Thực hiện chính sách quản lý trang thiết bị y tế ở nước ta hiện nay - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG SƠN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ
Y TẾ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG SƠN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ
Y TẾ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:

8.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

y tế hiện nay .............................................................................................................61
3.3. Một số giải pháp thúc đẩy thực hiện chính sách quản lý trang thiết bị y tế ở
Việt Nam ..................................................................................................................63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..............................................................................71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1. Đánh giá của doanh nghiệp về thực hiện phân loại và cấp giấy
phép nhập khẩu trang thiết bị y tế ................................................................... 43
Bảng 2 2. Mức độ chi tiết và rõ ràng của các văn bản hướng dẫn .................. 44
Bảng 2 3. Mức độ dễ dàng sử dụng của Cổng giao diện điện tử .................... 46
Bảng 2 4. Tốc độ xử lý của Cổng dịch vụ công trực tuyến ............................ 46
Bảng 2 5. Thủ tục hành chính về phân loại trang thiết bị y tế ........................ 48
Bảng 2 6. Mức độ hài lòng về việc thực hiện chính sách quản lý trang thiết bị
y tế ................................................................................................................... 53
Hinh 1.1. Sơ đồ quản lý trang thiết bị y tế theo vòng đời của sản phẩm ........ 29
Hinh 2.1. Giao diện của công thông tin một cửa Quốc gia ............................. 45


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành Y tế gồm 3 lực lượng quan trọng là Y - Dược - Trang thiết bị và
Công trình y tế. Ba lực lượng này phát triển đồng đều sẽ tạo nên sức mạnh
tổng hợp, phục vụ ngày càng tốt hơn cho chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân
dân. Trong đó, Trang thiết bị và Công trình y tế giữ một vai trò hết sức quan
trọng, quyết định tới hiệu quả, chất lượng của công tác y tế.
Ðược sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước, trong hơn hai mươi năm thực
hiện đổi mới vừa qua, Ngành Y tế đã đầu tư nâng cấp trang thiết bị cho các cơ

Tuy nhiên trang thiết bị y tế của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn
thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực. Hầu hết trang
thiết bị y tế đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn,
bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa
phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao. Trình độ của đội ngũ
cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết công suất trang thiết bị hiện
có. Năng lực của cán bộ kỹ thuật trang thiết bị y tế chưa đáp ứng kịp những
đổi mới về kỹ thuật và công nghệ. Chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực
chuyên sâu về kỹ thuật thiết bị y tế còn thấp so với yêu cầu. Nhiều bệnh viện
tỉnh chưa có phòng quản lý Vật tư - Thiết bị y tế.
Các xí nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế còn ít, chủng loại nghèo nàn,
chất lượng sản phẩm chưa cao. Hệ thống kinh doanh, xuất nhập khẩu chưa
hoàn chỉnh, thiếu vốn, thiếu thông tin, thiếu cán bộ có nghiệp vụ thương mại
và trình độ kỹ thuật về trang thiết bị y tế.
Trong đó nguyên nhân rất quan trọng là các chính sách về quản lý trang
thiết bị y tế còn thiếu đồng bộ và chưa thực sự gắn với công tác quản lý của
các cơ quan quản lý nhà nước về y tế nên việc chọn đề tài “Thực hiện chính
sách quản lý trang thiết bị y tế ở Nước ta hiện nay” làm luận văn thạc sĩ là rất
cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến chính sách quản lý trang thiết bị y tế, có thể kể ra một số
công trình nghiên cứu chính dưới đây.
Tác giả Bùi Việt Hùng [6] có nghiên cứu “Thực trạng công tác quản lý
trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn”. Trong nghiên cứu này
tác giả đưa ra những đánh giá sâu sắc về công tác quản lý trang thiết bị tại
2


Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, đồng thời đưa ra một số kiến nghị để hoàn
thiện công tác này tại Bệnh Viện.

