VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG THIÊN AN
TỘI HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG THIÊN AN
TỘI HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
TAND
: Tòa án nhân dân
TP.HCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Hình sự sơ thẩm (Thuộc thẩm quyền cấp tỉnh)
Bảng 2.2. Hình sự phúc thẩm
Bảng 2.3. Hình sự sơ thẩm (Thuộc thẩm quyền cấp huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh)
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính
sách pháp luật phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhằm cụ thể hóa
và tổ chức thực hiện tốt chủ trương trên, trong thời gian ngắn, Bộ Chính trị đã ban
hành hai Nghị quyết 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản - tội phạm nằm trong
nhóm các tội xâm phạm sở hữu, là nghiên cứu về những hành vi có tính nguy hiểm
cho xã hội và diễn biến phức tạp. Nội dung này đã được một số nhà nghiên cứu luật
học đề cập trong các sách chuyên khảo, luận văn và khóa luận tốt nghiệp.
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
liên quan đến đề tài luận văn, đó là:
- Giáo trình luật hình sự Việt Nam , Đại học luật Hà Nội (2011), Nhà xuất
bản Công an nhân dân; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm xâm
phạm sở hữu) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Đại học quốc
gia Hà Nội (2002), Giáo trình sau đại học về luật hình sự Việt Nam phần các tội
phạm của GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên (2014), Nhà xuất bản khoa học xã hội,
Hà nội…
Tuy nhiên, hiện nay công trình nghiên cứu chuyên sâu đầy đủ riêng đối với
tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản vẫn chưa nhiều. Nhất là vẫn chưa có
công trình nghiên cứu về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản từ thực tiễn
khoanh vùng một địa phương cụ thể. Do đó luận văn này sẽ đóng góp phần nào về
việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn đối với các hành vi cụ thể quy định
trong Bộ luật hình sự đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên thực
tiễn địa bàn tỉnh Đồng Nai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là phân tích khoa học để làm sáng
tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản theo pháp luật hình sự Việt Nam và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng trong
xét xử.
2
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
điểm mới trong quá trình nghiên cứu. Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng
về chính sách hình sự; quan điểm, đường lối xử lý các tội xâm phạm sở hữu theo
pháp luật hình sự Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất của luận văn có ý nghĩa quan trọng đối
với việc nâng cao hiệu quả khi áp dụng những quy định của pháp luật hình sự hiện
hành xử lý đối với các hành vi phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
Đồng thời qua đó tác giả mong muốn góp phần hoàn thiện các quy định của pháp
luật đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng, hoàn thiện quy
định của pháp luật hình sự nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể được sử dụng làm tư liệu tham khảo cho cán bộ làm công
tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học luật hình sự, cho các cán bộ thực tiễn đang
công tác trong các cơ quan bảo vệ pháp luật như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án và các sinh viên chuyên ngành luật hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lập pháp hình sự Việt Nam về tội hủy
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội hủy hoại hoặc cố
ý làm hư hỏng tài sản và thực tiễn thi hành tại tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của
pháp luật về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong xét xử
4
5
nghĩa, nhưng quan hệ về tài sản là quan hệ chủ yếu và là đặc trưng của các tội xâm
phạm sở hữu nói chung và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng.
Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là dấu hiệu cơ bản nói lên bản chất
chính trị, xã hội của tội phạm, dấu hiệu này được coi là dấu hiệu nội dung quyết
định những dấu hiệu khác của tội phạm. Một hành vi sở dĩ bị quy định trong luật
hình sự là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự vì nó có tính nguy hiểm cho xã
hội do đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được
luật hình sự bảo vệ. Tuy nhiên, tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại
không thể là yếu tố duy nhất phản ánh mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi mà chỉ khi được kết hợp với những yếu tố khác nó mới phản ánh hành vi là
nguy hiểm đã đến mức coi là tội phạm và cần phải xử lý bằng chế tài hình sự hay
không. Tính nguy hiểm cho xã hội được phản ánh ở hai đại lượng: tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi. Tính chất của hành vi là đặc tính về "chất" của thiệt hại,
được xác định căn cứ vào tính chất của quan hệ xã hội bị thiệt hại, quan hệ xã hội
càng quan trọng thì tính chất của thiệt hại càng nghiêm trọng. Mức độ của thiệt hại
là đặc tính về "lượng" của thiệt hại, tùy theo từng loại thiệt hại mà mức độ đó được
biểu hiện khác nhau. Vì vậy, tính chất và mức độ của thiệt hại là một căn cứ để
đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, khi kết hợp với các căn cứ khác nó
phản ánh một hành vi là nguy hiểm "đáng kể" hay "không đáng kể" cho xã hội, tạo
cơ sở để nhà làm luật tội phạm hóa và phi tội phạm hóa. Bộ luật hình sự qui định
Tội hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản do nó đã xâm hại đến sở hữu của nhà nước,
tập thể, cá nhân là quan hệ xã hội được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Khi thực
hiện hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác, không những tội
phạm xâm hại đến sở hữu mà còn xâm hại đến sự phát triển của các hoạt động sản
xuất kinh doanh của nền kinh tế, cũng như xâm hại đến trật tự an toàn xã hội.
Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm cho tài sản bị mất giá
trị sử dụng hoặc làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản. Đây là tội phạm gồm
hỏng tài sản. Nhưng những giấy tờ thể hiện quyền về tài sản như hóa đơn lãnh hàng
v.v.. có thể là đối tượng tác động của tội phạm này trong một số trường hợp nhất
định.
7
Tài sản được pháp luật nói chung cũng như luật hình sự nói riêng bảo vệ, về
nguyên tắc phải là tài sản hợp pháp. Tuy nhiên những hành vi xâm phạm tài sản
khác, dù tài sản đó là bất hợp pháp, vẫn bị coi là trái pháp luật có thể cấu thành tội
phạm và xử lý về mặt hình sự. Điều này hoàn toàn cần thiết nhằm đảm bảo trật tự
chung của xã hội.
Như vậy, khách thể của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản cũng
tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội hủy hoại hoặc cố ý làm
hư hỏng tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến
quan hệ sở hữu, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là
tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
mà gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định người phạm tội đã gây ra hậu quả
nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, nếu hủy hoại hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản nhằm mục đích xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của con
người thì hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trở thành thủ đoạn của
hành vi giết người hoặc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác.
1.1.2.2. Mặt khách quan của tội phạm
Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là tội có cấu thành tội phạm vật
chất. Về mặt khách quan, cấu thành tội phạm tội này có ba dấu hiệu:
- Hành vi khách quan của tội này là hành vi hủy hoại tài sản hoặc hành vi
làm hư hỏng tài sản.
sản không bị mất hẳn giá trị sử dụng và có khả năng khôi phục lại toàn bộ hoặc một
phần giá trị sử dụng thì coi là cố ý làm hư hỏng tài sản.
Đây là tội phạm gồm hai hành vi độc lập nhưng lại cùng tính chất, nên nhà
làm luật quy định chung trong cùng một điều luật. Do đó, tùy từng trường hợp cụ
thể mà xác định người phạm tội hủy hoại tài sản hay chỉ cố ý làm hư hỏng tài sản.
Nếu người phạm tội có cả hai hành vi hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản thì phải
9
định tội là hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản, chứ không định tội là hủy hoại
hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
- Hậu quả của tội phạm:
Cấu thành tội phạm tội này đòi hỏi có hậu quả là tài sản bị hủy hoại hoặc bị
làm hư hỏng. Tội phạm được coi là hoàn thành khi hậu quả này đã xảy ra. Khác với
tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, dấu hiệu hậu quả ở tội này không đòi hỏi
phải là thiệt hại nghiêm trọng. Điều luật đòi hỏi mức độ thiệt hại của hậu quả của tội
phạm trong trường hợp bình thường phải từ 2.000.000 đồng trở lên. Trong các
trường hợp khác, hậu quả của tội phạm không đòi hỏi phải ở mức độ như vậy. Đó là
các trường hợp:
- Gây hậu quả nghiêm trọng;
- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản của người khác mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này và chưa được xóa án tích.
Trong những trường hợp này thì hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản có giá trị lớn hay nhỏ đều có thể thỏa mãn dấu hiệu hậu quả của tội phạm này.
Tuy nhiên, nếu giá trị tài sản bị hủy hoại hoặc làm hư hỏng quá nhỏ và do vậy dẫn
đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể thì hành vi hủy hoại hoặc
làm hư hỏng tài sản không bị coi là tội phạm (khoản 4 Điều 8 Bộ Luật hình sự năm
quan hệ nhân quả với nhau, nghĩa là thiệt hại đó do chính hành vi của họ gây ra.
