LÊ THỊ THÚY AN
KHẢO SÁT VIỆC QUẢN LÍ
NHẬP KHẢU TRANG THIÉT BỊ Y TÉ
ỏ Nước TA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược s ĩ ĐẠI HỌC KHÓA 2fiC2-J#07
/ ' " ' A ^
r „ * /ý'/
Người huớng dan : TS. Nguyễn Thị Sortg H a°^ • / /r\J
Nơi thực hiện : Bộ môn Quản lý và KiìíkiíL
Vụ TTBYT và CTYT
Hà Nội, tháng 05/2007
&
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, tận tình íỊÍủp đỡ của
các thầy cô, bạn bè và người thân. Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tói T.s Nguyễn Thị Song Hà - người đã luôn tận tình hướnẹ dẫn, chỉ
bảo, và cho em rất nhiều ý kiến sâu sắc, giúp em hoàn thành cuốn luận văn
này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Thị Thái
Hằng - Chủ nhiệm bộ môn cùng các thầy cô giáo trong bộ môn Quản lý và
Kinh tế Dược. Các thầy cô đã miệt mài truyền đạt không chỉ kiến thức mà
cồn cả kinh nghiệm sông làm phong phú thêm hành trang cho chúng em
bước vào đời
Cũng xin bày tỏ lòng biết Ơ1Ĩ sâu sắc tới Ban giám hiệu, các
thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và dìu dắt em trong
suốt 5 năm học qua.
Em cũng xin chân thành cảm ơn ThS.KS Nguyễn Minh Tuấn- Phó
vụ trưởng Vụ trang thiết bị và công trình y tế; các cán bộ của công ty Thiết
bị y tê TW1 đặc biệt là cô Nguyễn Thị Lan Anh- trưởng phòng kinh doanh;
các cán bộ của công ty Vimedimex I- những người đã giúp đỡ em hết mình
QĐ
S.W.O.T
: Quyết định
: Strength, Weakness, Opportunity, Threat:
Điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức
TBYT
: Thiết bị y tế
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
TT
: Thông tư
TTB&CTYT
: Trang thiết bị và Công trình y tế
TTB
: Trang thiết bị
TTBYT : Trang thiết bị y tế
TW : Trung ương
USD : Đô la Mỹ
VIMEDIMEXI
: Công ty xuất nhập khẩu y tế 1 Hà Nội
WHO
: World Health Organization -Tổ chức y tế thế giới
XNK
: Xuất nhập khẩu
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN 3
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TRANG THIẾT bị Y t ế
3
1.1.1. Khái niệm và vai trò của TTBYT 3
3.1.2. Số lượng doanh nghiệp tham gia XNK TTBYT: 25
3.1.3. Kim ngạch nhập khẩu trang thiết bị y tế giai đoạn 2004-2006:
28
3.1.4. Cơ cấu trang thiết bị bị y tế nhập khẩu:
32
3.1.5. Nghiên cứu tình hình nhập khẩu trang thiết bị y tế của một số công ty
qua một số chỉ tiêu: 37
3.2. NGHIÊN CÚtJ MỘT số QUY ĐỊNH, QUY TRÌNH, THỦ TỤC HIỆN HÀNH
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ XNK TTBYT 47
3.2.1. Một số quy định, quy trình, thủ tục trong XNK TTBYT: 44
3.2.2. Nhập khẩu ủy thác trang thiết bị y tế: 53
3.2.3.Sơ bộ phân tích tính thích ứng của một số văn bản pháp quy trong lĩnh
vực quảnlýXNK TTBYT ở nước ta: 55
3.3.BÀN LUẬN 61
3.3.1. Bàn luận về tình hình nhập khẩu TTBYT nói chung: 61
3.3.2. Bàn luận về tính thích ứng và một số điểm bất cập của các văn bản pháp
quy trong công tác quản lý xuất nhập khẩu TTBYT: 66
PHẦN 4: KẾT LUẬN, KIẾN nghị, đề xuất 68
4.1. KẾT LUẬN: 68
4.1.1. Về kết quả hoạt động nhập khẩu TTBYT ở nước ta trong những năm gần
đây: 68
4. 1.2. Về sơ bộ tính thích ứng của các quy trình, thủ tục, hệ thôhg văn bản pháp
quy trong công tác quản lý xuất nhập khẩu: 69
4.2. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT: 70
4.2.1. Kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước: 70
4.2.2. Kiến nghị với các công ty làm nhiệm vụ xuất nhập khẩu' 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
27
Bảng 3.10
Tn giá kim ngạch nhập khẩu của các quý năm 2004-
2006
28
Bảng 3.11
