Vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn quận 5, thành phố hồ chí minh - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Lê Minh Tường

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Lê Minh Tường

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 5, THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Mã
số:

8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TS. Đinh Thị Mai - Giảng viên Khoa Luật của Học viện Khoa học xã
hội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận
văn.
Ban lãnh đạo và các Thẩm phán Tòa án nhân dân Quận 5, Thành
phố Hồ Chí Minh đã cung cấp số liệu, tài liệu tham khảo, các bản án hình sự
sơ thẩm và phúc thẩm, trao đổi kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn, đóng
góp nhiều ý kiến thiết thực cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Các anh, chị học viên Lớp cao học đào tạo trình độ thạc sĩ về chuyên
ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự khóa VI đợt 2 năm 2015 đã đóng góp
nhiều ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn.
Gia đình, người thân đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Lê Minh Tường


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảng 2.1 Phân tích số liệu số lượng vụ án giải quyết........................................
29
Bảng 2.2 Phân tích số liệu luật sư bào chữa

31


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người trong hoạt động tư pháp luôn là nội dung được coi trọng và
đề cập trong các đạo luật của mỗi quốc gia. Qua lịch sử đấu tranh, tồn tại và phát

xử, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã chú trọng bổ sung thêm quyền cho bị cáo
như quyền im lặng, quyền đưa ra chứng cứ, tiếp cận đọc, ghi chép bản sao hồ sơ vụ
án... để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đặc biệt trong hoạt động xét xử ở
cấp xét xử sơ thẩm. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cũng cụ thể hóa nguyên
tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử nói chung và xét xử sơ thẩm nói riêng.
Với lí do kể trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Vai trò của tòa án trong
tranh tung tai phiên tòa sơ thẩm vu án hình sư từ thưc tiễn Quân 5, Thành phố
Hồ Chí Minh” cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đối với đề tài lựa chọn nghiên cứu, các vấn đề nghiên cứu xoay quanh các
quy định về vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự.
Từ những góc độ nghiên cứu như vậy, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị tham
khảo về lý luận và thực tiễn như:
- Nguyễn Đức Mai (2007), Bànvềtranhtụngtạiphiêntoàsơthẩmhìnhsự, Tạp chí Tòa án nhân
dân (số 17), tr. 23-28;
- NGUYỄN VĂN TUÂN (2009), Bản chất, nội dung tranh tụng tại phiên toà hình
sự và vấn đề hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, TẠP CHÍ DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT
(SỐ 9), TR. 33-41;
- VŨ GIA LÂM (2013), Đổi mới thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm theo hướng
bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, TẠP CHÍ KIỂM SÁT (SỐ 21), TR. 36-42;
- Phạm Minh Tuyên (2014), Bànvềtranhtụngtạicácphiêntòahìnhsự, Tạp chí Kiểm sát (số
12), tr. 20-26, 64;

7


- VŨ THÀNH LONG (2014), Cần tháo gỡ một số vướng mắc nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động tranh tụng của Luật sư tại phiên tòa hình sự, TẠP CHÍ KIỂM
SÁT (SỐ


phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự hiện nay.
Hai là, phân tích, đánh giá về các quy định pháp luật hiện hành về vai trò của
tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự để rút ra các vướng mắc,
hạn chế của pháp luật hiện hành và nguyên nhân của những bất cập trong thực thi
pháp luật liên quan trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Balà, đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và các luật
khác có liên quan.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là những khía cạnh pháp lý của một
số quy định của pháp luật về vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự. Nghiên cứu còn sử dụng so sánh thực tiễn áp dụng quy định này tại
thời điểm trước và sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực nhằm đánh
giá về quy định pháp luật liên quan và đưa ra những quan điểm hoàn thiện tại Việt
Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vai trò của Tòa án trong tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, trong
thời gian không quá 06 năm gần nhất (từ năm 2012 đến hết năm 2017) so với thời
điểm triển khai luận văn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp phân tích
pháp luật và giải thích pháp luật trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin và quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam. Luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống
như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương

9


pháp thống kê, phương pháp lịch sử, tư duy logic, phương pháp quy nạp, diễn giải...



