VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Lê Minh Tường
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Lê Minh Tường
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số:
8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, khóa VI
đợt 2 năm 2015.
Các thầy, cô giảng viên của Học viện đã tham gia giảng dạy, truyền
đạt cho tôi những kiến thức quý báu.
TS. Đinh Thị Mai - Giảng viên Khoa Luật của Học viện Khoa học xã
hội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận
văn.
Ban lãnh đạo và các Thẩm phán Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố
Hồ Chí Minh đã cung cấp số liệu, tài liệu tham khảo, các bản án hình sự sơ
thẩm và phúc thẩm, trao đổi kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn, đóng góp
nhiều ý kiến thiết thực cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Các anh, chị học viên Lớp cao học đào tạo trình độ thạc sĩ về chuyên
ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự khóa VI đợt 2 năm 2015 đã đóng góp
nhiều ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn.
Gia đình, người thân đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Minh Tường
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ
CỦA TÒA ÁN TRONG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ ............................................................................................ 6
1.1. Khái niệm tranh tụng và vai trò của tòa án trong tranh tụng ................. 6
1.2. Các chủ thể của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự ........... 9
1.3. Đặc điểm, ý nghĩa và mối quan hệ của tòa án với các chủ thể khác
trọng và đề cập trong các đạo luật của mỗi quốc gia. Qua lịch sử đấu tranh,
tồn tại và phát triển của loài người, quyền đó vẫn luôn luôn được ghi nhận và
bảo đảm. Những nguyên tắc về quyền con người, trong đó có quyền của bị
cáo trong hoạt động tư pháp hình sự luôn được hoàn thiện dần theo thời gian
và đã được khẳng định trong các văn bản pháp lý như Đạo luật của Anh năm
1689 về các quyền hoặc Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 đã ghi nhận:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được
sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Bản tuyên ngôn nhân quyền
của Pháp năm 1791 cũng khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về
quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Ở Việt
Nam, Chương V Hiến pháp năm 2013 có quy định “Quyền con người, quyền
công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần
thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã
hội, sức khỏe của cộng đồng” và “Người bị buộc tội được coi là không có tội
cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6
năm 2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày
càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc
bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ
pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội
phạm và vi phạm”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng
mới đây cũng tiếp tục đặt ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp
1
quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch vững mạnh, bảo
- Vũ Thành Long (2014), Cần tháo gỡ một số vướng mắc nhằm nâng
cao chất lượng hoạt động tranh tụng của Luật sư tại phiên tòa hình sự, Tạp
chí Kiểm sát (số 15), tr. 33-36;
- Tôn Thiện Phương (2015), Các giải pháp về công tác cán bộ của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng của
kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự, Tạp chí Kiểm sát (số Tân Xuân), tr. 28-33;
Tuy nhiên, thực tiễn nghiên cứu chưa có ấn phẩm, chưa có tài liệu nào
nghiên cứu về những bất cập trong quy định về vai trò của tòa án trong tranh
tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tại Quận 5, Thành phố
Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích một số quy định pháp luật tố tụng hình sự cụ thể là
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật
tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 và các văn bản liên quan về vai trò của tòa
án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, luận văn hướng tới
nghiên cứu tính cần thiết xây dựng cơ chế tranh tụng hoàn thiện trong tổ chức,
vận hành một phiên tòa sơ thẩm hình sự để đảm bảo tốt hơn quyền con người,
quyền công dân của bị can, bị cáo trong hoạt động xét xử.
Đồng thời, đưa ra những bất cập từ thực tiễn áp dụng pháp luật và giải
pháp hoàn thiện pháp luật liên quan.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá các vấn đề lý luận và pháp luật tố
tụng hình sự có liên quan đến đề tài luận văn, tác giả chọn lọc và phát triển ý
tưởng khoa học, từ đó đưa ra những luận điểm của mình về vấn đề vai trò của
3
tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định hiện
cộng sản Việt Nam. Luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu
luật học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, tư duy
logic, phương pháp quy nạp, diễn giải… nhằm làm sáng tỏ nội dung và phạm
vi nghiên cứu của đề tài.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những dữ liệu, thông tin thực tiễn xét
xử tại Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm hệ
thống lý luận về vai trò của Tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những vấn đề đưa ra của luận vân có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, biên soạn tài liệu về vai trò của Tòa án
trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn Quận 5,
Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn là tài liệu tham khảo và vận dụng cho các
Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư trên địa bàn Quận 5, Thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng và cả nước nói chung; trên cơ sở đó, góp phần không ngừng
hoàn thiện và nâng cao lý luận về vai trò của Tòa án trong tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về vai trò của Tòa án
trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 2. Thực trạng về vai trò của Tòa án trong tranh tụng từ thực
tiễn của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Yêu cầu và giải pháp đảm bảo vai trò của Tòa án trong tranh
tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự.