Nam và đề xuất tăng cường hiệu quả đầu tư”. Nghiên cứu này tập trung phân
tích một số nội dung. Trước hết là tình hình đầu tư trang thiết bị y tế trên thế
giới và Việt Nam. Tiếp theo tác giả tập trung phân tích những tồn tại và thách
thức trong đầu tư về trang thiết bị y tế tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế
trong việc tạo ra nền kinh tế thị trường; còn chưa đồng bộ và chưa đáp ứng
nhu cầu; năng lực sản xuất trang thiết bị y tế trong nước chưa cao, còn phụ
thuộc nước ngoài; hệ thống giá dịch vụ và chính sách bảo hiểm y tế chưa phù
hợp với điều kiện kinh tế thị trường; Còn tồn tại một số hạn chế về cơ chế
chậm được khắc phục; Hiệu quả đầu tư trang thiết bị chưa cao. Từ những
phân tích trên, tác giả tiến hành dự báo xu hướng đầu tư và đề xuất một số
biện pháp tăng cường hiệu qua đầu tư trang thiết bị y tế tại Việt Nam.
Nói cách khác, vấn đề chính sách quản lý trang thiết bị y tế ở Việt Nam
vẫn còn là một vấn đề mới chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm và vẫn
còn là khoảng trống trong nghiên cứu mà tác giả Luận văn muốn đi sâu vào
khai thác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là trên cơ sở hệ thống hoá những vấn
đề lý thuyết liên quan đến chính sách quản lý trang thiết bị y tế và phân tích
thực trạng thực hiện chính sách quản lý trang thiết bị y tế ở Việt Nam đề xuất
những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện việc thực hiện chính sách quản
lý trang thiết bị y tế ở Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn thạc sĩ xác định một số
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý thuyết liên quan đến chính sách quản lý
trang thiết bị y tế;
4


- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách quản lý trang thiết bị y tế ở
Việt Nam.

học viên khảo sát là 200 phiếu bao gồm các doanh nghiệp liên quan, các cán
bộ công chức nhà nước có liên quan và các cá nhân đang làm việc ở một số
đơn vị sự nghiệp có liên quan trên phạm vi cả nước. Số phiếu giành cho
doanh nghiệp là 70 phiếu. Số phiếu giành cho cán bộ công chức là 60 phiếu
và số phiếu giành cho cá nhân ở các đơn vị sự nghiệp là 70 phiếu. Số liệu thu
được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS.20.0.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài luận văn thạc sĩ không những đóng góp vế lý luận mà còn đóng
góp về thực tiễn.
Về mặt lý luận, Luận văn đóng góp vào kho tàng lý luận thực hiện chính
sách bằng việc nghiên cứu những vấn đề thực hiện chính sách gắn với một
lĩnh vực cụ thể là quản lý trang thiết bị y tế. Nói cách khác, Luận văn này góp
phần làm phong phú thêm lý luận về thực hiện chính sách công ở một lĩnh
vực cụ thể mà ít được các nhà nghiên cứu là lĩnh vực quản lý trang thiết bị y
tế.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận văn là những khuyến nghị
và giải pháp có giá trị giúp Chính phủ và Bộ Y tế hoàn thiện hơn chính sách
quản lý trang thiết bị y tế nói chung, phân loại trang thiết bị y tế và cấp giấy
phép lưu hành trang thiết bị y tế nói riêng. Đây còn là tài liệu tham khảo cho
hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về chính sách công và quản lý công.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn có kết cấu gồm ba Chương.
Chƣơng 1: trình bày những vấn đề chung về lý luận thực hiện chính
sách quản lý trang thiết bị y tế như khái niệm chính sách công và chính sách
quản lý trang thiết bị y tế; vai trò của chính sách quản lý trang thiết bị y tế;
khái niệm thực hiện chính sách và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện
6


chính sách quản lý trang thiết bị y tế; vấn đề đánh giá chính sách quản lý

gọi là chính sách công và những hành động khác không phải chính sách công
của nhà nước.Tuy nhiên định nghĩa này cũng mang lại những hiểu biết nhất
định về chính sách công như chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước;
và chính sách công được xem là những lựa chọn của nhà nước.
Vào năm 1978, một khái niệm chính sách khác ra đời và cũng được
nhiều người biết đến. Đó là khái niệm do Willian [19, tr. 5], “Chính sách công
là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một
hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục
tiêu và các phương tiện để đạt được mục tiêu trong một tình huống xác định
8


thuộc thẩm quyền”. Với ông, hoạch định chính sách công là một quá trình chứ
không đơn thuần chỉ là sự lựa chọn. Và chính sách công được thể hiện dưới
dạng một tập hợp các quyết định chứ không tồn tại trong một quyết định riêng
lẻ nào.
Tác giả Phan Huy Đường [4, tr.54] cho rằng chính sách công được hiểu
ở hai góc độ: rộng và hẹp. Ở góc độ rộng, chính sách là tổng thể các quan
điểm tư tưởng phát triển, các mục tiêu tổng quát và các phương thức cơ bản
để đạt được mục tiêu phát triển của đất nước. Chính sách theo quan điểm này
là đường lối phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Theo nghĩa hẹp, chính
sách công là một quyết sách của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chín
muồi đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội của đất nước, thông qua hoạt động
thực hiện của các ngành, các cấp có liên quan trong bộ máy nhà nước.
Trên thực tế, cách phân chia của tác giả theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
thật sự không cần thiết. Bởi không thể có chính sách công cho mọi chính sách
công như tác giả phân tích khi nghiên cứu chính sách công ở nghĩa hẹp.
Chính sách công phải gắn với thực tế, gắn với từng vấn đề cụ thể của đời sống
xã hội. Chính sách công phải là chính nó, phải là công cụ mà nhà nước sử
dụng để giải quyết những vấn đề phát sinh từ xã hội.