Tham khảo chênh lệch giá nhập khẩu của một số
mặt hàng
30
Bảng 3.12
Tham khảo giá nhập khẩu - giá bán lẻ của một số
T1B
30
Bảng 3.13
Giá nhập khẩu trung bình một số loại máy y tế trong
năm 2006
31
Bảng 3.14
Tỷ lệ % theo giá trị TI BYT được nhập từ các nguồn
34
Bảng 3.15
Lượng nhập thiết bị chẩn đoán hình ảnh (tính 5
tháng đầu năm 2005-2006)
36
Bảng 3.16
Trị giá nhập khẩu trực tiếp TTBYT năm 2003 - 2006
37
Bảng 3.17
Cơ cấu nhập TTBYT theo doanh số mua ở công ty
Vimedimex
Tên hình
Trang
Hình 1.1
Biểu đồ biểu diễn mối quan hệ giữa thầy thuốc,
thuốc và TTB
4
Hình 1.2
Thống kê toàn cầu về nguồn sản xuất trang thiết bị
10
Hình 1.3
Sơ đồ hệ thống cung ứng TTBYT
11
Hình 1.4
Quá trình tiến hành phương pháp mô tả hồi cứu
20
Hình 1.5
Kết hợp phương pháp phỏng vấn và thảo luận
nhóm chuyên gia
21
Hình 1.6
Sơ đồ thiết kế nghiên cứu 23
Hình 3.7
Sơ đồ tổ chức quản lý xuất nhập khẩu TTBYT
24
Hình 3.8
Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của các thành phần
tham gia nhập khẩu năm 2006.
26
Hình 3.9
Kim ngạch NK TTBYT của nước ta
Thế giới mà chúng ta đang sống thay đổi không ngừng trước những ứng
dụng của khoa học công nghệ vào sự phát triển kinh tế xã hội. Tất cả các quốc
gia, các ngành nghề đang chuyển mình trong trong xu thế hội nhập cùng phát
triển và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhân tố
con người đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong vận hội mới của đất nước do đó
việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân luôn được quan tâm, đặt lên hàng
đầu.
Đi kèm vói tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, tồn tại song song vói
những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị văn hóa xã hội là những vấn đề khó
khăn mà Việt Nam đang phải đối mặt hậu thòi kỳ mở cửa. Đó là vấn đề ô nhiễm
môi trường, phân biệt giàu nghèo, và đặc biệt là mô hình bệnh tật ngày càng
phong phú, diễn biến theo chiều hướng phức tạp. Những bệnh hiểm nghèo, bệnh
mãn tính tăng nhanh phổ biến như HIV, bệnh tim mạch, những bệnh khó kiểm
soát như SARS, bệnh cúm gia cầm cũng xuất hiện ngày càng nhiều. Do đó nhiệm
vụ của ngành Y, Dược, và Trang thiết bị ngày càng nặng gánh, làm sao để cho
nhân dân có sức khỏe tốt, dồi dào, giảm được tỷ lệ tử vong do các bệnh hiểm
nghèo và ngăn chặn được các dịch bệnh.
Thiết bị y tế- loại hàng hóa đặc biệt, ứng dụng được những thành tựu tiến
tiến của khoa học kỹ thuật, đã và đang góp phần quan trọng, quyết định hiệu quả,
chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho ngưòi thầy thuốc trong công tác
phòng bệnh và chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Tuy nhiên,
trong quá trình hội nhập và phát triển việc quản lý xuất nhập khẩu Trang thiết bị
y tế ở nước ta đang còn nhiều vấn đề bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng
trong nước.
Thực tế cho thấy, Trang thiết bị y tế của Việt Nam hiện nay nhìn chung
còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực, chủ yếu là
1
2
hàng nhập khẩu từ nước ngoài. Các xí nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế còn ít,
chủng loại nghèo nàn, chất lượng sản phẩm chưa cao. Hệ thống kinh doanh, xuất
Các thiết bị này được các nhà sản xuất làm ra, có thể dùng một mình,
hoặc kết hợp nhiều thiết bị y tế vói nhau nhằm phục vụ một hay nhiều mục
đích xác định của con người” [9], bao gồm:
- Chẩn đoán, phòng bệnh, theo dõi, điều tri hoặc giúp bệnh thuyên giảm.
- Chẩn đoán, theo dõi, điều trị, giảm nhẹ hoặc bù đắp trong trường hợp
thương tổn.