6
luận, tranh cãi giữa hai bên tại phiên tòa, mà hiểu tranh tụng diễn ra trong một
quá trình tố tụng lâu dài, được cả hai bên tiến hành một cách quyết liệt để
“cạnh tranh” nhau để “chống” lại nhau. Theo đúng nghĩa, tranh tụng là việc
bên buộc tội (công tố) cố gắng để thuyết phục các thành viên Hội đồng xét xử
tin rằng bị cáo là người có tội, còn bên bị buộc tội thì ngược lại, cố gắng và
phải sử dụng mọi biện pháp, lý lẽ, căn cứ để biện bạch, bác bỏ những lời buộc
tội do bên công tố đưa ra. Và điều đáng lưu ý là trong hệ thống tố tụng tranh
tụng gốc, Luật sư của bị cáo có thể bất chấp thủ đoạn để bảo vệ thân chủ bằng
mọi giá. Phiên tòa tranh tụng thật sự là một “chiến trường” theo đúng nghĩa
của nó khi mà kết cục phiên tòa, chỉ có một bên giành được phần thắng.
Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của
xã hội loài người. Cơ chế tố tụng này đã được áp dụng từ thời kỳ Hy lạp cổ
đại. Ở thời kỳ đó, nguyên cáo và bị cáo đã được nhờ người thân của mình bào
chữa trước tòa án. Sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp
liên tục”. Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và
từng bước được khẳng định, đến nay đã được áp dụng hầu hết ở các nước trên
thế giới.
Ở Việt nam, về mặt lập pháp, khái niệm tranh tụng chưa được chính
thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước
ta được ban hành từ năm 1945 đến nay. Đặc thù của tố tụng hình sự là các chủ
thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng cùng nhau xác định sự thật
khách quan trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các
chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau của vụ án và đối chiếu với các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự. Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật
khách quan về vụ án thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự
phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên
sự thể hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các phương diện hoạt động
cơ bản của Tòa án mà đại diện là Hội đồng xét xử trong mối quan hệ với
8
các chủ thể tham gia tranh tụng khác trong quá trình tranh tụng nhằm đưa
ra quan điểm, chứng cứ của mình để làm sáng tỏ sự thật của vụ án tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm.
1.2. Các chủ thể của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Tranh tụng tại phiên toà chính là sự đối đáp giữa một bên buộc tội
(Kiểm sát viên hoặc người bị hại) và một bên gỡ tội hoặc giữa hai bên có
quyền và lợi ích đối lập nhau bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu
bằng cách hỏi đáp và tranh luận.
Như vậy, có 2 chủ thể chính tham gia trong quá trình tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm hình sự, gồm:
- Bên buộc tội: Đại diện chính là Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ
thẩm hình sự. Đối với những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị
hại, người bị hại hoặc đại diện của người bị hại cũng tham gia buộc tội và
tranh luận, đối đáp, hỏi và đưa ra ý kiến hoặc trình bày quan điểm về một vấn
đề cụ thể, đồng ý hay phản đối ý kiến của người khác.
- Bên gỡ tội: Chủ thể chính là bị cáo hoặc người bào chữa của bị cáo,
nhằm trả lời hoặc đưa ra những ý kiến, quan điểm phản bác hoặc tranh luận
về quan điểm buộc tội của Kiểm sát viên (Viện kiểm sát) hoặc của bên bị hại.
Đối với Tòa án mà trực tiếp là Hội đồng xét xử với vai trò là trọng tài,
điều khiển việc tranh tụng, điều khiển phiên tòa, điều khiển quá trình xét hỏi,
tranh luận cũng như quyết định xử lý các tình huống có thể xảy ra tại phiên
toà (chỉ huy tranh tụng), trên cơ sở tranh tụng, tranh luận mà các bên đã đưa
ra quan điểm, chứng cứ chứng minh và Tòa án (Hội đồng xét xử) phải đánh
giá khách quan toàn diện vụ án tìm ra chân lý và đưa ra kết luận phán quyết
có thể tiến hành qua điện thoại, hội nghị và các cầu truyền hình trực tiếp. Tòa
10
án tiến hành xét xử một vụ án ở một nơi có thể nghe lời khai trực tiếp của một
người làm chứng nơi khác.
