ phận lao động nông thôn dễ sa ngã vào các tệ nạn
xã hội: Ma tuý, cờ bạc, rượu chè, ảnh hưởng đến xã hội nói chung và gia đình, bản
thân họ nói riêng. Vì vậy, nếu lao động nông thôn được qua đào tạo nghề một cách bài
bản và khoa học sẽ giúp họ nâng cao tầm nhận thức của mình và mở ra cho họ cơ hội
tìm kiếm việc làm mới nhằm nâng cao thu nhập, từ đó giúp cho đời sống kinh tế của họ
được ổn định và phát triển hơn (Quốc hội, 2006).
2.1.3 Đặc điểm công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Nâng cao năng suất lao động cho người nông dân, năng suất lao động của
toàn xã hội.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của các tổ chức, các doanh nghiệp sử dụng
lao động đã qua đào tạo nghề.
- Duy trì và nâng cao chất lượng nguồn lực lao động, giúp cho người nông
dân có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định cuộc
sống cho bản thân và gia đình.
- Tạo ra một lực lượng lao động có trình độ tay nghề, chuyên môn vững
vàng, góp phần thay đổi cơ cấu lao động ở địa phương, đáp ứng nhu cầu nguyện
vọng của người dân.
- Tạo ra sự thích ứng giữa người nông dân với công việc hiện tại, trong
tương lai.

2.1.4.3 Tổ chức thực hiện công tác ĐTN cho LĐNT
Tổ chức thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn bao gồm
các công việc như tuyên truyền tư vấn học nghề cho nông dân, khảo sát nhu cầu học
nghề, tổ chức các lớp đào tạo nghề cho nông dân trên địa bàn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15

2.1.4.4 Hình thức,mô hình công tác đào tạo nghề cho nông dân
Tuỳ theo tiêu chí khác nhau mà có các cách phân loại nghề khác nhau. Căn
cứ vào thời gian ĐTN gồm có:
- ĐTN dài hạn (những khoá đào tạo có thời gian từ 01 đến 03 năm thì gọi là
ĐTN dài hạn): Đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật lành nghề cả về lý thuyết và thực
hành, đủ khả năng tiếp cận và sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật, công
nghệ hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật cho sản xuất.
- ĐTN ngắn hạn (các khoá học có thời gian đào tạo dưới 1 năm): Chủ yếu
rèn luyện kỹ năng thực hành, truyền lại cho người học nghề những kiến thức mới
phục vụ công việc, công nghệ, kỹ thuật được sử dụng dạy nghề ngắn hạn thường ở
mức độ đơn giản dễ hiểu, dễ đọc.
Liên quan tới đào tạo nghề có “bậc nghề”. Bậc nghề là thước đo trình độ thực
hành của người công nhân. Tuỳ theo mức độ phức tạp mà từng nghề có số bậc khác
nhau. Ví dụ: Các nghề cơ khí chia thành 7 bậc, nghề lái xe chỉ có 3 bậc, Mỗi nghề đều
chia thành 3 cấp trình độ: Thấp, trung bình, cao. Mỗi cấp trình độ có từ 1 đến 3 bậc.
Ngoài ra còn có các hình thức phân loại nghề đào tạo khác như:
- ĐTN chính quy: Là đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề
tại các cơ sở ĐTN theo quy định của Luật dạy nghề theo các khoá học tập trung và
liên tục. Hình thức này có thuận lợi là chủ động về mặt nội dung, thời gian và số
lượng đào tạo nhưng lại gặp khó khăn do thiếu kinh nghiệm và kỹ năng thực hành.
Vì vậy, khi sử dụng lao động, các doanh nghiệp thường phải tổ chức đào tạo lại.
- ĐTN thường xuyên: Là hình thức vừa làm, vừa học hoặc tự học có hướng
dẫn, được thực hiện linh hoạt về thời gian, địa điểm, phương pháp đào tạo để phù
hợp với yêu cầu của người học nghề nhằm tạo điều kiện cho người lao động học

của doanh nghiệp.
+ Liên kết về nhân sự: Liên kết về nhân sự bao gồm có liên kết về giáo
viên giảng dạy và công nhân giữa nhà trường và doanh nghiệp. Thông thường
nhà trường sẽ cung cấp giáo viên dạy lý thuyết, thực hành còn doanh nghiệp sẽ
cung cấp công nhân lành nghề, máy móc, thiết bị để hướng dẫn và cho học viên
thực hành nghề.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17

+ Liên kết về thiết kế và xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo: Nhà trường
phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo sát hơn với yêu
cầu thực tiễn của nền sản xuất hiện đại có định hướng theo yêu cầu phát triển công
nghệ sản xuất của các doanh nghiệp đảm bảo mục tiêu “đào tạo những cái xã hội cần
chứ không phải đào tạo những cái mà mình có”.
+ Liên kết về thông tin: Là thiết lập các kênh thông tin giữa nhà trường và
doanh nghiệp. Các thông tin về nhu cầu thực tế của doanh nghiệp về số lượng,
chất lượng lao động cũng như ngành nghề đào tạo là một trong những căn cứ để
các CSDN xác định quy mô, cơ cấu đào tạo, nội dung đào tạo. Đồng thời các
trường cũng dựa vào các thông tin phản hồi của doanh nghiệp khi sử dụng lao
động được đào tạo bởi nhà trường để có những điều chỉnh phù hợp quy mô,
chương trình đào tạo.
* Hình thức công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Một trong những yếu tố quan trọng giúp cho chính sách đào tạo nghề khả thi
đó chính là việc lựa chọn hình thức đào tạo nghề phù hợp. Hình thức đào tạo nghề
là cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu
quả kinh tế của đào tạo. Tuỳ theo yêu cầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình
thức đào tạo này hay hình thức đào tạo khác. Những hình thức đào tạo nghề chủ yếu
hiện nay đang triển khai gồm:
- Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc
chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do các đơn vị sử dụng lao
động tổ chức. Kèm cặp trong công việc được tiến hành chủ yếu dưới hai hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status