Việc xác định quan hệ nhân quả là cần thiết nhằm tránh trường hợp sai lầm khi buộc
người không gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản hậu quả là dấu
hiệu bắt buộc nếu chưa có hậu quả xảy ra thì chưa cấu thành tội phạm và tội phạm
này cũng không có giai đoạn phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội.
1.1.2.3. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là chủ thể thường, là người có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật hình sự quy định.
Đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, chủ thể của tội phạm
cũng tương tự như đối với các tội xâm phạm sở hữu, đó là: những người thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội, có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu
11
trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 143 BLHS năm
1999 với khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (khoản 1 Điều 143) và từ 02
năm đến 07 năm (khoản 2 Điều 143) thì độ tuổi người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này vì hai khoản này
chỉ là tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, nhưng phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm này quy định tại khoản 3, và khoản 4 của điều luật vì hai
khoản này là tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2
Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999) nhằm đảm bảo tính minh bạch, nhân đạo trong
xử lý đối với đối tượng này theo tinh thần của Hiếp pháp năm 2013 và Công ước
của Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em.
Người phạm tội từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
phạm này theo quy định tại khoản 1 Điều 12 BLHS năm 1999.
Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì chủ thể của tội phạm này là những
người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người thực hiện hành vi nguy
định rõ hai hình thức lỗi cố ý phạm tội, tuy không nói rõ đó là lỗi cố ý trực tiếp và
cố ý gián tiếp, nhưng với nội dung quy định như trên chúng ta cũng hiểu được đó là
hai hình thức lỗi : cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp.
Mục đích của người phạm tội là mong muốn hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài
sản của người khác. Ngoài mục đích này, người phạm tội không có mục đích nào
khác và mục đích này cũng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Nếu người
phạm tội có mục đích khác, còn việc hủy hoại tài sản hoặc làm hư hỏng tài sản chỉ
là phương pháp để đạt được mục đích khác thì không phạm tội hủy hoại hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản mà tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về các tội tương ứng.
Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội này. Người phạm tội có thể
có động cơ khác nhau như thù tức, bất mãn, để che giấu tội phạm v.v.. Việc định tội
không đòi hỏi phải xác định động cơ cụ thể. Hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng dù
do động cơ nào thúc đẩy cũng đều cấu thành tội phạm. Việc xác định động cơ nhất
định có ý nghĩa trong việc xác định khung hình phạt.
13
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội hủy hoại hoặc cố
ý làm hư hỏng tài sản từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự
năm 2015
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985
- Giai đoạn sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền nhân dân non
trẻ mới được thành lập phải đối mặt với nhiều khó khăn, để kịp thời điều chỉnh các
quan hệ xã hội, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó có
những văn bản pháp luật hình sự quy định về các tội xâm phạm sở hữu công cộng
và tội xâm phạm sở hữu công dân. Bên cạnh những văn bản này, một số văn bản
pháp luật của chế độ cũ cũng tạm thời được áp dụng. Tuy nhiên, do yêu cầu tình
hình thực tiễn nên việc đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm tuy được Nhà
đặc biệt nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng. Tuy nhiên, trong tình hình
cấp bách, các văn bản pháp luật nói chung cũng như văn bản pháp luật hình sự nói
riêng mới ban hành không thể đủ điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng. Vì thế,
ngày 10/10/1945, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 47-SL tạm thời giữ lại các luật
lệ cũ không mâu thuẫn với chế độ mới, không trái với nguyên tắc độc lập của nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà. Việc ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự
của Nhà nước ta trong thời gian này đã đáp ứng được yêu cầu giữ vững chính quyền
nhân dân, chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến của nhân dân ta sau này. Tuy
nhiên, việc quy định tội phạm và hình phạt trong nhiều văn bản pháp luật hình sự đã
dẫn đến việc khó khăn trong áp dụng thống nhất pháp luật.
- Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước (1954 -1975): sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp
định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm
thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị. Tình hình đó đã hình thành ở nước ta
hai miền Nam – Bắc bị chia cắt có chế độ chính trị và xã hội khác nhau. Ở miền Bắc
lúc này đang tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo thành hậu phương
vững mạnh cho miền Nam tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, dân chủ
nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Pháp luật hình sự giai
đoạn này thực hiện nhiệm vụ lịch sử được đặt ra cho cả hai miền Bắc Nam. Nhà
nước đã tiếp tục ban hành một số văn bản pháp luật hình sự, một mặt chấm dứt áp
dụng luật lệ của chế độ cũ, mặt khác hoàn thiện các quy định về tội phạm và hình
15
phạt để có cơ sở xử lý các hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu của Nhà ước và sở
hữu của công dân. Chưa có văn bản pháp luật hình sự nào ghi nhận khái niệm tội
phạm và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong thời kỳ này. Pháp luật
hình sự thời kỳ này chủ yếu theo sát tình hình thực tế để phục vụ kịp thời các yêu
cầu về chính trị. Ngày 30/6/1955, Thông tư số 19-VHH của Bộ Tư pháp đã khẳng
định việc hoàn toàn xóa bỏ mọi luật lệ của chế độ cũ. Ngày 15/6/1956, Sắc lệnh số
- Pháp lệnh số 150-LCT do Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ban hành ngày
21/10/1970 về việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân cũng quy định
nhiều hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu công dân, trong đó có Điều 5 quy định về
Tội cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản riêng của công dân. Theo đó quy định
về tội danh hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của công dân tương đối cụ thể và
chặt chẽ.
Điều 5. Tội cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản riêng của công dân.
1. Kẻ nào cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản riêng của công dân thì bị
phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.
2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây:
a) Đốt cháy hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác;
b) Có lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại hoặc gây
hậu quả nghiêm trọng khác;
d) Để che giấu tội phạm khác;
Thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm.
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm
đến 20 năm.[35,tr.1]
Như vậy, về cơ bản hai tội trên đều có hành vi phạm tội giống nhau đó là
hành vi cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản. Với hành vi có cùng tính chất
nhưng lại tác động lên đối tượng là hai loại tài sản khác nhau đó là tài sản xã hội
chủ nghĩa và tài sản của công dân nên được quy định thành hai tội phạm khác nhau
trong hai pháp lệnh.
Mặt khác, do tính chất nền kinh tế lúc này là tập trung, bao cấp đối với toàn
xã hội, tài sản của Nhà nước được bảo vệ đặc biệt nên chính sách xử lý đối với tội
17
cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa nghiêm khắc hơn ở tội cố
ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của công dân, ở tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư
phân loại tội phạm được ghi nhận với hai loại tội phạm là ít nghiêm trọng và
nghiêm trọng.
Hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản được ghi nhận trong Chương XII
về các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa tại Điều 138 (Tội hủy hoại tài sản xã
hội chủ nghĩa) và Chương XIV về các tội xâm phạm sở hữu của công dân tại Điều
160 (Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân).
Về cơ bản hai tội "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa"
và tội "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng của công dân" vẫn tiếp tục được quy định
với nội dung như hai pháp lệnh ngày 21/10/1970 và được thay đổi phù hợp với tình
hình diễn biến mới của tội phạm.[17]
Tội cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa có tính chất gần giống như tội
hủy hoại tài sản xã hội chủ nghĩa, khác nhau ở mức độ làm mất giá trị sử dụng của
tài sản. Ở tội hủy hoại hành vi khách quan là hành vi hủy hoại, hành vi này làm giá
trị sử dụng của tài sản bị mất ở mức độ không có hoặc khó có điều kiện khôi phục
lại được, hậu quả là thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa bị hủy hoại; còn ở tội cố ý làm
hư hỏng thì hành vi khách quan là hành vi làm hư hỏng, hành vi này làm giá trị sử
dụng của tài sản bị mất ở mức độ còn điều kiện khôi phục lại được, hậu quả là thiệt
hại tài sản xã hội chủ nghĩa bị hư hỏng. Do đó, hai tội này được quy định cùng
trong một điều luật (Điều 138 BLHS năm 1985) và có cùng những khung hình phạt
giống nhau. Tương tự tội cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân và tội hủy hoại tài
sản của công dân cũng được quy định trong cùng một điều luật với những khung
hình phạt giống nhau (Điều 160 BLHS năm 1985).
Cả hai tội quy định tại Điều 138 và Điều 160 BLHS năm 1985 đều là tội có
cấu thành vật chất, là những hành vi cố ý làm mất giá trị sử dụng của tài sản. Sự
khác nhau của hai điều luật này đó là đối tượng tác động của hành vi phạm tội là hai
loại tài sản khác nhau, đó là tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân.
Qua quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự 1985 cùng với sự
thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội, nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ kinh tế