Nếu đưa vào thực hiện một chính sách tốt không những mang lại lợi ích
to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín
của Nhà nước trong quá trình quản lý xã hội. Tuy nhiên, để có được một
chính sách tốt các nhà hoạch định phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm
kiếm rất công phu. Nhưng dù tốt đến đâu thì chính sách cũng trở thành vô
nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện. Những luận giải trên đây cho
chúng ta nhận thức được đầy đủ về vị trí quan trọng của thực hiện chính sách,
từ đó có ý thức tự giác trong việc tổ chức thực hiện Chính sách công.
Các bước tổ chức thực hiện Chính sách công

10


Để tổ chức điều hành có hiệu quả công tác thực hiện chính sách, trước
tiên cần tuân thủ các bước tổ chức thực hiện cơ bản sau đây:
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chính sách công
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách được xây dựng trước khi đưa
chính sách vào cuộc sống. Các cơ quan triển khai thực hiện chính sách từ
Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực
hiện. Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bao gồm những nội dung cơ
bản sau: Kế hoạch về tổ chức, điều hành; Kế hoạch cung cấp các nguồn vật
lực; Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực
hiện chính sách; Dự kiến những nội qui, qui chế về tổ chức, điều hành; về
trách nhiệm, nhiệm vụ, và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan
nhà nước tham gia: tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen
thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách, v.v.
Dự kiến kế hoạch thực hiện ở cấp nào do lãnh đạo cấp đó xem xét thông
qua. Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực hiện chính sách mang
giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện. Việc điều chỉnh kế
hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định.

phát huy tác dụng trong môi trường thực tế. Muốn vậy phải có sự đồng tâm,
hợp lực của cả người tổ chức, người thực hiện và môi trường tồn tại. Đối với
các cơ quan Nhà nước - người chủ động tổ chức thực hiện chính sách - phải
thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và
toàn xã hội tích cực tham gia thực hiện chính sách.
Nếu việc thực hiện chính sách gặp phải những khó khăn do môi trường
thực tế biến động, thì các cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản lý
tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách.
Đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới.
Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các cơ
quan Nhà nước có thể kết hợp sử dụng biện pháp hành chính để duy trì chính
12


sách. Những hoạt động đồng bộ trên đây sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì
chính sách trong đời sống xã hội.
- Điều chỉnh chỉnh sách công
Điều chỉnh chính sách được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế.
Theo qui định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều
chỉnh bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp,
cơ chế chính sách diễn ra rất năng động, linh hoạt, vì thế cơ quan nhà nước
các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực
hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách
[14].
Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là: Để
chính sách tiếp tục tồn tại chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện
mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế; chứ không
cho phép điều chỉnh mà làm thay đổi mục tiêu - nghĩa là làm thay đổi chính
sách, thì coi như chính sách đó bị thất bại

xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách của các tổ chức
chính trị và xã hội với Nhà nước.
Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo - điều hành của các cơ
quan nhà nước, chúng ta còn xem xét đánh giá việc thực hiện của các đối tượng
tham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp
và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách là
công dân. Thước đo đánh giá kết quả thực hiện của các đối tượng này là tinh
thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những qui định về
cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện
mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian [5, tr.166190].
Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực hiện Chính sách công
14


- Yêu cầu thực hiện mục tiêu
Thực hiện chính sách là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý
nhà nước và các đối tượng tham gia nhằm đạt những mục tiêu trực tiếp. Vì
vậy, đạt mục tiêu chính sách là yêu cầu cơ bản nhất.
- Yêu cầu bảo đảm tính hệ thống
Nội dung của tính hệ thống bao gồm: Hệ thống mục tiêu và biện pháp của
chính sách; hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức thực hiện chính sách; hệ
thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; hệ thống trong sử dụng công cụ
chính sách với các công cụ quản lý khác của nhà nước. Yêu cầu này được đảm
bảo trong thực hiện chính sách sẽ là cơ sở trực tiếp cho việc đạt mục tiêu đề ra.
- Yêu cầu các cơ quan nhà nước phải bảo đảm tính pháp lý, khoa học và
hợp lý trong tổ chức thực hiện Chính sách công
Tính pháp lý được thể hiện trong tổ chức thực hiện chính sách là việc
chấp hành các chế định về thực hiện chính sách để đảm bảo tính tập trung,
thống nhất trong chấp hành chính sách.
Yêu cầu này đòi hỏi hệ thống bộ máy quản lý nhà nước phải gọn, nhẹ đủ

