VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ TRỌNG PHƢƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, Năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ TRỌNG PHƢƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
khoa học và công nghệ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là kết quả của quá trình học
tập, nghiên cứu khoa học của bản thân. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa từng được công bố. Các thông tin trích dẫn trong luận văn
được chỉ rõ xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố. Tác giả xin chịu
trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình./.
Học viên
Hồ Trọng Phƣơng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ .........................................................................................10
1.1. Cở sở lý luận ......................................................................................................10
1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................19
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG NGÃI.............................................................29
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi có tác động
đến việc thực hiện chính sách khoa học và công nghệ .............................................29
2.2. Chính sách KH&CN của tỉnh Quảng Ngãi ........................................................31
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TỈNH QUẢNG NGÃI .............................................................................................61
3.1. Quan điểm và mục tiêu ......................................................................................61
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách KH&CN của tỉnh
Quảng Ngãi ...............................................................................................................63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Khoa học và công nghệ
5
HĐND
Hội đồng nhân dân
6
KT-XH
Kinh tế - xã hội
7
QLNN
Quản lý Nhà nước
8
QN
Nghị quyết
9
QPPL
Bảng 2.9. Tổng hợp số lượng, kinh phí nhà nước đầu tư các chương trình đề tài,
dự án KH&CN giai đoạn 2011-2016 .......................................................................52
Bảng 2.10. Tổng hợp kinh phí từ Quỹ phát triển KH&CN của Doanh nghiệp đầu
tư cho nghiên cứu, ứng dụng KH&CN giai đoạn 2011-2015 ...................................55
Bảng 2.11. Tổng hợp nguồn kinh phí xã hội hóa đầu tư cho các đề tài, dự án
KH&CN giai đoạn 2011-2016 ..................................................................................56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành công
cuộc đổi mới toàn diện, Đảng ta sớm có các định hướng và chỉ đạo đúng đắn về vị
trí, vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời luôn coi trọng
và tạo điều kiện thuận lợi để KH&CN nước nhà phát triển. Quan điểm coi KH&CN
là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
được khẳng định và quán triệt trong nhiều văn kiện của Đảng thời kỳ đổi mới.
Cuộc cách mạng KH&CN hiện đại với các bước tiến như vũ bão diễn ra
trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tạo ra cơ hội hết sức thuận lợi để
các nước, nhất là các nước đang phát triển tranh thủ và đẩy mạnh thực hiện quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách so với các
nước phát triển. Trong khi đó bối cảnh trong nước cũng cho thấy mô hình tăng
trưởng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và nguồn tài nguyên
thiên nhiên không tái tạo đã không còn thích hợp; chỉ số kinh tế tri thức còn rất
thấp, chưa đạt mức trung bình của thế giới; tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều
rộng, tốc độ đổi mới công nghệ và tỷ trọng giá trị gia tăng thấp. Để đổi mới mô hình
tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nhằm đưa Việt Nam sớm ra khỏi bẫy thu nhập
trung bình và cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Chính
phủ đã xác định một trong ba khâu đột phá chiến lược là phát triển KH&CN và
nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là nhân tố quan trọng mang tính đòn bẩy,
quyết định thành công của công cuộc tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng
vị trên địa bàn; Cơ chế quản lý nhiệm vụ KH&CN chậm đổi mới dẫn đến một số
tiến bộ kỹ thuật và công nghệ lựa chọn để chuyển giao chưa thực sự phù hợp với
điều kiện của địa phương, do đó chưa khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của các địa
bàn, phần lớn các sản phẩm nông, lâm, thủy sản của Quảng Ngãi được tạo ra sản
phẩm chủ yếu ở dạng thô, hiệu quả sản xuất không cao,…
Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại nêu trên là do việc thực hiện chính
sách về KH&CN còn nhiều bất cập: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chậm đổi
mới chưa đáp ứng kịp thời với sự phát triển của xã hội; Tổ chức bộ máy quản lý nhà
2
nước về KH&CN có nhiều điểm chưa hợp lý ở cấp tỉnh và cấp huyện; Năng lực cán
bộ quản lý về KH&CN còn yếu cả về số lượng và chất lượng dẫn đến năng lực thực
hiện các nhiệm vụ KH&CN hạn chế; cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị nghiên
cứu còn thiếu, chưa đồng bộ. Việc cấu trúc chương trình, xác định nhiệm vụ, tiêu
chí đánh giá và phương thức triển khai đối với các nhiệm vụ KH&CN theo cơ chế
đặt hàng còn nhiều lúng túng; Chưa thực sự huy động có hiệu quả các nguồn lực xã
hội và doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN. Mối liên kết giữa nghiên cứu và đào tạo,
giữa nghiên cứu với thị trường, giữa nhà khoa học với doanh nghiệp còn hạn chế.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn khách quan nêu trên, cùng với quá trình công
tác nhiều năm trong lĩnh vực quản lý KH&CN, mong muốn góp một phần công sức
của mình vào việc khắc phục sự bất cập giữa phát triển KT-XH với các chính sách
KH&CN, bảo đảm cho tỉnh phát triển nhanh và bền vững, tôi chọn đề tài: “Thực
hiện chính sách khoa học và công nghệ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm đối tượng
nghiên cứu với mục tiêu đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tính hiệu
lực, hiệu quả trong việc thực thi các chính sách KH&CN góp phần phát triển kinh
tế-xã hội tỉnh Quảng Ngãi theo hướng bền vững.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu về chính sách, CSC
CSC; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định CSC; yêu
cầu, hình thức, phương pháp tổ chức thực thi CSC và phân cấp quản lý CSC;
nguyên tắc, tiêu chí, quy trình, nội dung và phương pháp phân tích CSC; nội dung
đánh giá CSC; tổ chức công tác phân tích, đánh giá CSC. Đặc biệt tác giả còn chú
trọng đến việc vận dụng những kiến thức cơ bản vào thực tiễn đánh giá CSC ở Việt
Nam.
Nguyễn Hữu Hải đã có những khái quát chung nhất về lý luận CSC như: quá
trình phát triển khoa học chính sách; đặc điểm, vai trò và phân loại CSC; cấu trúc
nội dung và chu trình CSC; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ
hoạch định CSC; yêu cầu, các hình thức, phương pháp tổ chức thực thi CSC và
phân cấp quản lý CSC; nguyên tắc, tiêu chí, quy trình, nội dung và phương pháp
phân tích SCC; nội dung đánh giá CSC; tổ chức công tác phân tích, đánh giá CSC
[14].
4
Các công trình nghiên cứu về chính sách khoa học và công nghệ
Ở trong nước đã có một số tác giả nghiên cứu về chính sách KH&CN, như
cuốn sách: Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2016, do Cục Thông tin KH&CN
- Bộ KH&CN phát hành, đã giới thiệu các nội dung về đổi mới quản lý hoạt động
KH&CN và các kết quả hoạt động KH&CN. Phát triển thị trường KH&CN Việt
Nam hướng tới năm 2020, của TS.Nguyễn Chiến Thắng, nhà xuất bản khoa học xã
hội năm 2013, đã đưa ra bức tranh tổng thể về KH&CN nói chung và thị trường
KH&CN Việt Nam vẫn trong giai doạn hình thành, mới ở dạng sơ khai. Sản phẩm
KH&CN còn nghèo nàn, sự tham gia của khu vực tư nhân còn hạn chế, hành lang
pháp lý vẫn đang còn phải hoàn thiện, các định chế hỗ trợ thị trường chưa phát
triển, gắn kết cung cầu còn lỏng lẻo [13].
Các công trình khoa học của PGS.TS Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận
nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, xuất bản lần thứ