1.1. Khái niệm tranh tụng và vai trò của tòa án trong tranh tụng
1.1.1. Khái niệm tranh tụng
Sự ra đời và phát triển của khái niệm tranh tụng trong tố tụng gắn liền với sự
hình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ, tiến bộ trong lịch sử nhân loại.
Trong xã hội hiện đại, ở các nước dù thuộc hệ thống luật án lệ (common law), hệ
thống luật lục địa (civil law) hay hệ thống luật xã hội chủ nghĩa, thì hoạt động tố
tụng đều có đề cao cơ chế tranh tụng. Tranh tụng là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảo
đảm cho tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc,
đảm bảo sự công bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “tranh tụng” là “kiện cáo lẫn nhau”.
Theo nghĩa Hán Việt, thuật ngữ tranh tụng được ghép từ hai từ “tranh luận”
và “tố tụng”, và Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng. Trong tố tụng bao giờ cũng có
sự tham gia của các bên có quyền và lợi ích trái ngược nhau yêu cầu tòa án phân xử.
Để có cơ sở cho tòa án có thể phân xử, pháp luật quy định cho các bên tham gia tố
tụng quyền khởi kiện vụ việc ra trước tòa án, chứng minh và tranh luận để bảo vệ
yêu cầu của mình.
Trong một số tài liệu, thông thường người ta thường đề cập đến hệ thống
tranh tụng (Adversarial System). Theo từ gốc tranh tụng trong tiếng Anh là
“Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu. Như vậy về bản chất tranh tụng là
“cuộc đấu” giữa hai bên trong tố tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội) mà
giai đoạn đương đầu tại tòa án (tại phiên tòa) là trung tâm, là chính. Tuy nhiên,
không nên hiểu một cách giản đơn tranh tụng là tranh luận, tranh cãi giữa hai bên tại
phiên tòa, mà hiểu tranh tụng diễn ra trong một quá trình tố tụng lâu dài, được cả hai
bên tiến hành một cách quyết liệt để “cạnh tranh” nhau để “chống” lại nhau. Theo
đúng nghĩa, tranh tụng là việc bên buộc tội (công tố) cố gắng để thuyết phục các
thành viên Hội đồng xét xử tin rằng bị cáo là người có tội, còn bên bị buộc tội thì

1

2


- Theonghĩarộng: tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi các đương sự
thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án. Như vậy,
hiểu theo nghĩa rộng thì quá trình tranh tụng này sẽ bao gồm toàn bộ các giai đoạn
khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn
giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Theonghĩahẹp: tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên đương sự với
nhau về chứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu cầu của mỗi bên, để từ đó nhằm chứng
minh cho đối phương và Tòa án thấy rằng yêu cầu và phản đối yêu cầu của mình là
có căn cứ và hợp pháp.
Như vậy, từ các nghiên cứu của mình, chúng tôi cho rằng Tranh tụng tại phiên
tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là quá trình các bên tham gia tố tụng đưa ra
quan điểm, chứng cứ của mình để làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở những
chứng cứ và lời khai không thể bác bỏ để Hội đồng xét xử phán quyết.
1.1.2. Khái niệm vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự
Thuật ngữ “vai trò” có nghĩa là “tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong
sự hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức”.
Như vậy, từ các nghiên cứu của mình, chúng tôi mạnh dạn cho rằng,
Vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là sự thể
hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các phương diện hoạt động cơ bản của
Tòa án mà đại diện là Hội đồng xét xử trong mối quan hệ với các chủ thể tham
gia tranh tụng khác trong quá trình tranh tụng nhằm đưa ra quan điểm

, chứng

cứ của mình để làm sáng tỏ sự thật của vụ án tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.
1.2. Các chủ thể của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

xử phán quyết. Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một phần của hoạt
động tố tụng tranh tụng trong giải quyết vụ án hình sự. Với những đặc trưng của tố