Thứ hai, trong quá trình tranh tụng, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
giữ vai trò là bên thứ ba vô tư, khách quan và dựa vào lí lẽ của các bên để
cân nhắc ra phán quyết (vai trò trọng tài):
Do thủ tục tranh tụng không phân chia thành giai đoạn nên các chứng
cứ đều do các bên trực tiếp đưa ra trong quá trình tranh tụng giữa Công tố
viên và bị cáo, Luật sư. Thẩm phán ở các nước không có trách nhiệm làm rõ
bị cáo phạm tội hay không phạm tội. Đây cũng là điểm khác so với tố tụng xét
hỏi, theo đó trước khi mở phiên tòa các chứng cứ đã được điều tra, thu thập
đầy đủ và thể hiện trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, Thẩm phán chỉ kiểm tra
lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của các chứng cứ này. Vai trò của Thẩm
phán trong tố tụng xét hỏi không phải là một bên trung lập mà là người có vai
trò chính trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán có
thể trực tiếp chất vấn nếu như lời khai của bị cáo còn có nhiều mâu thuẫn hay
bị cáo chối tội. Trong tố tụng xét hỏi, mọi hành vi của những người tiến hành
tố tụng và những người tham gia tố tụng đều chịu sự điều khiển của chủ tọa
phiên tòa, các bên muốn đặt câu hỏi cho bên kia hoặc những người tham gia
tố tụng khác đều phải thông qua chủ tọa phiên tòa. Trong khi đó tại phiên tòa
theo tố tụng tranh tụng mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia
cũng như cho những người tham gia tố tụng khác. Trong nhiều trường hợp họ
có quyền ngắt lời bên kia, phản đối lại các ý kiến mà bên kia vừa đưa ra.
Thứ ba, bên cạnh vai trò của Thẩm phán thì quá trình tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm hình sự có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân:
Hội thẩm nhân dân mặc dù không tham gia vào quá trình tranh tụng
xây dựng kế hoạch xét xử, trao đổi với Kiểm sát viên về đề cương thẩm vấn,
thành phần những người cần triệu tập tham gia phiên tòa và dự kiến các tình
huống phát sinh.
12
Tại phần thủ tục, nếu một số vấn đề thực hiện có phát sinh trong giai
đoạn này không đưa đến phải tranh tụng để có phán quyết cuối cùng về vụ án
như đã đề cập ở phần trên thì việc chuẩn bị tranh tụng trong giai đoạn này
được nhiều chủ thể tham gia và thực hiện khẩn trương nhất. Giai đoạn này là
tiền đề cho các giai đoạn sau nên thực hiện tốt việc chuẩn bị thì chắc chắn
chất lượng tranh tụng sẽ đạt mục đích, chất lượng cao, hạn chế được việc
hoãn phiên tòa làm cho việc xét xử và giải quyết vụ án được nhanh chóng,
không bị kéo dài, đảm bảo tiết kiệm thời gian, tiền của cho các chủ thể tham
gia tố tụng.
- Trong giai đoạn xét hỏi:
Đây là giai đoạn thực hiện kiểm tra công khai các chứng cứ làm cơ sở
đưa ra ý kiến về các vấn đề từ đó đánh giá và phán quyết về vụ án. Trong giai
đoạn này có nhiều chủ thể tham gia. Trong đó, đối với hội đồng xét xử thì chủ
tọa phiên tòa là người chủ trì, điều khiển việc xét hỏi để kiểm tra các chứng
cứ đã thu thập. Trình tự xét hỏi được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hội đồng xét xử đặt ra những câu hỏi để làm rõ những vấn đề chưa rõ hoặc có
mâu thuẫn, không nên hỏi về toàn bộ nội dung vụ án mà cần xác định và nêu
lên vấn đề để Kiểm sát viên, người bào chữa hỏi để làm sáng tỏ nội dung và
các tình tiết của vụ án. Hội đồng xét xử chủ động hướng các bên đi vào trọng
tâm vấn đề, tập trung lắng nghe làm cơ sơ thực hiện thủ tục tiếp theo.
Kết quả tranh tụng trong giai đoạn xét hỏi là cơ sở cho lập luận của các
bên trong việc đề xuất hướng giải quyết vụ án trong phần tranh luận.
- Trong giai đoạn tranh luận:
trong mục tiêu củng cố tình tiết vụ án:
Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Tòa án có trách nhiệm tôn trọng
và bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ và yêu cầu triệu tập người làm
chứng, đồ vật, tài liệu ra xem xét hoặc việc xác định tư cách tham gia tố tụng.
Tuy nhiên, đôi khi việc quyết định trưng cầu các tài liệu, chứng cứ bổ sung,
14
triệu tập thêm người làm chứng hoặc xác định lại tư cách tham gia tố tụng của
một cá nhân chưa được Hội đồng xét xử đánh giá và thực hiện.
