SKKN xây dựng hệ thống bài tập trong tiết toán( tăng) cho học sinh lớp 3 - Pdf 49

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Kinh nghiệm: Xây dựng hệ thống bài tập trong tiết Toán( tăng)
cho học sinh lớp 3

Năm học 2014 – 2015
0


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: "Kinh nghiệm xây dựng nội dung tiết Toán (tăng) cho học
sinh lớp 3 ”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học môn toán buổi 2/ngày - Lớp 3
3. Tác giả:
Họ và tên:
Nam (nữ):
Ngày/tháng/năm sinh:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ, đơn vị công tác:
4. Đồng tác giả (nếu có)
Họ và tên:
Ngày tháng/năm sinh:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ, đơn vị công tác:
Điện thoại:
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có):
7. Các kiếnđiều kiện cần thiết để áp dụng sáng:
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:

- Giáo viên dạy văn hóa có chuyên môn vững vàng, được trang bị và biết sử
dụng các phương pháp dạy học mới, nắm vững khả năng tiếp thu của đối tượng học
sinh để có biện pháp giảng dạy phù hợp.
- Học sinh: Học sinh lớp 3 đại trà (đặc biệt là học sinh ở vùng nông thôn)
+ Điều kiện về CSVC: Phòng học, SGK, SGV, tài liệu chuẩn kiến thức kỹ
năng, sách tham khảo, ...
Thời gian áp dụng lần đầu: Năm học 2012 - 2013.
Đối tượng áp dụng: GV lớp 3
3. Nội dung sáng kiến:
+ Với cách soạn và cách dạy một tiết toán tăng như trước đây thì bản thân mỗi
giáo viên phải tốn rất nhiều thời gian tìm bài tập để đưa vào tiết soạn ở các loại
sách tham khảo mà hiệu quả học tập của học sinh chưa cao. Nhưng với kinh
nghiệm xây dựng hệ thống bài tập mà tôi đưa ra vừa đảm bảo theo chuẩn kiến thức
kĩ năng, vừa đảm bảo tính hệ thống, vừa tốn ít thời gian tìm kiếm trên sách tham
khảo, giáo viên dễ soạn và dạy không lo thấp hơn hoặc vượt so với chuẩn. Với học
sinh: giúp học sinh nắm vững kiến thức, làm cho giờ học nhẹ nhàng, hấp dẫn nhằm
gây hứng thú toán học, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh.
+ Có khả năng áp dụng cho tất cả giáo viên tiểu học. Mỗi giáo viên cần:
Nắm được nội dung chương trình môn Toán lớp 3 theo chuẩn kiến thức năng
các mảng kiến thức sau.
Biết lựa chọn, xây dựng nội dung tiết Toán tăng theo định hướng phân hóa đối
tượng học sinh. Cụ thể như sau:
- GV phải biết cách xây dựng hệ thống bài tập củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ
năng cho học sinh trong tiết Toán tăng trên cơ sở các bài tập cơ bản trong SGK,
VBT theo chuẩn kiến thức kĩ năng.
- Lựa chọn đơn vị kiến thức cần luyện tập củng cố.
- GV phải nắm được những yêu cầu khi xây dựng hệ thống bài tập cho tiết
Toán tăng.
3


cái mới so với GV trong huyện, song lại là cái mới đối với khối 3 trường tôi. Trong
quá trình nghiên cứu, tôi đã phát hiện và rút ra nhiều điều lý thú về kinh nghiệm
xây dựng hệ thống bài tập cho tiết Toán tăng nói chung và ở lớp 3 nói riêng, đồng
thời giúp cho bản thân nâng cao được năng lực chuyên môn, hiểu sâu hơn về
chương trình và sách giáo khoa Toán 3, nắm chắc các phương pháp giảng dạy môn
Toán, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong dạy học. Bản thân tự tin và chủ động hơn
khi dạy tiết tăng, tiết dạy trở nên sôi động, học sinh tích cực học tập và tham gia
nhiệt tình vào các hoạt động.
5. Đề xuất khuyến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.
Qua cách dạy đã nêu trên đây, so với các lớp học theo chỉ dẫn của sách giáo
khoa và sách giáo viên, tôi nhận thấy học sinh dễ hiểu bài hơn, dễ áp dụng hơn.
Qua kết quả học tập của học sinh lớp 3, các đồng nghiệp trong khối cũng nhận thấy
cách hướng dẫn trên là hay và có hiệu quả.
Nếu tính khả thi cao có thể áp dụng trong cụm chuyên môn bằng hình thức
báo cáo chuyên đề, thao giảng … để chúng tôi cùng với các anh chị đồng nghiệp ở
các trường bạn rút kinh nghiệm, giúp đề tài ngày càng hoàn thiện hơn, tính khả thi
ngày càng được nâng cao hơn.