1
4


tụng tranh tụng, tranh tụng trong phiên tòa sơ thẩm hình sự có một số đặc điểm như
sau:
Thứ nhất, tranh tụng trong tố tụng sơ thẩm hình sự luôn tồn tại hai bên có lợi
ích đối kháng là bên buộc tội (cơ quan công tố) và bên bị buộc tội (bị cáo/luật sư đại
diện quyền lợi cho bị cáo):
Trong tranh tụng, Cơ quan công tố và Luật sư hoàn toàn bình đẳng nhau họ
được pháp luật trao những quyền tương ứng với chức năng để có thể điều tra độc lập
và thu thập chứng cứ phục vụ cho công việc của mình. Cơ quan công tố dưới danh
nghĩa là người đại diện cho quyền lợi của nhà nước (thay mặt nhà nước) đưa ra các
quan điểm, các lập luận, các chứng cứ để buộc tội bị cáo. Còn bên bị buộc tội là bị
cáo và những Luật sư của họ cũng dùng mọi lý lẽ, dùng mọi phương tiện được luật
pháp cho phép để phản bác lại. Hai bên sẽ trực tiếp, liên tục chất vấn và trả lời chất
vấn nhau công khai tại phiên tòa để làm rõ những vấn đề. Khác với tố tụng xét hỏi,
tố tụng tranh tụng đặc biệt coi trọng nguyên tắc bằng miệng, công khai, tất cả các
tình tiết, các chứng cứ mà Tòa án áp dụng để ra bản án đều phải được các bên tranh
tụng tại phiên tòa. Với khoa học phát triển như hiện nay các thủ tục tố tụng tại phiên
tòa đều phải đựơc ghi âm hoặc ghi hình, việc xét xử công khai trực tiếp có thể tiến
hành qua điện thoại, hội nghị và các cầu truyền hình trực tiếp. Tòa án tiến hành xét
xử một vụ án ở một nơi có thể nghe lời khai trực tiếp của một người làm chứng nơi
khác.
Thứ hai, trong quá trình tranh tụng, Tham phán - Chủ tọa phiên tòa giữ vai
trò là bên thứ ba vô tư, khách quan và dựa vào lí lẽ của các bên để cân nhắc ra phán
quyết (vai trò trọng tài):

Vai trò của bên buộc tội, bên bào chữa được xác định là các bên có quyền ngang
nhau trong việc sử dụng các phương tiện mà pháp luật cho phép để thực hiện chức
năng của mình khi tranh tụng trước một tòa án công bằng. Từ đó, Tòa án phải có
trách nhiệm tạo mọi điều kiện mà pháp luật cho phép để các bên có thể phát huy hết

1
6


tính chủ động và tích cực khi tham gia giải quyết vụ án hình sự, Hội đồng xét xử là
chủ thể chính trong việc đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên các chứng cứ của các
chủ thể khác xuất trình tại phiên toà, ở một mức độ cần thiết, Tòa án tham gia vào
quá trình tranh tụng như trọng tài để góp phần làm rõ các chứng cứ và tình tiết của
vụ án.
1.4. Vai trò của Tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình
sự
1.4.1. Xét theo từng giai đoạn của phiên tòa sơ thẩm hình sự
Xét theo từng giai đoạn của phiên tòa sơ thẩm hình sự, vai trò của tòa án
trong tranh tụng thể hiện khác nhau tùy theo từng giai đoạn cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn chuan bị xét xử:
Giai đoạn này có thể bắt đầu từ chuẩn bị xét xử, trong phần thủ tục phiên tòa
và kết thúc khi chuyển sang phần thủ tục xét hỏi. Trong thời hạn nghiên cứu, Thẩm
phán được phân công chủ tọa phiên tòa cần phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, thấy vụ án có
đủ điều kiện để mở phiên tòa đưa ra xét xử thì xây dựng kế hoạch xét xử, trao đổi với
Kiểm sát viên về đề cương thẩm vấn, thành phần những người cần triệu tập tham gia
phiên tòa và dự kiến các tình huống phát sinh.
Tại phần thủ tục, nếu một số vấn đề thực hiện có phát sinh trong giai đoạn
này không đưa đến phải tranh tụng để có phán quyết cuối cùng về vụ án như đã đề
cập ở phần trên thì việc chuẩn bị tranh tụng trong giai đoạn này được nhiều chủ thể
tham gia và thực hiện khẩn trương nhất. Giai đoạn này là tiền đề cho các giai đoạn