- Kiểm tra, thay thế, hỗ trợ quá trình giải phẫu hay quá trình điều trị chức năng.
- Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống.
- Kiểm soát sự thụ thai.
- Khử trùng các thiết bị y tế.
- Cung cấp thông tin về y khoa, thông tin chuẩn đoán có mục đích qua các
cuộc thử nghiệm trong ống nghiệm của các mẫu có nguồn gốc từ cơ thể con
ngưòi [9].
4
Trong khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giói, vai trò của TTBYT đã được
khẳng định là một lĩnh vực chuyên môn của ngành y tế và là một trong ba lĩnh
vực cấu thành ngành y tế. Y, Dược, TTBYT hay nói cách khác Thầy thuốc,
Thuốc và TTB, ba lĩnh vực này gắn kết với nhau chặt chẽ mà nếu thiếu một trong
3 yếu tố thì ngành y tế không thể hoạt động được [7]
Hình 1.1 Biểu đồ biểu diễn mối quan hệ giữa thầy thuốc, thuốc và TTB.
Thuật ngữ thiết bị y tế {medical device) đề cập tói một lĩnh vực rất rộng, từ
những thiết bị đơn giản cho tới máy móc công nghệ cao. Cũng tương tự như
thuốc và những mặt hàng kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ khác, TTBYT rất cần thiết
với quá trình chăm sóc điều tri bệnh nhân tại nhà, tại các trung tâm y tế ở vùng
nông thôn tới các bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên ngành [9].
Do đóng vai trò quan trọng như vậy nên trên thế giới trong vòng hai thập
kỷ cuối thể kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều loại TTBYT hiện đại như máy CT-
scaner, máy cộng hưởng từ (MRI), thiết bị siêu âm mầu Dopler, đã ra đời, giúp
cho việc chẩn đoán bệnh một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, hiệu quả cao
đồng thời còn giúp cho ngưòi bệnh thêm lạc quan, hy vọng hơn trong việc đẩy lùi
Theo thông tư số 13/2002/TT- BYT ra ngày 13- 12- 2002, các loại TTBYT
cụ thể được trình bày trong bảng 1.1 [6]:
6
Bảng 1.1. Phân loại TTBYT theo thông tư I3/2002/TT- BYT của Bộ Y tế
STT LOẠI
1
Thiết bị y tế: các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ
phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên
cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực y tế.
2
Phương tiện vận chuyển chuyên dụng bao gồm: phương tiện
chuyển thương (xe cứu thương, xuồng máy, Xe chuyên dụng lưu
động cho y tế.
3
Dụng cụ vật tư y tế: các loại dụng cụ, vật tư hóa chất xét nghiệm
được sử dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và
chăm sóc sức khỏe.
4
Các loại dụng cụ, vật tư cấy, ghép trong cơ thể gồm: xương nhân
tạo, nẹp, vít cố định xương, van tim, ống nong mạch, ốc tai điện tử,
thủy tinh thể,
Dựa vào các nội dung chuyên môn của y học, ngày nay người ta có thể phân loại
TTB bệnh viện ra 10 nhóm thiết bị chính như sau:
Bảng 1.2. Phân loại TTBYT theo nội dung chuyên môn y học [7]:
STT
TÊN NHÓM
1
Nhóm thiết bị chuẩn đoán hình ảnh: Máy X-quang các loại, máy
cộng hưởng từ, máy chụp cắt lớp điện toán, máy chụp mạch hiện số,
các thiết bị cắt lớp Positron.
1.2. NHỮNG VÂN ĐỂ c ơ BẢN VỂ XUÂT NHẬP KHAU t r a n g
THIẾT BỊ Y TẾ
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về xuất nhập khẩu
❖ Đinh nghĩa xuất nhâp khẩu:
Hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu là hai hình thức cơ bản của hoạt động
thương mại quốc tế.
Xuất nhập khẩu hàng hóa là việc mua bán hàng hóa, dịch vụ vói một quốc
gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ để thanh toán.
Mục đích của hoạt động xuất nhập khẩu là thu được lọi nhuận thông qua
việc khai thác được lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động
quốc tế [11], [12].
8
❖ Mốt số đãc điểm của kỉnh doanh xuất nhâp khẩu:
Kinh doanh xuất nhập khẩu được tiến hành với những chủ thể là những cá
nhân, doanh nghiệp có quốc tịch khác nhau. Hàng hóa thường được mua bán với
khối lượng lớn, đạt tiếu chuẩn quốc tế. Việc buôn bán vượt qua biên giới của một
quốc gia do đó nguồn luật để điều chỉnh phải là luật của nước xuất khẩu, nước
nhập khẩu hoặc luật của nước thứ ba.
Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, đồng tiền thanh toán là đồng tiền mạnh.
Nó là ngoại tệ ít nhất là vói một quốc gia.
Khác vói thị trường trong nước, thị trường trong kinh doanh xuất nhập
khẩu là thị trường rộng lớn, có những đặc điểm khác biệt so với thị trường trong
nước về đặc tính, tâm lý khách hàng, thói quen mua sắm, văn hóa xã hội
Kinh doanh xuất nhập khẩu liên quan đén quan hệ kinh tế chính trị của
nước xuất khẩu, nhập khẩu do đó hoạt động xuất nhập khẩu là cơ hội để doanh
nghiệp có mối quan hệ làm ăn lâu dài với các doanh nghiệp các nước khác.
Việt Nam là nước có quy mô nhỏ trên thị trường quốc tế, không có tác
động đến giá cả của thị trường quốc tế. Thách thức lớn nhất của Việt Nam trong
hoạt động xuất nhập khẩu là quy mô xuất nhập khẩu nhỏ, kinh nghiệm và năng
lực đàm phán xuất nhập khẩu chưa cao, các chính sách xuất nhập khẩu thường bị
xuất TTBYT Việt Nam, đó là chỉ có vài chục cơ sở sản xuất TTBYT trong khi
lượng khách hàng rất lớn bao gồm 900 bệnh viện lớn nhỏ và hơn 10 ngàn trạm y
tế cấp cơ sở. Cung không đáp ứng được cầu cả về số lượng lẫn chất lượng, tất yếu
ngành y tế phải trông vào nguồn nhập khẩu bên ngoài [5].
10
Cũng do điều kiện kinh tế còn nghèo, thêm vào đó cũng chưa có những
chính sách ưu tiên cho phát triển sản xuất TTBYT. Mặt hàng thành phẩm nhập
vào Việt Nam có chi phí thuế thấp hơn cả thuế dành cho nguyên liệu, vật tư lắp
ráp trang thiết bị. Do đó để đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và hướng tới xuất
khẩu vẫn còn là một chặng đường dài ở phía trước. Việc tăng cường hợp tác vói
các tổ chức quốc tế, cho phép thành lập các công ty liên doanh về sản xuất trang
thiết bị đang được đẩy mạnh.
Về xuất khẩu TTBYT hiện nay gần như là không đáng kể. Hiện tại vẫn
chưa có tài liệu quản lý toàn ngành nào thống kê về mặt hàng cũng như trị giá
tiền TTBYT được xuất khẩu ra nước ngoài; Nếu có cũng chỉ là những thị trường
lân cận với các mặt hàng vật tư tiêu hao như bông, băng, kim tiêm.
Với tình hình xuất nhập khẩu thực tế như vậy cũng ảnh hưởng không nhỏ
tói các hoạt động khác như cung ứng, sản xuất, mua sắm, bảo dưỡng TTB.
'> Tình hình cung ứng TTBYT
Hệ thống cung ứng và lưu thông
phân phối TTBYT tạo thành một mạng lưới
từ TW đến địa phương và được mở rộng
vói sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế bao gồm cả các công ty nhà nước, công
ty TNHH, và các tập đoàn lớn của nước
ngoài, góp phần cung cấp những sản phẩm
hiện đại nhất của TTBYT tói Việt Nam.
Với trình độ KHCN và kinh tế nước * *
Hình 1.2. Thống ké toàn cầu về nguổn
ta hiện nay, để đáp ứng nhu cầu về sản xuất TTB
phẩm TTBYT đã được cấp giấy phép lưu hành. Trong đó:
- Vật tư tiêu hao: 33 đơn vị, mặt hàng như: Dụng cụ cao su y tế (Găng
tay, Condoms), dụng cụ nhựa y tế (Bơm tiêm một lần, dây truyền dịch).
- Thiết bị nội thất bệnh viện: 12 đơn vị sản xuất
- Nồi hấp tủ sấy, thiết bị tiệt trùng: 03 đơn vị sản xuất
- Thiết bị chẩn đoán hình ảnh X-quang siêu âm: 02 đơn vị đang nghiên
cứu sản xuất.
- Thiết bị laser phẫu thuật và vật lý trị liệu, phục hồi chức năng: 01 đơn
vị sản xuất
- Thiết bị laser điêu trị: 02 đơn vị sản xuất
- Các thiết bị điện tử y tế khác như điện tìm, máy nghe tìm thai, máy lắc
máu, máy hút dịch: 02 đơn vị sản xuất.