4


MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Như chúng ta đã biết môn Toán bước đầu giúp các em phát triển năng lực tư
duy độc lập, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện
và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí
tưởng tượng; chăm học và hứng thú học tập toán; hình thành bước đầu phương
pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
Được sự phân công của nhà trường, tôi đảm nhiệm chức vụ tổ trưởng tổ 2+3 hai
năm liền 2012 - 2013; 2013 - 2014. Qua thực tế giảng dạy, qua kiểm tra giáo án, dự

tố bên ngoài. Đối với HS lớp 3, ở lứa tuổi này, các em vẫn nhận thức cảm tính, khả
năng tư duy lôgic còn chậm. Tuy nhiên các em cũng có một số điểm mạnh nhất
định. Đó là tâm lý ham học hỏi muốn chiếm lĩnh các kiến thức mới thông qua
5


những vốn hiểu biết của bản thân, ưa hoạt động, hay tò mò, thích khám phá và
giàu óc tưởng tượng. Chính vì vậy, tri thức cung cấp cho HS phải đa dạng và luôn
mới lạ. Giờ học phải sinh động, vừa sức, đảm bảo tính khoa học, tính chính xác,
tính hiện đại.
3. Thực trạng của vấn đề
Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục nói chung và môn Toán nói riêng được đặt lên hàng đầu và cũng đã phần nào
thấm nhuần trong mỗi giáo viên nhưng phần lớn cũng chỉ mới được quan tâm và
dừng lại ở những tiết học buổi thứ nhất - buổi học mà các tiết được cơ cấu có sẵn
trong chương trình. Còn vấn đề dạy học tiết toán tăng như thế nào để có hiệu quả
thì chưa được nhiều giáo viên quan tâm, không ít giáo viên còn xem nhẹ hình thức
dạy học buổi 2.
Trong thực tế giảng dạy hiện nay, tôi thấy:
- Giáo viên còn ngại soạn tiết Toán tăng, không biết thiết kế một tiết Toán tăng
như thế nào cho phù hợp .
- Giáo viên chưa tự tin với việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp
dạy nên rất sợ khi có người vào dự giờ tiết toán tăng.
- Hình thức dạy tiết Toán tăng nghèo nàn, chưa phong phú, chưa hấp dẫn, chưa
tạo cho học sinh thích thú và hăng say trong học tập.
- Một số tiết chưa dạy theo nhu cầu của học sinh, nhiều giáo viên xem tiết toán
tăng như là giờ làm bài tập của học sinh và học sinh giải quyết hết các bài tập đó là
hết nhiệm vụ của tiết học. Còn trong tiết đó, bao nhiêu học sinh cần rèn kiến thức,
kỹ năng gì? Cần rèn đến đâu? Các em có hứng thú học không? Có nhu cầu học hay
không thì giáo viên ít chú ý đến vì thế chưa giúp được học sinh chậm phát triển trí

còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu (thiếu các phương tiện nghe nhìn, máy vi
tính,...).
Chính từ tình hình thực tiễn đó ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng dạy học
và kết quả bộ môn. Chất lượng học tập môn Toán của học sinh trường tôi chưa cao.
Cụ thể trong các đợt khảo sát, thi Ôlimpic cấp Tiểu học, thi giải toán qua mạng,
kết quả đạt được chưa được như mong muốn.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
Để xây dựng nội dung dạy học tiết Toán tăng cho học sinh lớp 3 đạt hiệu quả,
mỗi giáo viên chúng ta cần giải quyết tốt những vấn đề sau:
4.1. Giáo viên cần nắm được nội dung chương trình môn Toán lớp 3 theo
chuẩn kiến thức năng các mảng kiến thức sau:
4.1.1. Số học
4.1.1.1. Phép nhân, phép chia trong phạm vi 1000
- Ứng dụng, mở rộng tính cộng, trừ các số có ba chữ số, có nhớ không quá một
lần.
- Bảng nhân và bảng chia 6, 7, 8, 9. Hoàn thiện các bảng nhận, chia 2, 3, 4, ..., 9.
1 1 1 1
Giới thiệu về 6 , 7 , 8 , 9 .
- Phép nhân số có hai, ba chữ số với số có một chữ số có nhớ không quá một
lần. Phép chia số có hai, ba chữ số cho số có một chữ số. Chia hết và chia có dư.
Thực hành tính nhẩm (dựa vào bảng tính đã học).
- Làm quen với biểu thức và giá trị biểu thức, thực hành tính giá trị các biểu
thức số có đến hai dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc.
- Tìm số chia chưa biết.
4.1.1.2. Các số đến 10 000 và các số đến 1 00 000.
- Đọc, viết, so sánh các số. Các hàng đơn vị, chục, trăm, nghìn, chục nghìn.
- Phép cộng và và phép trừ có nhớ không liên tiếp và không quá hai lần, trong
phạm vi 10 000 và 1 00 000.
- Phép nhân số có đến bốn hoặc năm chữ số với số có một chữ số có nhớ
không liên tiếp và không quá hai lần, tích không quá 1 00 000.

- Giáo viên cần căn cứ sau mỗi mảng, nội dung kiến thức học buổi sáng (trong
tuần) để xây dựng nội dung ôn luyện cho buổi thứ hai sao cho sát đối tượng, phát
huy được mặt mạnh của học sinh, khắc phục được hạn chế, lỗi học sinh thường mắc
trong khi học. Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng cơ bản cho học sinh. Nội dung
xây dựng lựa chọn cần căn cứ vào đối tượng người học là chủ yếu xong phải đảm
bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học.
- Sau khi lựa chọn được nội dung đơn vị kiến thức, dạng bài tập cần được củng
cố, luyện tập, giáo viên cần thực hiện tốt 5 bước trong việc hướng dẫn học sinh ở
bất cứ bài toán nào:
Bước 1 : Củng cố, bổ sung kiến thức có liên quan.
Ví dụ : Để luyện tập về Tìm thành phần chưa biết của phép trừ (Số bị trừ). GV cần
củng cố cho HS một số nội dung cơ bản sau :
+ Tên gọi thành phần và kết quả của phép trừ.
+ Từ phép trừ lập hai phép cộng.
( SBT = Hiệu + Số trừ, SBT = Số trừ + Hiệu )
+ Quy tắc tìm Số bị trừ.
8


Bước 2 : Cách nhận dạng bài toán.
Muốn học sinh làm tốt một bài toán, giáo viên cần giúp HS xác định dạng toán
của bài bằng hệ thống câu hỏi phân tích bài toán, dựa vào các dữ kiện bài toán cho,
dấu hiệu cơ bản trong bài toán. Sau khi xác định được dạng toán rồi, học sinh sẽ
tìm được cách giải bài toán đúng.
Ví dụ : Mẹ có một số trứng đem ra chợ bán, mẹ bán được 34 quả trứng, mẹ
còn lại 65 quả trứng. Hỏi lúc đầu mẹ có bao nhiêu quả trứng ?
Với bài toán này, giáo viên cần giúp HS xác định được đây là bài toán lời văn
dạng toán Tìm số bị trừ thông qua việc khai thác bài toán. Nếu giáo viên không
khéo trong việc khai thác bài toán sẽ dẫn đến việc giải bài toán không đúng theo
đặc trưng của toán tiểu học mà sa đà sang toán Giải phương trình của Trung học cơ

