VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ TRỌNG PHƢƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, Năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ TRỌNG PHƢƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
khoa học và công nghệ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là kết quả của quá trình học
tập, nghiên cứu khoa học của bản thân. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa từng được công bố. Các thông tin trích dẫn trong luận văn
được chỉ rõ xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố. Tác giả xin chịu
trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình./.
Học viên
Hồ Trọng Phƣơng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ .........................................................................................10
1.1. Cở sở lý luận ......................................................................................................10
1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................19
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG NGÃI.............................................................29
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi có tác động
đến việc thực hiện chính sách khoa học và công nghệ .............................................29
2.2. Chính sách KH&CN của tỉnh Quảng Ngãi ........................................................31
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TỈNH QUẢNG NGÃI .............................................................................................61
3.1. Quan điểm và mục tiêu ......................................................................................61
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách KH&CN của tỉnh
Quảng Ngãi ...............................................................................................................63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Khoa học và công nghệ
5
HĐND
Hội đồng nhân dân
6
KT-XH
Kinh tế - xã hội
7
QLNN
Quản lý Nhà nước
8
QN
Nghị quyết
9
QPPL
Bảng 2.9. Tổng hợp số lượng, kinh phí nhà nước đầu tư các chương trình đề tài,
dự án KH&CN giai đoạn 2011-2016 .......................................................................52
Bảng 2.10. Tổng hợp kinh phí từ Quỹ phát triển KH&CN của Doanh nghiệp đầu
tư cho nghiên cứu, ứng dụng KH&CN giai đoạn 2011-2015 ...................................55
Bảng 2.11. Tổng hợp nguồn kinh phí xã hội hóa đầu tư cho các đề tài, dự án
KH&CN giai đoạn 2011-2016 ..................................................................................56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành công
cuộc đổi mới toàn diện, Đảng ta sớm có các định hướng và chỉ đạo đúng đắn về vị
trí, vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời luôn coi trọng
và tạo điều kiện thuận lợi để KH&CN nước nhà phát triển. Quan điểm coi KH&CN
là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
được khẳng định và quán triệt trong nhiều văn kiện của Đảng thời kỳ đổi mới.
Cuộc cách mạng KH&CN hiện đại với các bước tiến như vũ bão diễn ra
trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tạo ra cơ hội hết sức thuận lợi để
các nước, nhất là các nước đang phát triển tranh thủ và đẩy mạnh thực hiện quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách so với các
nước phát triển. Trong khi đó bối cảnh trong nước cũng cho thấy mô hình tăng
trưởng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và nguồn tài nguyên
thiên nhiên không tái tạo đã không còn thích hợp; chỉ số kinh tế tri thức còn rất
thấp, chưa đạt mức trung bình của thế giới; tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều
rộng, tốc độ đổi mới công nghệ và tỷ trọng giá trị gia tăng thấp. Để đổi mới mô hình
tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nhằm đưa Việt Nam sớm ra khỏi bẫy thu nhập
trung bình và cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Chính
phủ đã xác định một trong ba khâu đột phá chiến lược là phát triển KH&CN và
nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là nhân tố quan trọng mang tính đòn bẩy,
quyết định thành công của công cuộc tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng
vị trên địa bàn; Cơ chế quản lý nhiệm vụ KH&CN chậm đổi mới dẫn đến một số
tiến bộ kỹ thuật và công nghệ lựa chọn để chuyển giao chưa thực sự phù hợp với
