Giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện gia lộc, tỉnh hải dương - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------------------------

NGUYỄN NGỌC TUYẾN

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH
HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.62.01.15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN VĂN SONG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và
chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hải Dương, ngày 28 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Tuyến

Page 3


MỤC LỤC

L

i



i

i

iii
iv

c

vi

a

vii

m
1.1

1.2

H
3.1
Đặ
3.1
.1
3.1
.2
3.2
Đá

1i
2
3
3
3

4
4

4
1
0
1
3
1
4
2
1
3
0

50

3.3

Phương pháp nghiên cứu

51

3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

51

3.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu

52

3.4

Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài

53

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1

55

Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Gia Lộc

55


80

4.2.2 Nhóm yếu tố bên ngoài

86

4.3

Các giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho LĐNT trên địa
bàn huyện Gia Lộc

93

4.3.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn

93

4.3.2 Giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
huyện Gia Lộc

97

P 11
H 0
5.1 110
Kế
5.2 111
Ki

án
4.2 K
ết
4.3 Kết
quả
ngành
,
4.4 Chi
phí
4.5 Đánh
giá
trình,
giáo
4.6 Đánh
giá
dạy
nghề,
4.7 Đánh
giá
quản

4.8 Đánh
giá
qua
đào
4.9 Đánh
giá
tài
liệu
4.1 Đánh

7
7
9
8
2
8
4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


4.1
3
4.1
4
4.1
5

K
i
C
á
N
h
L

4.1 P
6

CN

Công nghiệp

CNH

Công nghiệp hóa

DV

Dịch vụ

ĐTN

Đào tạo nghề

ĐVT

Đơn vị tính

HĐH

Hiện đại hóa

HĐND

Hội đồng nhân dân

HTVL


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page viii


PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2013, nước ta có trên 89,71 triệu người, với khoảng 47,49 triệu lao
động và hàng năm được bổ sung mới khoảng 1,5 triệu lao động. Lực lượng lao động
nông thôn là 34,8 triệu người, chiếm 74% lao động xã hội; lao động làm việc trong
nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp là 21,7 triệu người chiếm 62%, còn lại là lao
động phi nông nghiệp. Nông thôn được coi là khu vực cung cấp lao động chủ yếu
cho nền kinh tế nhưng tỉ lệ lao động qua đào tạo thấp dẫn tới năng suất lao động
thấp, thu nhập thấp và bấp bênh.
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của lao động nông thôn trong thực hiện
chính sách nông nghiệp, nông dân và nông thôn, tại Hội nghị lần thứ bảy, Khoá X,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
05/8/2008, Nghị quyết nêu rõ: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các
vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng
với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ
nông thôn mới... Phấn đấu đến năm 2020 lao động nông nghiệp còn khoảng 30%
lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%”. Để cụ thể hoá
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính
phủ đã phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 “Mục
tiêu giai đoạn 2011 – 2015, đào tạo nghề cho 5,2 triệu lao động nông thôn; giai đoạn
2016 –
2020, đào tạo cho 6,0 triệu lao động nông thôn”. Đó là đường lối, chính sách đúng

pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Gia Lộc,
tỉnh Hải Dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo nghề cho lao động
nông thôn và phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng tới công tác đào tạo nghề từ
đó đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông
thôn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề
đối với lao động nông thôn.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


- Đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện
Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề đối với lao động nông
thôn trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất được các giải pháp góp phần tăng cường công tác đào tạo nghề cho
lao động nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hiện trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông
thôn trên địa bàn huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi về nội dung
Luận văn tập trung vào nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo
nghề đối với lao động nông thôn. Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến

thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi
cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã. Nông thôn Việt Nam hiện nay có
khoảng 70% dân số sinh sống.
+ Khái niệm về lao động.
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần cho xã hội. Lao động là hoạt động có mục đích của con
người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời
sống của mình. Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là
cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội. Nó là nhân tố quyết định của bất
cứ quá trình sản xuất nào.
Theo khái niệm của Liên Hợp Quốc thì: “Lao động là tổng thể sức dự trữ,
những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con
người vào cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội” (Bộ Lao động – TB&XH, 1999)
+ Khái niệm lao động nông thôn.
LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống
kinh tế nông thôn.
LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, các nhân sinh
sống ở vùng nông thôn có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn.
Về chất lượng: Bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý
trong độ tuổi lao động (từ 15-60 đối với nam, từ 15-55 đối với nữ) và một số người
đã ngoài tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