nhiều cách khác nhau. Học sinh có năng khiếu toán đặt đề toán tương tự giải bằng
một phép tính cho trước, qua đó khắc sâu cho các em dạng bài tập đang giải, định
hình được quan hệ giữa cách giải bài toán với đề toán.
Bài giải
Số trứng của mẹ lúc đầu là: (Lúc đầu mẹ có số quả trứng là; Số quả trứng lúc
đầu của mẹ là:
34 + 65 = 99 (quả)
Đáp số: 99 quả trứng.
Bước 5: Khái quát dấu hiệu nhận dạng bài toán, cách giải một dạng toán, một
dạng bài tập.
9


Khi học sinh giải xong một bài toán, giáo viên cần khái quát lại cách giải dạng
toán.
Ví dụ:
- Dạng toán “ nhiều hơn ”-> Tìm số lớn -> làm phép tính cộng.
- Dạng toán “ít hơn”
-> Tìm số bé -> Làm phép tính trừ.
- Dạng toán “thêm”
-> Tìm số lớn -> Làm phép cộng.
- Dạng toán “bớt”
-> Tìm số bé -> Làm phép tính trừ.
Lưu ý : + Trong những trường hợp bài toán có từ nhiều hơn lại làm tính trừ hoặc
có từ ít hơn lại làm tính cộng.
+ Trong những trường hợp bài toán có từ thêm lại làm tính trừ hoặc có từ
bớt lại làm tính cộng.
Ví dụ 1: Nga có 45 bông hoa, Nga có nhiều hơn Hương 8 bông hoa. Hỏi
Hương có bao nhiêu bông hoa?
Ví dụ 2: Ngăn trên có 58 cuốn sách, ngăn trên ít hơn ngăn dưới 18 cuốn sách.

10


buổi sáng của học sinh trong lớp nói chung, mỗi cá nhân học sinh nói riêng. Trong
thiết kế bài soạn của mình, mỗi giáo viên đều xây dựng cho mình hệ thống bài tập
củng cố, rèn luyện kĩ năng cho HS theo chuẩn kiến thức kĩ năng và một số bài tập
phát triển cho học sinh khả năng học toán nhanh. Đôi khi, tiết học sẽ trở lên tẻ nhạt,
dư thừa thời gian nếu học sinh đều thực hiện tốt các bài tập cơ bản và một hai bài
tập phát triển, nâng cao nhưng cũng có khi tiết học lại có cảm giác trầm và ì khi đối
tượng nhận thức của chúng ta gặp khó khăn dẫn đến tiết học dài, thiếu thời gian.
Vậy việc linh hoạt trong sáng tác bài toán sẽ giúp giáo viên chủ động trên lớp khi
gặp tình huống cần giảm bớt bài toán hay tăng lượng bài toán của một tiết học sao
cho phù hợp trong khi thiết kế giáo án đã soạn sẵn và được kí duyệt.
4.2.3. GV phải nắm được những yêu cầu khi xây dựng hệ thống bài tập cho tiết
Toán tăng:
a. Nội dung bài tập toán phải đáp ứng được mục tiêu của bài dạy, trên cơ sở
chuẩn kiến thức kĩ năng để củng cố kiến thức hoặc rèn luyện kỹ năng ứng dụng một
quy tắc, đơn vị kiến thức nào đó.
b. Hệ thống bài tập thể hiện rõ sự phân hóa, phù hợp với trình độ kiến thức của
từng đối tượng học sinh, từng khối lớp, sát đối tượng, xây dựng trên cơ sở người
học. Tránh hai thái cực bài tập quá đơn giản dẫn đến tiết học nhàm chán, hay quá
tải làm học sinh hoang mang sợ học. Thể hiện thoát li sách giáo khoa, rèn khả năng
tự học cho học sịnh.
c. Bài tập phải đầy đủ dữ kiện. Những yếu tố đã cho của bài toán phải đủ để
tìm ra đáp số.
d. Câu hỏi phải rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa.
e. Bài toán phải không có mâu thuẫn.
g. Số liệu đưa ra trong bài toán cần phù hợp với thực tế.
Ví dụ: Bài tập củng cố về đơn vị ki-lô-gam, cần chú ý đến khối lượng thực tế
của vật khi đưa vào bài toán. Điều đó làm cho bài toán đảm bảo tính khoa học, tính