điều kiện của địa phương, do đó chưa khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của các địa
bàn, phần lớn các sản phẩm nông, lâm, thủy sản của Quảng Ngãi được tạo ra sản
phẩm chủ yếu ở dạng thô, hiệu quả sản xuất không cao,…
Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại nêu trên là do việc thực hiện chính
sách về KH&CN còn nhiều bất cập: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chậm đổi
mới chưa đáp ứng kịp thời với sự phát triển của xã hội; Tổ chức bộ máy quản lý nhà
2
nước về KH&CN có nhiều điểm chưa hợp lý ở cấp tỉnh và cấp huyện; Năng lực cán
bộ quản lý về KH&CN còn yếu cả về số lượng và chất lượng dẫn đến năng lực thực
hiện các nhiệm vụ KH&CN hạn chế; cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị nghiên
cứu còn thiếu, chưa đồng bộ. Việc cấu trúc chương trình, xác định nhiệm vụ, tiêu
chí đánh giá và phương thức triển khai đối với các nhiệm vụ KH&CN theo cơ chế
đặt hàng còn nhiều lúng túng; Chưa thực sự huy động có hiệu quả các nguồn lực xã
hội và doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN. Mối liên kết giữa nghiên cứu và đào tạo,
giữa nghiên cứu với thị trường, giữa nhà khoa học với doanh nghiệp còn hạn chế.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn khách quan nêu trên, cùng với quá trình công
tác nhiều năm trong lĩnh vực quản lý KH&CN, mong muốn góp một phần công sức
của mình vào việc khắc phục sự bất cập giữa phát triển KT-XH với các chính sách
KH&CN, bảo đảm cho tỉnh phát triển nhanh và bền vững, tôi chọn đề tài: “Thực
hiện chính sách khoa học và công nghệ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm đối tượng
nghiên cứu với mục tiêu đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tính hiệu
lực, hiệu quả trong việc thực thi các chính sách KH&CN góp phần phát triển kinh
tế-xã hội tỉnh Quảng Ngãi theo hướng bền vững.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu về chính sách, CSC
CSC; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định CSC; yêu
cầu, hình thức, phương pháp tổ chức thực thi CSC và phân cấp quản lý CSC;
nguyên tắc, tiêu chí, quy trình, nội dung và phương pháp phân tích CSC; nội dung
đánh giá CSC; tổ chức công tác phân tích, đánh giá CSC. Đặc biệt tác giả còn chú
trọng đến việc vận dụng những kiến thức cơ bản vào thực tiễn đánh giá CSC ở Việt
Nam.
Nguyễn Hữu Hải đã có những khái quát chung nhất về lý luận CSC như: quá
trình phát triển khoa học chính sách; đặc điểm, vai trò và phân loại CSC; cấu trúc
nội dung và chu trình CSC; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ
hoạch định CSC; yêu cầu, các hình thức, phương pháp tổ chức thực thi CSC và
phân cấp quản lý CSC; nguyên tắc, tiêu chí, quy trình, nội dung và phương pháp
phân tích SCC; nội dung đánh giá CSC; tổ chức công tác phân tích, đánh giá CSC
[14].
4
Các công trình nghiên cứu về chính sách khoa học và công nghệ
Ở trong nước đã có một số tác giả nghiên cứu về chính sách KH&CN, như
cuốn sách: Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2016, do Cục Thông tin KH&CN
- Bộ KH&CN phát hành, đã giới thiệu các nội dung về đổi mới quản lý hoạt động
KH&CN và các kết quả hoạt động KH&CN. Phát triển thị trường KH&CN Việt
Nam hướng tới năm 2020, của TS.Nguyễn Chiến Thắng, nhà xuất bản khoa học xã
hội năm 2013, đã đưa ra bức tranh tổng thể về KH&CN nói chung và thị trường
KH&CN Việt Nam vẫn trong giai doạn hình thành, mới ở dạng sơ khai. Sản phẩm
KH&CN còn nghèo nàn, sự tham gia của khu vực tư nhân còn hạn chế, hành lang
pháp lý vẫn đang còn phải hoàn thiện, các định chế hỗ trợ thị trường chưa phát
triển, gắn kết cung cầu còn lỏng lẻo [13].
Các công trình khoa học của PGS.TS Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận
nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, xuất bản lần thứ
trị toàn cầu góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững đất nước” [1].
+ Năm 2009, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã ban hành Chiến lược Đổi
mới sáng tạo của Mỹ và được cập nhật vào năm 2015, trong đó xác định phát triển
hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phục vụ cho nền kinh tế đổi mới sáng tạo, mang lại lợi
ích cho tất cả người dân Mỹ. “Chúng ta biết rằng một quốc gia đi đầu vào đổi mới
ngày hôm nay sẽ sở hữu nền kinh tế toàn cầu trong tương lai. Đây là một lợi thế mà
Mỹ không thể bỏ qua”, Tổng thống Barack Obama phát biểu ngày 28/01/2014 [9].