Chất lượng tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, thành thạo công việc của lao động, mức độ và tính chất mà công cụ lao động
được trang bị cũng như tính chất của công việc mà lao động đó thực hiện thủ công



động cần có để thực hiện một loạt hoạt động cụ thể trong lĩnh vực nhất định. Nghề
mang tính tương đối, nó phát sinh phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất
và nhu cầu của xã hội” (Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu, 2010).
Như vậy dù hiểu dưới góc độ nào đi nữa thì nghề có một số nét đặc trưng
nhất định như sau:
- Đó là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại.
- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
- Là phương tiện để sinh sống.
- Là lao động kỹ thuật, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi
hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.
Hiện nay trong xu thế phát triển của ngành nghề chịu tác động mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung, về chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy, phạm trù “Nghề” biến đổi mạnh mẽ và
gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
+ Khái niệm đào tạo:
Để hiểu đúng bản chất của đào tạo nghề là gì trước tiên phải đi từ khái niệm
gốc “giáo dục” và “đào tạo”. Từ điển Tiếng Việt có sự phân biệt giữa “giáo dục” và
“đào tạo”. “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch
nhằm truyền cho lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri
thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy, để họ có thể có đủ khả năng tham gia vào lao
động và đời sống xã hội.
Còn “Đào tạo là sự đào luyện, gây dựng, làm phát triển và bồi dưỡng khả
năng”. Như vậy giáo dục bao hàm nghĩa rộng và toàn diện hơn là đào tạo. Hay nói
cách khác, giáo dục bao hàm cả nghĩa đào tạo, nhưng đào tạo nghiêng về quá trình
hoạt động nhằm hình thành và phát triển khả năng lao động sản xuất xã hội của
người lao động.
Còn theo Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế
quốc dân Hà Nội thì “Giáo dục là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con

Theo luật dạy nghề của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng
11 năm 2006 định nghĩa: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến
thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm
được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” (Quốc hội, 2006).
Còn theo Giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân
Hà Nội thì: “Đào tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực, là quá trình trang bị kiến

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm
nhận được một số công việc nhất định”.
Theo tài liệu của Bộ lao động thương binh xã hội xuất bản năm 2002, đào tạo
nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và
thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được
một nghề trong xã hội.
Mục tiêu dạy nghề: Nghị định 136/2006/NĐ - CP ngày 20/11/2006 ban hành
ghi rõ mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất và
dịch vụ, có năng lực thực hành nghề xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức nghề
nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho
người học nghề có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình
độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.
Như vậy, các khái niệm về đào tạo nghề nêu trên không chỉ dừng lại ở
việc trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động
cơ bản. Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người
lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là nguồn vốn
nhân lực, coi công nhân như cái máy sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện
nay.

thuật thực hành (Quốc hội, 2006).
Tựu chung lại, đào tạo nghề chính là đào tạo lao động kỹ thuật, là quá trình
hoạt động đào tạo có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch trong hệ thống đào tạo kỹ
thuật thực hành nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mỗi
cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công việc phức
tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi
nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế.
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là: Dạy
nghề và học nghề:
+ Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành để học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành
thục nhất định về nghề nghiệp. Dạy nghề có ba trình độ đào tạo là sơ cấp nghề,
trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy
nghề thường xuyên.
+ Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành
của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định (Quốc hội, 2006).
- Đào tạo nghề bao gồm:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