564
127
144
215
+
+
+
Thay đổi số liệu.
Bài toán mới:
a. Tính
470
232
+

897
789
+

515
208
+

b. Thử lại phép tính bằng cách tìm số trừ.
- Học sinh lớp hoàn thành các phép tính trên nhằm củng cố, rèn kĩ năng làm
tính trừ có nhớ trong phạm vi 1000 dạng số có ba chữ số trừ đi số có ba chữ số (có
nhớ một lần) trong đó vận dụng bảng trừ đã học.
- Khuyến khích học sinh làm thêm phần b, thực hiện tính các phép tính trên
thử lại phép tính bằng cách “Tìm số bị trừ = Hiệu + Số trừ” hoặc Tìm số trừ = Số
bị trừ - Hiệu.
Như vậy trong cùng một khoảng thời gian, cùng một giáo viên, cùng một lớp

e Viết số tròn trăm lớn nhất có bốn chữ số.
- HS làm phần a, b, c, d.
- Khuyến khích học sinh làm thêm phần e.
Như vậy, thông qua bài tập trên, HS được viết được các số lớn nhất, bé nhất có
ba chữ số theo dấu hiệu, đọc viết được số có ba, bốn chữ số. Học sinh nêu và đọc
được số tròn trăm có bốn chữ số.
Ví dụ 2: Trong tiết Luyện tập – Tr89
Bài 4/tr89: Tính chiều dài hình chữ nhật, biết nửa chu vi hình chữ nhật là 60m
và chiều rộng là 20m.
Thay đổi bài toán ta được:
Bài toán mới:
Tính chiều rộng hình chữ nhật, biết chu vi hình chữ nhật 120m và chiều dài
40m.
Với bài tập này, HS tiếp thu bài tốt phát hiện ra cái khác với bài buổi sáng là
phải thêm một bước Tìm nửa chu vi (chu vi : 2), sau đó áp dụng kiến thức bài tập
buổi sáng để giải bài toán.
Cách 3: Thay một trong các dữ kiện của bài toán bằng một điều kiện gián
tiếp, hoặc một dữ kiện của bài toán bị ẩn đi
Thường áp dụng cho giải toán có lời văn. Hệ thống bài tập này là những bài
toán phát triển, dành cho GV bồi dưỡng học sinh giỏi toán. Bài tập này đòi hỏi ở
học sinh sự suy luận, hoặc phát huy vốn sống của các em.
Ví dụ 1: Luyện tập về “ Diện tích hình chữ nhật” – Toán 3.
Bài 2/ tr 152 : Một miếng bìa hình chữ nhật có chiều rộng 5cm, chiều dài
14cm. Tính diện tích miếng bìa đó.
Thay đổi bài toán được bài toán mới:
Bài toán: Một cái ao hình chữ nhật có chu vi bằng chu vi mảnh vườn hình
vuông có cạnh 10m, chiều dài của ao là 41m. Tính diện tích cái ao đó.
Ví dụ 2: Luyện tập về “Tìm thành phần chưa biết của phép nhân”
Bài 2/tr 120: Tìm x
x x 7 = 2107

Cách 4: Thay đổi câu hỏi của bài toán bằng câu hỏi khó hơn
Ví dụ 1: Luyện tập về “ So sánh các số trong phạm vi 10 000” – Toán 3.
Bài 2/tr 101 : Viết các số 4208; 4802; 4280; 4082.
a. Theo thứ tự từ bé đến lớn..
b. Theo thứ tự từ lớn đến bé.
Thay đổi ta được bài toán mới :
Bài toán mới: Sắp xếp các số trong từng nhóm trên theo thứ tự:
a. Tăng dần:
b. Giảm dần:
- Học sinh lớp thực hiện yêu cầu trên của bài toán khi giáo viên đã thay đổi
các số có bốn chữ số trong từng nhóm (theo cách 1).
- Khuyến khích học sinh thực hiện yêu cầu của bài toán mới. Qua đó, ngoài
việc xác định được số lớn nhất của dãy số, học sinh thực hiện so sánh, sắp xếp
được các số theo thứ tự từ bé đến lớn, từ lớn đến bé.
Ví dụ 2: Luyện tập “ Chia số có ba chữ số cho số có một chữ số” – Toán 3.
Bài 2 / tr77. Đặt tính rồi tính
14