+ Trong Kế hoạch “Made in China 2025” được Trung Quốc công bố vào
ngày 19/5/2015, nhằm đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc số một thế giới
vào năm 2049-năm kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa [4].
+ Nhật Bản đã đưa ra tầm nhìn Nhật Bản đến năm 2050 (Japan Vision 2050),
trong đó đã đặt ra những sứ mệnh cần nhắm tới của các chiến lược và chính sách
KH&CN cũng như giáo dục và đào tạo của Nhật Bản [4].
+ Chính sách KH&CN của Hàn Quốc trong các cuộc cách mạng công
nghiệp, Hàn Quốc bắt tay vào khôi phục kinh tế trong khi thế giới đang ở thời kỳ
cách mạng công nghiệp lần thứ hai. Trải qua 50 năm, từ một nước nghèo, Hàn Quốc
đã trở thành một trong những quốc gia đi đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ ba, gia nhập nhóm các nước kinh tế phát triển và ngày nay đang tiến vào
6
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Sợi chỉ đỏ dẫn dắt sự phát triển thần kỳ “kỳ tích sông Hàn” của quốc gia này là phát triển KH&CN.
Các nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích. Tuy nhiên, các
nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến những lĩnh vực riêng. Chưa có đề tài nào đánh
giá một cách toàn diện về tình hình thực hiện các chính sách về KH&CN, cũng như
đánh giá khái quát những tác động của chính sách KH&CN trong phát triển KTXH
của địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: tác giả tiến hành thu thập các tài liệu có
sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết,
quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các bài
báo, các công trình luận án, luận văn đã được công bố; đây là tài liệu phục vụ kế
thừa nghiên cứu của tác giả. Đồng thời, tiến hành thu thập số liệu từ các báo cáo;
thống kê có liên quan đến đề tài nghiên cứu, thu thập thông tin từ các tài liệu của
các tổ chức và học giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
Phương pháp phân tích: Trên cơ sở những thông tin thu thập được, bằng
phương pháp phân tích, suy luận, lôgic, luận văn sẽ đi đến các nhận định và kết luận
về thực tiễn thi hành Chính sách KH&CN của tỉnh Quảng Ngãi.
Phương pháp thống kê: là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số
liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình
phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu
phục vụ cho nội dung về đánh giá thực trạng thực hiện chính sách KH&CN ở tỉnh
Quảng Ngãi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả đánh giá làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết liên quan
đến CSC, từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu lực, hiệu quả chính sách được ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận
dụng các lý thuyết về CSC để xem xét giữa lý thuyết về chính sách và thực
tiễn về chính sách KH&CN ở tỉnh Quảng Ngãi, từ đó nâng cao hiệu quả của
chính sách trong những năm tiếp theo.
8
của con người [20].
Khoa học là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt nhằm đạt tới những hiểu
biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sản xuất và đời sống trong những điều
kiện KT-XH nhất định. Khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của con người với
những đặc điểm riêng về nội dung, về phương thức hoạt động, về quy luật phát triển
và chức năng xã hội.
Điều 3, Luật KH&CN năm 2013 của Việt Nam [25] nêu rõ: “Khoa học là hệ
thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự
nhiên, xã hội và tư duy”. Có rất nhiều cách phân loại khoa học. Theo Luật KH&CN
thì có nhiều cách để tiếp cận việc phân chia khoa học, phổ biến nhất là hai cách sau
đây:
Một là, tiếp cận đối tượng. Theo cách này, khoa học gồm 2 loại:
- Khoa học tự nhiên: Nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự
nhiên, phát hiện các quy luật, xác định các phương thức chinh phục và cải tạo nó.
- Khoa học xã hội: Nghiên cứu các hiện tượng, quá trình và quy luật vận
động, phát triển của xã hội, làm cơ sở để thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển nhân
tố con người.