vì cơ chế tác động giữa chúng với các vấn đề chính sách được hình thành trên
cơ sở của qui luật. Những yếu tố khách quan chủ yếu có thể kể ra đây là:
+ Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố gắn liền với mỗi chính sách:
Tính chất của vấn đề chính sách có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn
đề bằng chính sách như: Nếu vấn đề chính sách là đơn giản, liên quan đến ít
đối tượng chính sách thì công tác tổ chức thực hiện sẽ thuận lợi hơn các vấn
đề phức tạp có quan hệ lợi ích với nhiều đối tượng trong xã hội.
+ Môi trường thực hiện chính sách là yếu tố liên quan đến các hoạt
động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự
nhiên và quốc tế.

16


Các hoạt động này diễn ra theo qui luật trong những điều kiện cụ thể,
nên nó độc lập với quá trình thực hiện chính sách. Theo nghĩa rộng, môi
trường thực hiện chính sách chứa đựng toàn bộ các thành phần vật chất và phi
vật chất tham gia thực hiện chính sách như các nhóm lợi ích có được từ chính
sách trong xã hội; các điều kiện vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế; bầu không
khí chính trị; xã hội trật tự; quan hệ quốc tế rộng mở.
+ Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách thể hiện sự
thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện
mục tiêu chính sách
Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách không mâu
thuẫn với nhau và với đối tượng thụ hưởng thì chính sách được triển khai thực
hiện dễ dàng và ngược lại, lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính
sách mâu thuẫn với lợi ích của đối tượng thụ hưởng thì thực hiện chính sách
sẽ khó khăn, thậm chí còn thất bại.
+ Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách được hiểu là thực lực và
tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối

quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với cá nhân và tổ chức trong xã hội có
liên quan đến thực hiện Chính sách công.
+ Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách
Đây là yếu tố ngày càng có vị trí quan trọng để cùng nhân sự và các yếu
tố khác thực hiện thắng lợi chính sách của nhà nước. Để thực hiện chính sách
trong nền kinh tế thị trường hội nhập hiện nay, Nhà nước luôn phải tăng
cường các nguồn lực vật chất và nhân sự, trong đó nguồn lực vật chất cần
tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Trong thực tế, do chỉ thiếu các điều
kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên truyền phổ biến chính sách thì các
cơ quan nhà nước khó có thể chuyển tải những nội dung chính sách đến với
chủ thể tham gia và đối tượng thụ hưởng một cách thường xuyên.
- Sự đồng tình ủng hộ của người dân
18


Là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của
một chính sách. Đây là vấn đề hết sức lớn lao, bởi việc thực hiện các mục tiêu
chính sách không thể chỉ do các cơ quan nhà nước làm, mà phải có sự tham
gia của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Vì nhân dân không chỉ là người
trực tiếp tham gia hiện thực hoá mục tiêu chính sách, mà còn là đối tượng trực
tiếp thụ hưởng những lợi ích do chính sách mang lại. Do vậy, một chính sách
đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân và xã hội về mục tiêu và biện
pháp thi hành thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ
thực hiện. Còn một chính sách không thiết thực với đời sống nhân dân, không
phù hợp với điều kiện và trình độ dân trí thì sẽ bị tẩy chay hoặc “bỏ rơi”
không thực hiện [5, tr.166-190].
1.2. Thực hiện chính sách quản lý trang thiết bị y tế
1.2.1. Khái niệm thực hiện chính sách quản lý trang thiết bị y tế
 Khái niệm chính sách quản lý trang thiết bị y tế
Trang thiết bị y tế là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép,

cấp dịch vụ trang thiết bị y tế; (6) thông tin, nhãn trang thiết bị y tế và (7)
quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế tại các cơ sở y tế.
* Khái niệm thực hiện chính sách quản lý trang thiết bị y tế
Thực hiện chính sách hiểu một cách đơn giản là việc đưa chính sách
„giấy tờ” vào cuộc sống. Thực hiện chính sách bao gồm một quy trình với
nhiều bước khác nhau từ khi lập kế hoạch thực hiện chính sách đến giai đoạn
tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện chính sách để rút ra những bài học cần
thiết cho quá trình thực hiện và quá trình điều chỉnh tiếp theo. Tác giả Lê
Vinh Danh [3, tr.286] cho rằng “thực hiện chính sách là quá trình chuyển
những tuyên bố trên giấy tờ của chinh quyền về loại dịch vụ, mục tiêu, đối
tượng, phương thức thành những hành động nhất định nhằm phân phối dịch
vụ từ tuyên bố”.
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status