liên quan.
Hội đồng xét xử trong giai đoạn này lắng nghe trình bày và lập luận của các
bên, hướng các bên đi vào trọng tâm vấn đề tranh luận, đối đáp với nhau theo trình tự
tố tụng. Những vấn đề mà Kiểm sát viên chưa đối đáp lại với quan điểm của người
bào chữa và những người tham gia tố tụng khác thì Hội đồng xét xử yêu cầu Kiểm

1
8


sát viên phải có ý kiến đối đáp và thể hiện quan điểm rõ ràng đối với từng vấn đề mà
người tham gia tố tụng đưa ra.
- Trong giai đoạn nghị án và tuyên án :
Giai đoạn này Hội đồng xét xử phải đánh giá và công bố kết quả tranh tụng.
Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã thẩm tra tại phiên
tòa và chỉ những vấn đề đã được thẩm tra tại phiên tòa thì mới được dùng làm căn cứ
để nhận định, đánh giá, kết luận và quyết định.
1.4.2. Xét theo từng hoạt động (mục đích) của tranh tụng Xét theo từng
hoạt động (mục đích) của tranh tụng, vai trò của tòa án trong tranh tụng thể hiện
khác nhau tùy theo hoạt động cụ thể như sau:
Thứ nhất, về vai trò của Tòa án trong việc đảm bảo sự có mặt đầy đủ của các
chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng:
Thể hiện ở việc Tòa án yêu cầu nhân chứng tham gia tố tụng tại phiên tòa
hoặc xác định tư cách người tham gia tranh tụng chưa được coi trọng trong mục tiêu
củng cố tình tiết vụ án:
Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Tòa án có trách nhiệm tôn trọng và bảo
đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ và yêu cầu triệu tập người làm chứng, đồ vật,
tài liệu ra xem xét hoặc việc xác định tư cách tham gia tố tụng. Tuy nhiên, đôi khi
việc quyết định trưng cầu các tài liệu, chứng cứ bổ sung, triệu tập thêm người làm
chứng hoặc xác định lại tư cách tham gia tố tụng của một cá nhân chưa được Hội

pháp luật và thuyết phục.
Thứ năm, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc bảo đảm cho các
bên tranh luận được trình bày hết ý kiến, bảo đảm thời gian tranh luận.
Thứ sáu, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc xác định tội danh
của bị cáo thông qua tranh tụng:
Quá trình tranh tụng tại phiên tòa đa số các vụ án đã được Hội đồng xét xử
thực hiện việc kiểm tra chứng cứ đầy đủ, đánh giá chứng một cách khách quan, toàn