+ Đào tạo nghề mới: Là đào tạo cho những người chưa có nghề hoặc chưa
học qua nghề đó.
+ Đào tạo lại nghề: Là quá trình truyền bá những kiến thức về lý thuyết và
thực hành của giảng viên để người lao động có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo,
sự khéo léo thuần thục của một nghề mới, có nhiều hình thức đào tạo lại nghề tương
ứng với đào tạo nghề ban đầu.
+ Đào tạo nghề bổ sung: Là quá trình truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành của giảng viên để người lao động nâng cao hoặc mở rộng trình độ, đào

bộ phận nông dân còn nghèo, sản xuất nhỏ lẻ do thiếu vốn, sự hiểu biết, ứng dụng
khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Mặt khác họ lại không có thói quen hợp tác sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm nên càng khó đưa sản phẩm ra thị trường.
- Giúp nông dân gắn bó với sản xuất nông nghiệp, thực tế hiện nay sản xuất
nông nghiệp hiệu quả thấp lại gặp nhiều rủi ro cả về điều kiện tự nhiên và thị trường
nên nhiều người đã không mặn mà với sản xuất nông nghiệp. Bởi vậy muốn người
dân gắn bó với sản xuất nông nghiệp thì rất cần phải được đào tạo nghề.
- Nâng cao chất lượng lao động nông thôn. Hiện nay hầu hết nông dân, nhất
là các chủ hộ còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, hoạt động lao
động sản xuất chủ yếu vần thông qua kinh nghiệm, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu,
chậm đổi mới nên năng suất thấp, giá trị các sản phẩm hàng hoá chưa tương xứng
với thời gian và chi phí lao động. Chất lượng lao động nông thôn thấp đã làm cho
thu nhập của người lao động không thể tăng nhanh, gây ra khoảng cách giàu nghèo
giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng. Bởi vậy rất cần đào tạo nghề cho nông
dân có như vậy mới nâng cao chất lượng lao động khu vực nông thôn.
- Đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của người nông dân sẽ được trang bị
những kiến thức cơ bản về kỹ thuật các nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp,
những kiến thức về giá cả, thông tin thị trường.
- Đảm bảo an sinh xã hội ở địa phương khi nền kinh tế đang bước vào giai
đoạn chuyển đổi, tái cơ cấu như hiện nay, chúng ta càng phải quan tâm đến việc đào
tạo nghề, trang bị kỹ năng, kỹ thuật cho người nông dân. Đời sống vật chất, tinh
thần của người dân được nâng cao đồng nghĩa với việc đảm bảo trật tự an toàn xã
hội và có điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao các dịch vụ và chất lượng phúc lợi
xã hội.
Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp CNH – HĐH,
công tác ĐTN cần phải được đẩy mạnh cả về số lượng và chất lượng theo hai hướng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 11

Năm là dạy nghề góp phần thay đổi nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp,

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


lao động và việc làm cho một bộ phận lớn thanh niên và xã hội. Khi thực hiện tốt xã
hội hoá đào tạo nghề sẽ tạo ra một phong trào đào tạo nghề sâu rộng, lôi kéo toàn bộ
xã hội vào quá trình học tập, nâng cao trình độ, đào tạo gắn với việc làm, từ đó thay
đổi nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp, lao động và việc làm cho một bộ phận
lớn thanh niên và xã hội.
Sáu là đào tạo nghề cho lực lượng lao động nông thôn còn góp phần vào việc
đảm bảo an sinh xã hội. Trình độ dân trí thấp, cùng với việc sản xuất nông nghiệp
có tính thời vụ sẽ dẫn đến một bộ phận lao động nông thôn dễ sa ngã vào các tệ nạn
xã hội: Ma tuý, cờ bạc, rượu chè,... ảnh hưởng đến xã hội nói chung và gia đình, bản
thân họ nói riêng. Vì vậy, nếu lao động nông thôn được qua đào tạo nghề một cách
bài bản và khoa học sẽ giúp họ nâng cao tầm nhận thức của mình và mở ra cho họ cơ
hội tìm kiếm việc làm mới nhằm nâng cao thu nhập, từ đó giúp cho đời sống kinh tế
của họ được ổn định và phát triển hơn (Quốc hội, 2006).
2.1.3 Đặc điểm công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Nâng cao năng suất lao động cho người nông dân, năng suất lao động của
toàn xã hội.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của các tổ chức, các doanh nghiệp sử dụng
lao động đã qua đào tạo nghề.
- Duy trì và nâng cao chất lượng nguồn lực lao động, giúp cho người nông
dân có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định cuộc
sống cho bản thân và gia đình.
- Tạo ra một lực lượng lao động có trình độ tay nghề, chuyên môn vững
vàng, góp phần thay đổi cơ cấu lao động ở địa phương, đáp ứng nhu cầu nguyện