684 : 6
845 : 7
630: 9
842 : 4
Thay đổi ta được bài toán như sau mà vẫn đảm bảo mục tiêu bài toán: Rèn kĩ
năng thực hiện phép chia số có ba chữ số cho số có một chữ số.
Bài toán mới: Đặt tính để tìm thương và số dư (nếu có), biết số bị chia và số
chia lần lượt là:
645 và 6
945 và 8
810 và 9

cách suy luận logic. Không nhìn vào yếu tố bề ngoài mà kết luận bài toán.
Cách 5: Tạo lập đề toán từ một phép tính cho trước hoặc từ một tình huống
bằng hình ảnh
Đây là một dạng bài tập phát triển dành bồi dưỡng học sinh trong học tập và
rèn luyện thường áp dụng cho giải toán có lời văn. Nó huy động ở học sinh khả
năng phân tích, khái quát, nhớ lại các dạng bài tập liên quan. Từ đó trên cơ sở phép
tính cho trước để đặt đề toán tương ứng rồi giải lại bài toán.
Ví dụ 1: Đặt một đề toán giải bằng phép tính sau:
48 : 8 = 6
B1: Học sinh cần phải khái quát, nhớ lại các dạng bài toán lời văn giải bằng
phép tính chia: “Toán tìm một trong các thành bằng nhau của một số”, “Toán Giảm
một số đi nhiều lần”, “Bài toán liên quan đến bảng chia 8”.
B2: Sau khi xác định được dạng toán liên quan đến cách giải bài toán đó, chọn
một dạng toán để đặt đề.
B3: Gắn yếu tố bài toán cho biết với thành phần của phép tính. Kết quả gắn
với điều phải tìm. Lựa chọn danh số.
Minh họa: Giả sử chọn dạng toán “Tìm một trong các phần bằng nhau của
một số”. Vậy 48 và 8 là hai số gắn với điều đã biết, 6 là số gắn với yếu tố phải tìm
yêu cầu của bài toán: “Lan đếm trong vườn có tất cả 48 cây, trong đó số cây cam
1
bằng 8 số cây trong vườn. Hỏi trong vườn có tất cả bao nhiêu cây cam?”
Nếu học sinh chọn dạng toán “Giảm một số đi nhiều lần”: “Chị Lan có 48 quả
cam, sau khi đem bán thì số quả cam giảm đi 8 lần. Hỏi chị Lan còn bao nhiêu quả
cam ?”
Chọn dạng toán đơn “vận dụng bảng chia 8”: “Có 48 con thỏ nhốt đều vào 8
chuồng. Hỏi mỗi chuồng có mấy con thỏ?”
Ví dụ 2: Từ dãy tính 72 - 6 x 5
Ta có thể tạo ra đề toán: Có 72kg gạo người bán hàng đã đóng vào 5 túi loại
6kg. Hỏi còn lại bao nhiêu ki lô gam. (Toán 3)
Cách 6: Tạo lập đề toán bằng cách đảo ngược bài toán đã biết