2
0


diện, xem xét các yếu tố cấu thành tội phạm và quá trình tranh luận tại phiên tòa để
xác định chính xác tội danh của bị cáo.
Thứ bảy, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc xác định có hay
không việc bỏ lọt (bỏ sót) hành vi phạm tội của bị cáo trong quá trình tranh luận tại
phiên tòa.
Thứ tám, vai trò của Tòa án (Hội đồng xét xử) trong việc xác định và áp
dụng tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo dựa vào
kết quả tranh luận tại phiên tòa:
Quá trình tranh tụng tại phiên tòa đa số các vụ án đã được Hội đồng xét xử
xem xét xác định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị
cáo, từ đó đã áp dụng đúng pháp luật khi lượng hình.
Thứ chín, vai trò của Tòa án trong việc từ kết quả tranh luận, đưa ra phán
quyết, bản án và quyết định đúng đắn:
Khi xem xét phán quyết của Tòa án, nếu không dựa trên kết quả tranh luận
tại phiên tòa, nhiều phán quyết là không có cơ sở đánh giá. Bên cạnh đó, còn có
trường hợp quá trình lập luận, tranh luận tại phiên tòa và nội dung bản án và biên bản
phiên tòa khác nhau về nhiều tình tiết. Nhiều biên bản nghị án và phán quyết của Hội
đồng xét xử được làm theo mẫu chung từ các vụ án giống nhau về hành vi, chỉ thay

thẩm nhân dân. Điều 69 quy định các phiên tòa đều phải công khai, trừ trường hợp
đặc biệt; người bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc nhờ Luật sư bào chữa. Vai trò
của tranh tụng cũng được hỗ trợ bởi Điều 2 Sắc lệnh số 46 ngày 10 tháng 10 năm
1945 quy định về tổ chức của các đoàn thể Luật sư, trong đó chỉ rõ các Luật sư có
quyền làm nhiệm vụ bào chữa trước tất cả các Tòa án cấp tỉnh trở lên và trước tất cả
các Tòa án quân sự.
Trong giai đoạn Hiến pháp năm 1959 và 1980, mô hình tổ chức hệ thống Tòa
án đã dần dần được hoàn thiện, tuy nhiên các quy định về tranh tụng chưa được quan
tâm thỏa đáng. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 quy định “quyền bào chữa

2
2


của bị cáo được bảo đảm”. Tiếp đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và sau đó là
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là hai văn bản phản ánh khá trung thực khi không
đề cập tới quyền tranh tụng tại phiên tòa.
Từ năm 2002, thuật ngữ “Tranh tụng” được sử dụng trong Nghị quyết số
08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 vẫn chưa ghi
nhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng hình sự.
1.5.2. Giai đoạn từ Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đến nay
Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập từ hoạt động xét xử không đảm bảo
tranh tụng, khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: Nguyêntắctranhtụngtrongxét
xửđượcbảođảm. Trên nền tảng nguyên tắc hiến định, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
đã bổ sung nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015). Đây là quy định mới, căn cứ pháp lý quan trọng để đảm bảo
quyền con người, quyền công dân theo hiến định, thể hiện cụ thể ở các nội dung sau:
“Trongquátrìnhkhởitố,điềutra,truytố,xétxử,Điềutraviên,Kiểmsát viên, ngườikhác có thẩmquyềntiến hành tốtụng,ngườibịbuộc
tội,người bào chữa và người thamgia tốtụngkhácđều có quyềnbìnhđẳng trong việcđưa ra chứngcứ,đánh giá chứngcứ,

nét tính ưu việt khi kết hợp giữa mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn.
Với chủ trương Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm, bảo đảm nguyên tắc
tranh tụng trong xét xử, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung nhiều quy
định để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, cụ thể: Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị
của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu
tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
khác đến phiên tòa; về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa;
đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa về việc thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (Điều 279 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015). Bên cạnh đó, nhằm khắc phục tình trạng chất lượng tranh tụng còn hạn

2
4


chế ở một số phiên tòa có đông bị cáo, có nhiều Luật sư tham gia, nhưng đối với
Kiểm sát viên Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ cho phép tối đa 02 Kiểm sát
viên tham gia. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định này
theo hướng: Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn
phiên tòa. Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều
Kiểm sát viên (khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)...
Đặc biệt, nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo việc
tranh tụng không chỉ thể hiện ở phần tranh luận mà còn được thể hiện ngay trong
phần xét hỏi, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã nhập thủ tục xét hỏi tại phiên tòa
với thủ tục tranh luận tại phiên tòa thành “thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” (Mục V,
chương XXI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy
định về trình tự xét hỏi, theo đó, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình
tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status