biến rộng rãi tới toàn thể nông dân.
Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT chú trọng tuyên truyền ý thức và kiến
thức cho nông dân để có thế bắt kịp với nhịp độ đô thị hoá quá nhanh như hiện nay.
2.1.4.2 Nguồn lực phục vụ công tác ĐTN cho LĐNT
Nguồn lực phục vụ công tác đào tạo nghề cho LĐNT bao gồm đội ngũ cán
bộ quản lý, giáo viên dạy nghề, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ đào
tạo nghề, kinh phí phục vụ công tác đào tạo nghề.
2.1.4.3 Tổ chức thực hiện công tác ĐTN cho LĐNT
Tổ chức thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn bao gồm
các công việc như tuyên truyền tư vấn học nghề cho nông dân, khảo sát nhu cầu học
nghề, tổ chức các lớp đào tạo nghề cho nông dân trên địa bàn.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


2.1.4.4 Hình thức,mô hình công tác đào tạo nghề cho nông dân
Tuỳ theo tiêu chí khác nhau mà có các cách phân loại nghề khác nhau. Căn
cứ vào thời gian ĐTN gồm có:
- ĐTN dài hạn (những khoá đào tạo có thời gian từ 01 đến 03 năm thì gọi là
ĐTN dài hạn): Đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật lành nghề cả về lý thuyết và thực
hành, đủ khả năng tiếp cận và sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật, công
nghệ hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật cho sản xuất.
- ĐTN ngắn hạn (các khoá học có thời gian đào tạo dưới 1 năm): Chủ yếu
rèn luyện kỹ năng thực hành, truyền lại cho người học nghề những kiến thức mới
phục vụ công việc, công nghệ, kỹ thuật được sử dụng dạy nghề ngắn hạn thường ở
mức độ đơn giản dễ hiểu, dễ đọc.
Liên quan tới đào tạo nghề có “bậc nghề”. Bậc nghề là thước đo trình độ thực
hành của người công nhân. Tuỳ theo mức độ phức tạp mà từng nghề có số bậc khác

sở ĐTN tiết kiệm được chi phí đầu tư cho việc mua sắm trang thiết bị dạy thực hành
và người học có thể tiếp thu bài học nhanh hơn, doanh nghiệp có thể sử dụng ngay
lực lượng lao động này sau khi tốt nghiệp không phải đào tạo lại. Có nhiều hình
thức liên kết giữa nhà trường bao gồm:
+ Liên kết về tổ chức đào tạo: Liên kết phổ biến giữa các CSDN và các
doanh nghiệp hiện nay là liên kết trong việc tổ chức đào tạo, tức là hoạt động ĐTN
cho học viên sẽ được thực hiện bởi cả 2 chủ thể là nhà trường và doanh nghiệp.
Thông thường việc đào tạo lý thuyết sẽ do nhà trường thực hiện còn phía doanh
nghiệp sẽ đảm nhận việc dạy thực hành.
+ Liên kết về tài chính: Là phía doanh nghiệp sẽ hỗ trợ trực tiếp hoặc gián
tiếp cho CSDN một phần hoặc toàn bộ kinh phí ĐTN cho học viên. Trên thế giới
hiện nay, việc doanh nghiệp đóng góp kinh phí cho ĐTN là rất phổ biến, thậm chí là
bắt buộc ở một số nước nếu doanh nghiệp muốn sử dụng lao động đã qua ĐTN.
Mức độ liên kết về tài chính giữa nhà trường và doanh nghiệp trong ĐTN tuỳ thuộc
vào quy định của từng quốc gia và khả năng tài chính cũng như nhu cầu về nhân lực
của doanh nghiệp.
+ Liên kết về nhân sự: Liên kết về nhân sự bao gồm có liên kết về giáo
viên giảng dạy và công nhân giữa nhà trường và doanh nghiệp. Thông thường
nhà trường sẽ cung cấp giáo viên dạy lý thuyết, thực hành còn doanh nghiệp sẽ
cung cấp công nhân lành nghề, máy móc, thiết bị để hướng dẫn và cho học viên
thực hành nghề.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 16


+ Liên kết về thiết kế và xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo: Nhà
trường phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo sát
hơn với yêu cầu thực tiễn của nền sản xuất hiện đại có định hướng theo yêu cầu




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status