tiết học phong phú, tránh được sự đơn điệu, nhàm chán mà vẫn thực hiện tốt và
hiệu quả mục tiêu tiết học.
- Rèn cho học sinh kĩ năng tự học.
b. Minh họa: ( Giáo án đưa ở phần phụ lục)
5. Kết quả đạt được.
Sau hai năm triển khai nội dung này trong dạy học Toán lớp 3, học sinh hai lớp
tôi trực tiếp giảng dạy có kết quả như sau:
Đối với học sinh:
Tất cả học sinh rất hồ hởi đón nhận tiết toán tăng. Trong giờ học toán tăng các em
rất có ý thức, đã thu hút được học sinh, đã gây được sự hứng thú trong học tập, học
sinh thích học Toán hơn, chủ động trong việc tự tìm tòi kiến thức, tích cực, sôi nổi
trong học Toán. Nhiều em đã biết tự ra được đề toán cho bản thân và cho các bạn trong
lớp, các em tích cực hơn trong việc nêu câu hỏi cho GV. Tiết học đã diễn ra hoạt động
trao đổi theo nhiều chiều khác nhau: Trò <-> Trò, Thầy <-> Trò, Trò <-> Thầy. Học
sinh có khả năng tự học, biết cách học.
Sau khi áp dụng các biện pháp nêu trên, tôi thu được kết quả như sau:
Năm học 2012 – 2013
Năm học 2013 - 2014
G
K
TB
Y
G
K
TB
Y
24%
36%
38%
2%

buổi tập huấn, hội thảo chuyên đề, bồi dưỡng thường xuyên, sinh hoạt tổ chuyên
môn nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy.
- Tăng cường khuyến khích giáo viên ra đề kiểm tra để làm giàu vốn cho ngân
hàng đề của trường. Qua đó giúp giáo viên biết và có thói quen ra đề, sáng tác đề
toán trong việc giảng dạy hàng ngày
* Về thiết bị, kĩ thuật:
- Đầu tư cơ sở vật chất, từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất trường học.
- Có thêm các phương tiện giảng dạy cho giáo viên như máy truyền hình, máy
chiếu,.....
- Có thêm tài liệu tham khảo cho bộ môn.

18


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua nghiên cứu và thực hiện sáng kiến “Kinh nghiệm xây dựng nội dung tiết
Toán tăng cho học sinh lớp 3 ” tôi nhận thấy: Muốn có trò giỏi thì phải có phương
pháp học tập tốt, muốn có phương pháp học tập tốt thì phải có phương pháp giảng
dạy tốt, có nội dung dạy học thiết thực phù hợp, khoa học, sát đối tượng. Trò phải
học như thế nào để “Học một biết mười”. Muốn vậy thì Thầy phải “Biết mười dạy
một”. Đó là mối quan hệ logic biện chứng, yếu tố cần và đủ trong giáo dục học
sinh.
Bằng kết quả đạt được phần nào khẳng định các giải pháp mà tôi đã thực hiện
có tính khả thi, phù hợp với đối tượng học sinh song để các giải pháp này thực sự
thành công hơn rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo cũng
như của các đồng nghiệp để các tiết dạy môn buổi 2/ngày nói riêng và môn Toán
nói chung đạt kết quả cao.
2. Khuyến nghị
Để áp dụng được sáng kiến đạt hiệu quả cao, ngoài việc giáo viên luôn phải trau

GIÁO ÁN MINH HỌA TIẾT TOÁN (TĂNG)
1. Giáo án minh họa tiết Toán (tăng) theo phương pháp truyền thống
TOÁN (TĂNG)
Luyện tập: Phép trừ các số trong phạm vi 10 000
I. Mục tiêu:
- Củng cố trừ các số trong phạm vi 10 000.
- Rèn kĩ năng đặt tính, tính, giải toán cho HS. HS biết vận dụng các kiến thức đã
học để giải các bài toán có liên quan.
- Có ý thức yêu thích môn toán, chăm học toán.
II. Đồ dùng dạy học: BP chép BT3
III. Hoạt động dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
HĐ1: Ôn tập lí thuyết
- GV yêu cầu HS nêu các bước thực hiện - Nói theo cặp.
phép trừ các số trong phạm vi 10000.
- Một số HS nói trước lớp.
- GV yêu cầu HS lấy VD minh hoạ.
- HS lấy VD minh hoạ.
=> Chốt: Thực hiện theo hai bước:
B1. Đặt tính
B2. Tính.
HĐ2: Thực hành
Bài 1: Đặt tính rồi tính
- XĐ yêu cầu của bài.
2345 - 2322
8623 - 5291
- Làm vào bảng con, một số HS làm
5674 - 654
6074- 266