Hai là, tiếp cận từ cách thức tổ chức nghiên cứu khoa học. Theo cách phân
10
chia này, khoa học gồm hai loại:
- Khoa học cơ bản: Xác định những quy luật, phương hướng và phương pháp
để triển khai khoa học ứng dụng.
- Khoa học ứng dụng: Xác định những nguyên tắc, quy tắc và phương pháp
cụ thể để ứng dụng khoa học cơ bản vào hoạt động cải biến các đối tượng tự nhiên,
xã hội và tư duy.
Điều 3, Luật KH&CN năm 2013 của Việt Nam [25]:
* Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc
không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
-Nhân lực nghiên cứu và phát triển, là một trong những chỉ tiêu quan trọng
so sánh nguồn lực KH&CN của các quốc gia với nhau. Theo UNESCO và OECD,
nhân lực nghiên cứu và phát triển (NC&PT) là gồm những người tham gia trực tiếp
vào hoạt động NC&PT. Nhân lực NC&PT bao gồm các cán bộ nghiên cứu, cán bộ
kỹ thuật, nhân viên hỗ trợ và nhân lực khác [16].
Nguồn nhân lực KH&CN=tổng nhân lực có trình độ cao đẳng/đại học trở lên.
-Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu): là
những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc
chưa có văn bằng chính thức song làm các công việc tương đương như nhà nghiên
cứu/nhà khoa học tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quá trình mới,
tạo ra phương pháp và hệ thống mới [16].
-Cán bộ kỹ thuật: bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải
có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực KH&CN; tham gia vào
NC&PT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ KH&CN có áp dụng những khái niệm
và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của cán bộ nghiên cứu [16].
1.1.1.2. Chính sách, chính sách công và chính sách KH&CN
- Chính sách
Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội.
Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những phản ứng
của chính quyền. Những phản ứng đó khi định hình và thể hiện một cách chính thức
được gọi dưới cái tên “chính sách”.
Mặc dù chính sách của nhà nước là vấn đề nghiên cứu từ rất lâu, nhưng chỉ trở
thành vấn đề được xem xét có tính hệ thống từ vài thập kỷ gần đây. Sự phát triển của
12
nó gắn với một số (không nhiều) sự kiện lớn trên thế giới, đánh dấu sự thay đổi từ khi
kết thúc thế chiến thứ hai. Khái niệm khoa học chính sách được Lasswell đề cập lần
đầu tiên từ năm 1951. Đến nay, khoa học chính sách đã có những phát triển mạnh mẽ,
CSC là chính sách của nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời,
tồn tại, phát triển của nhà nước. CSC có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước. Đến nay, đã có nhiều định nghĩa về CSC, Thomas R.Dye cho rằng
CSC là “cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm” [6, tr.4].
William Jenkins đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các quyết định có liên
quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa
chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” [26, tr.5]. Theo tác
giả, CSC là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn; đồng thời, định
nghĩa này cũng cho thấy một cách rõ ràng CSC là “một tập hợp các quyết định có liên
quan với nhau” và quá trình chính sách là hành vi định hướng mục tiêu của nhà nước.
Guy Peter cho rằng: “CSC là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng
trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” [6, tr.5]. Định nghĩa này
khẳng định chủ thể ban hành và thực thi CSC là nhà nước, đồng thời nhấn mạnh một
khía cạnh quan trọng của CSC, đó là tác động của CSC đến đời sống của mọi người
dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể.
CSC theo Nguyễn Duy Gia “là một tập hợp các quyết định hành động của Nhà
nước nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục
tiêu xác định. CSC do Nhà nước đề ra và tổ chức thực thi nên CSC phản ánh bản chất
của Nhà nước đó” [12].
Theo tác giả Lê Chi Mai: “CSC là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết
định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời
sống KTXH theo mục tiêu xác định” [20, tr.38]. Đồng thời tác giả cũng nhấn những
đặc trưng cơ bản của CSC như sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành CSC là Nhà nước; Thứ
hai, các quyết định trong CSC này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng
bao gồm cả những hành vi thực tiễn; Thứ ba, CSC được ban hành nhằm giải quyết
những vấn đề đặt ra trong đời sống KTXH theo những mục tiêu xác định; Thứ tư, CSC
gồm nhiều quyết định có liên quan đến nhau.