Thứ hai, về vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc bảo đảm
các quyền của bị cáo tại phiên tòa, trong đó có việc được thực hiện đầy đủ
quyền tranh tụng:
Khi xét xử đa số các vụ án được Hội đồng xét xử đảm bảo cho bị cáo
được thực hiện các quyền của bị cáo tại phiên tòa như quyền được tham gia
phiên tòa, quyền được trình bày ý kiến tại phiên tòa, quyền được tranh luận tại
phiên tòa, quyền được nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án
…
Rõ ràng, Tòa án có vai trò quyết định trong việc bảo đảm quyền tranh
tụng của bị cáo được thực hiện hay không được thực hiện đầy đủ tại phiên
tòa.
Thứ ba, vai trò của Tòa án trong việc yêu cầu và tạo điều kiện để bị
cáo và người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo tích cực
tham gia vào quá trình tranh tụng:
Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mà nhất là
chủ tọa phiên tòa đã quan tâm và tạo điều kiện để cho người đại diện hợp
pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo tham gia tranh tụng tại phiên tòa,
được quyền trình bày ý kiến, trả lời câu hỏi của người tiến tố tụng (Hội đồng
xét xử, Kiểm sát viên), người tham gia tố tụng (người bào chữa), từ đó đã làm
phán quyết, bản án và quyết định đúng đắn:
Khi xem xét phán quyết của Tòa án, nếu không dựa trên kết quả tranh
luận tại phiên tòa, nhiều phán quyết là không có cơ sở đánh giá. Bên cạnh đó,
còn có trường hợp quá trình lập luận, tranh luận tại phiên tòa và nội dung bản
án và biên bản phiên tòa khác nhau về nhiều tình tiết. Nhiều biên bản nghị án
và phán quyết của Hội đồng xét xử được làm theo mẫu chung từ các vụ án
giống nhau về hành vi, chỉ thay đổi về tình tiết vụ án khiến không tránh khỏi
16
những lỗi văn bản cho thấy quá trình tranh tụng không được đề cập chi tiết và
cụ thể trong bản án.
Khi tranh luận và đối đáp, người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi
của đương sự đã chuẩn bị bản luận cứ tập trung phân tích các tình tiết, diễn
biến vụ việc qua thẩm tra tại phiên tòa, lời buộc tội của Kiểm sát viên; trên cơ
sở đối chiếu quy định của pháp luật nhằm gỡ tội cho bị cáo hoặc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự (người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan ...). Thực tế, Luật sư cũng là
người tích cực nhất trong việc đối đáp các luận điểm mà Kiểm sát viên đưa ra.
Nhiều lập luận của luật sư đưa ra đã giúp làm sáng tỏ tình tiết của vụ án. Do
vậy, Tòa án (Hội đồng xét xử) cần tạo điều kiện để chủ thể này được thể hiện
vai trò tích cực của mình trong đảm bảo nguyên tắc tranh tụng.
1.5. Quy định của pháp luật Việt Nam về vai trò của tòa án trong
tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1.5.1. Giai đoạn trước Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Sau Cách mạng tháng Tám, cùng với việc kiện toàn chính quyền, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33c ngày 13 tháng 9 năm 1945 về việc
thành lập Tòa án quân sự, trong đó có quy định “bị cáo có thể tự bào chữa
hoặc nhờ người khác bênh vực cho họ”.
1.5.2. Giai đoạn từ Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đến nay
Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập từ hoạt động xét xử không
đảm bảo tranh tụng, khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận:
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Trên nền tảng nguyên tắc
hiến định, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc “Tranh
tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015). Đây là quy định mới, căn cứ pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền con
người, quyền công dân theo hiến định, thể hiện cụ thể ở các nội dung sau:
“Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát
18
viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người
bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc
đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách
quan của vụ án”. Có thể thấy Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định
rõ mối quan hệ, vị trí giữa những người tiến hành tố tụng trong đó có vị thế
của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng
cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án
là bình đẳng, đây là tiền đề quan trọng để các chủ thể thực hiện hoạt động
tranh tụng bảo vệ quan điểm, quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng. Có thể
nói chỉ trên cơ sở bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ thì
hoạt động tranh tụng mới đảm bảo chất lượng, có tính thực thi.
“Tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án”. Theo đó xác định rõ
Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho những chủ thể tranh tụng là Kiểm sát
viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện
đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và hoạt động tranh tụng tiến hành trên cơ sở
dân chủ, bình đẳng. Tại phiên tòa các chủ thể tranh tụng bình đẳng với nhau
trên cơ sở đưa ra quan điểm, tài liệu, chứng cứ, phân tích đánh giá để lập luận,