- GV cùng HS phân tích đề.
- GV yêu cầu HS giải vào vở.
- Làm bài vào vở, một HS lên bảng
làm; Dưới lớp trao đổi vở, chữa bài.
- GV chữa bài.
Bài giải
Buổi chiều cửa hàng đó bán được số
ki - lô - gam gạo là:
2530 – 912 = 1618 (kg)
Đáp số: 1618kg gạo.
=> Củng cố cách giải bài toán bằng
phép trừ các số trong phạm vi 10000.
Bài 4:
Tìm một số, biết rằng lấy số đó cộng với - HS xđ yêu cầu của bài.
25 thì bằng 2653 trừ đi 178.
- GV hướng dẫn HS giải
Gọi số cần tìm là x, ta có:
* Nêu cách làm của mình.
x + 25 = 2653 -178
x + 25 = 2475
x
= 2475 – 25
x
= 2450
(Thử lại: 2450 + 25 = 2475
2653 - 178 = 2475)
Vậy số cần tìm là 2450
- GV yêu cầu HS có thể giải theo cách
khác.
=> Củng cố về tìm thành phần chưa biết

B1. Đặt tính( Đặt số trừ dưới số bị trừ sao
cho các hàng thẳng cột với nhau).
B2. Tính( Thực hiện từ phải sang trái, từ
trên xuống dưới)..
HĐ2: Thực hành (20 - 25 phút)
Bài 1: Đặt tính rồi tính
- Đọc yêu cầu của bài.
2345 - 2322
8623 - 5291
5674 - 654
6074- 266
- Bài có mấy yêu cầu? (GV đồng thời gạch - 2 yêu cầu:
chân từ quan trọng trong đề bài)
Yêu cầu 1: Đặt tính
Yêu cầu 2: Tính
- Yêu cầu HS làm bài (thời gian 3 phút)
- HS làm vào vở, 1 HS làm bảng
lớp
- Em nào làm xong trước có thể dùng phép * HS dùng phép cộng để thử lại
cộng để kiểm tra kết quả của từng phép tính? (Hiệu + Số trừ = Số bị trừ)
* HS thử lại bằng phép tính trừ.
- KK HS tìm cách khác để kiểm tra.
22


- Khi đặt tính, tính phép trừ em làm thế nào?
- GV và HS nhận xét, chốt cách làm đúng.
=>GV chốt trừ các số trong phạm vi 10 000:
+ Đặt tính: Đặt số trừ dưới số bị trừ sao
cho các hàng thẳng cột với nhau.

Dự kiến: (BP)Một cửa hàng bán gạo, buổi
sáng bán được 6074kg gạo. Buổi sáng bán
được nhiều hơn buổi chiều 266kg gạo. Hỏi
buổi chiều cửa hàng bán được bao nhiêu ki
– lô - gam gạo? ( 6- 7 phút)
- Yêu cầu 1 - 2 HS đọc đề toán.
- Đọc đề.
- Bài toán cho biết gì? Hỏi gì?
- HSTL
- GV yêu cầu HS tóm tắt, giải vào vở.
- Làm bài vào vở, một HS lên
bảng làm.
- Quan sát học sinh trong lớp, nếu thấy có * HS tính tổng số ki - lô - gam gạo
HS làm xong trước, yêu cầu HS tìm tổng số bán trong cả ngày.
ki - lô - gam gạo bán trong cả ngày.
- GV chữa bài.
Bài giải:
Buổi chiều cửa hàng đó bán
được số ki – lô - gam gạo là:
6074 – 266 = 5808 (kg)
Đáp số: 5808kg gạo.
23


- Để kiểm tra kết quả của bài toán đúng hay * Lấy số gạo buổi sáng - số gạo
sai em làm thế nào?
buổi chiều = phần nhiều hơn
Lấy số gạo buổi chiều + phần
nhiều hơn = số gạo buổi sáng.
- Nêu các bước giải bài toán đơn bằng phép * HS nêu 5 bước giải bài toán

- Nêu cách đặt tính, cách tính phép trừ trong
phạm vi 10000?
- Nhận xét giờ học.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status