Nhìn vào kết quả trên ta có thể nhận thấy những nét khcd sắc trong lĩnh
vực công nghiệp TTBYT tuy nhiên để phát triển sản xuất TTB Y tế cần có sự
tham gia của nhiều Bộ, ngành liên quan với chủ trương xã hội hoá và đa dạng
hoá, tiến tới có thể tham gia xuất khẩu TTBYT trong các năm tới. Bởi chúng ta
mới chỉ sản xuất được những TTBYT thông thường, chất lượng hàng trong nước
chưa cao, đôi khi còn hay hỏng vặt và các cơ sở y tế trong nước cũng chưa mấy
“mặn mà” với hàng nội địa. Các cơ sở sản xuất còn ít, nhỏ lẻ và chưa được đầu
tư đúng mức để đổi mói công nghệ sản xuất. Thêm nữa giá thành TTB thường
cao, chưa có sức cạnh tranh do chưa có chính sách ưu tiên về vay vốn ưu đãi, xin
thuê đất để mở rộng cơ sở sản xuất, thuế nhập phụ tùng linh kiện điện tử, cơ khí
13
phục vụ cho quá trình lắp ráp sản xuất, sửa chữa, bảq dưỡng TTBYT. Do đó tất
yếu trang thiết bị y tế nhập khẩu chiếm ưu thế.
> Tình hình trang bị và sử dụng TTBYT tại Việt Nam:
Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, trong hơn mười năm thực hiện
đổi mới ngành y tế đã đẩu tư nâng cấp các TTBYT tại các cơ sở y tế đặc biệt là
các trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội, TP.HỒ Chí Minh như bệnh viện Bạch
Mai, Chợ Rẫy, 108 quân đội
Thiết bị sinh hoá
và huyết học
Máy sinh hoá nhiều thông số
499 421
Máy huyết học tự động (8-12 thông số) 453
347
Thiết bị điều trị
Máy lọc thận nhân tạo
72 61
Máy Phaco
6 6
Máy gia tốc tuyến tính
1 1
Máy chạy tia Co ban
8 8
Phẫu thuật và
hồi sức cấp cứu
Máy gây mê
2036 1792
Monitoring
971 864
(Nguồn: Vụ TTB-công trình y tê'20C
>2)
14
Tại 64 tỉnh, thành phố trực thuộc TW đều được trang bị đủ TTB để sàng
lọc phát hiện bệnh nhân bị nhiễm HIV, viêm gan, một yêu cầu đặc biệt quan
trọng trong công tác truyền máu an toàn [6], [8].
Các Trung tâm y tế huyện đã được tran^bĩnhững thiết bị chẩn đoán thiết
yếu, hầu hết đã có máy X-quang với công suất phù hợp, máy siêu âm chẩn đoán
và xe ô tô cứu thương. Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dụng cụ
15
Bảng 1.5. Công suất sử dụng TTB Y tế ở một số nước
Đơn vị: tổng số lần sử dụng!năm
MRI
CT X-quang
Siêu âm
Ca-na-da 4666
7745
Mỹ 3412 5298
Việt Nam (công lập)
3779 7721 4832
Nguồn: Mỹ [13], Ca-na-da [15], Việt Nam [4]
Công suất sử dụng TTB y tế chưa cao, một phần vì dân không có khả năng
chi trả sử dụng dịch vụ, một phần vì đầu tư thừa hoặc chưa đồng bộ, tổ chức sử
dụng chưa hiệu quả và một phẫn vì TTB hư hỏng, thiếu kinh phí và cán bộ kỹ
thuật.
Chúng ta phải thừa nhận thực tế TTBYT của Việt Nam hiện nay nhìn
chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực. Hầu hết
TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo
dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa phương
không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao.
> Công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT:
Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là giải quyết bảo dưỡng, sửa chữa TTB y
tế. Hiện nay hệ thống y tế đang thiếu cán bộ có đủ kỹ năng bảo dưỡng và sửa
chữa TTB. Ngành sản xuất TTB vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phụ tùng thay
thế. Ngân sách nhà nước hiện nay dành cho bảo dưỡng, sửa chữa còn thấp so với
nhu cầu. Trung bình kinh phí bảo dưỡng trong 1 năm cho các thiết bị y tế không
nhỏ, tuỳ thuộc vào từng chủng loại thiết bị (xem bảng 1.6).
16
Bảng 1.6. Chỉ phí bảo dưỡng TTBYT bình quân một năm