Như vậy có rất nhiều định nghĩa về “CSC” tùy theo những góc độ tiếp cận khác
nhau. Tựu chung lại, có thể hiểu “CSC là tập hợp các quyết định của Nhà nước để giải
Thứ nhất, Chính sách KH&CN có tính linh hoạt, mềm dẻo
Quá trình nghiên cứu khoa học là quá trình sáng tạo ra những điều mới mẻ.
15
Tính mới trong nghiên cứu khoa học được hiểu là dù đạt được một phát hiện mới thì
người nghiên cứu vẫn phải hướng tới, tìm tòi những điều mới mẻ hơn. Nó không có
một quy luật chung nào về thời gian, tiền bạc, hay sản phẩm của quá trình nghiên
cứu. Nhiều khi thời gian kéo dài để đến kết quả, đồng thời có sự rủi ro như: kết quả
nghiên cứu không được ứng dụng do phát minh quá sớm hay quá chậm. Chính vì
vậy, chính sách về KH&CN có tính linh hoạt, mềm dẻo, có như vậy mới tạo điều
kiện cho các nhà nghiên cứu, hoạt động trong lĩnh vực KH&CN tiếp tục con đường
của mình.
Thứ hai, Chính sách KH&CN có tính kế thừa
Hầu hết các phương hướng nghiên cứu đều xuất phát và kế thừa từ các kết
quả đã đạt được trước đó, đòi hỏi sự nối tiếp các hoạt động nghiên cứu của nhiều
thế hệ từ đời này sang đời khác. Chính vì vậy, chính sách về KH&CN phải tích cực
hội nhập quốc tế nhằm đón đầu những thành tựu khoa học của thế giới, phải nâng
cao hoạt động thống kê và thông tin KH&CN để hình thành nguồn thông tin
KH&CN phục vụ cho nghiên cứu, triển khai,…
1.1.2.2. Vai trò của chính sách KH&CN
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã
chỉ ra rằng: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển KH&CN là quốc
sách hàng đầu”; “KH&CN giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản
xuất hiện đại bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao sản xuất, chất lượng, hiệu
quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh củ nền kinh tế”.
Điều 62 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Phát triển KH&CN là quốc sách
hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”
[37].
hóa Việt Nam.
- Khoa học kỹ thuật và công nghệ đóng góp tích cực vào việc nâng cao năng
suất, chất lượng hàng hóa và dịch vụ do đó cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp và nền kinh tế.
- Đặc biệt, khoa học tự nhiên còn tạo cơ sở cho việc hình thành 1 số lĩnh vực
KH&CN đa ngành mới, góp phần nâng cao trình độ và năng lực của khoa học cơ
bản.
17
1.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách KH&CN
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương
Chiến lược phát triển KT-XH là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu cần
đạt được trong một thời kỳ. Chính sách KH&CN cấp tỉnh tuân theo các quan điểm,
đường lối trong chiến lược phát triển KT-XH nhằm đạt được mục tiêu chung của
đất nước. Chiến lược phát triển KT-XH đề ra định hướng để từ đó xây dựng các
chính sách về KH&CN một cách có trọng tâm, trọng điểm nhằm khai thác và sử
dụng có hiệu quả phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước. Tùy theo
mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, tình hình phát triển thực tế của đất nước mà Đảng và
Nhà nước ta sẽ có những chiến lược phù hợp để phát triển KH&CN của đất nước.
Thể chế, chính sách về KH&CN
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa.Vì vậy, mọi hoạt động đều chịu sự chi phối bởi thể chế, chính sách, hệ
thống pháp luật của Đảng và Nhà nước. Chính sách KH&CN cũng không ngoại lệ,
hoạt động về KH&CN phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
Tiềm lực KH&CN
Tiềm lực KH&CN của một quốc gia, địa phương ảnh hưởng rất lớn đến
chính sách KH&CN của quốc gia hay địa phương đó. Tiềm lực KH&CN được hiểu
là khả năng thực tế của toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất và thông tin KH&CN, sức