VIỆN HÀN LÂM
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC
XÃ HỘI VIỆT NAM
KHOA
HỌC
XÃ HỘI
VIỆT XÃ
NAMHỘI
HỌC VIỆN KHOA
HỌC
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THẾ NAM
TRƯƠNG QUANG NHÂN
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
ÁP DỤNG
BIỆN
NGĂN
CHẶN
ĐỐI VỚI
TỈNH CÁC
QUẢNG
NGÃI;PHÁP
TÌNH HÌNH,
NGUYÊN
NHÂN
GIẢI PHÁP
HUỲNH THẾ NAM
TRƯƠNG QUANG NHÂN
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
NGƯỜI
BỊ BUỘC TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TỈNH QUẢNG NGÃI; TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN
TỪ THỰC
TIỄN
TỈNH
QUẢNG
VÀ GIẢI
PHÁP
PHÒNG
NGỪA NGÃI
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
: 60.38.01.05
Mã số
: 838.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN ..........5
1.1. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo
pháp luật tố tụng hình sự.........................................................................................5
1.2. Khái niệm, các dấu hiệu pháp lí của tội trộm cắp tài sản ................................8
1.3. Khái niệm, đặc điểm người bị buộc tội trộm cắp tài sản ...............................15
1.4. Nhận thức chung về áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc
tội trộm cắp tài sản ................................................................................................20
Chương 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CÁC
BIỆN PHÁP CHẶN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BUỘC
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI ...............23
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn ............23
2.2. Thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự đối với người
bị buộc tội trộm cắp tài sản tại tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2013 đến năm 2017 ..........37
2.3. Những hạn chế, khó khăn trong áp dụng các biện pháp ngặn chặn đối với
người bị buộc tội trộm cắp tài sản và nguyên nhân của chúng .............................48
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BUỘC TRỘM CẮP
TÀI SẢN ...................................................................................................................59
3.1. Dự báo tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
trong thời gian tới .................................................................................................59
3.2. Hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp khác bảo đảm hiệu quả của việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn ..............................................................................62
Kết luận Chương 3 ................................................................................................77
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
:
Cơ quan điều tra
CSĐT
:
Cảnh sát điều tra
ĐTV
:
Điều tra viên
KSV
:
Kiểm sát viên
NXB
:
Nhà xuất bản
THTT
:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển miền Trung, bao gồm 14 đơn vị hành chính
(01 thành phố, 06 huyện miền núi, 06 huyện đồng bằng ven biển và 01 huyện đảo), có
bờ biển dài khoảng 129 km, có tuyến Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy qua
tỉnh, có Quốc lộ 24 nối Quảng Ngãi với Kon Tum và hạ Lào. Trong những năm gần
đây, cùng với cả nước, Quảng Ngãi đã không ngừng phát triển về mọi mặt đời sống
xã hội và đang dần trở thành khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, với nhiều
khu kinh tế, khu công nghiệp được hình thành như: Khu kinh tế tổng hợp Dung Quất,
khu đô thị mới Vạn Tường, Khu Công nghiệp VSIP (Singapor), Khu Công nghiệp
Tịnh Phong, Quảng Phú và đặc biệt là Nhà máy lọc dầu Dung Quất, công trình trọng
điểm của quốc gia.
Bên cạnh đó, tình hình ANTT và tình hình tội phạm trên địa bàn diễn biến ngày
càng phức tạp, trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 712 vụ phạm tội các loại. Nổi lên
và đáng chú ý là tình hình trộm cắp tài sản với tính chất, mức độ, hành vi nguy hiểm
cho xã hội ngày càng tăng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong nhân dân. Trong bối
cảnh đó thì hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội trộm cắp tài sản trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi còn rất hạn chế, tỉ lệ điều tra khám phá án thấp, các cơ quan
THTT gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc áp dụng các BPNC đối với người bị
buộc tội trộm cắp tài sản.
Các BPNC là một chế định pháp lí quan trọng trong luật TTHS Việt Nam. Việc
quy định và áp dụng đúng đắn các BPNC là sự đảm bảo cho quá trình phát hiện
nhanh chóng, chính xác; xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, ngăn
chặn người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, trốn tránh pháp luật, cản trở đến quá
trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Đây là vấn đề rất nhạy cảm, đụng
chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam, những vấn đề lí luận và thực tiễn áp dụng trong
lực lượng Cảnh sát nhân dân” của tác giả Trịnh Công Thanh, NXB Công an nhân
dân, Hà Nội, 2005; Luận án tiến sĩ “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam
trong tố tụng hình sự Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” của tác giả
Nguyễn Văn Điệp và một số luận văn thạc sĩ như: “Các biện pháp ngăn chặn và giải
pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại Thành phố Hồ Chí
Minh” của Lê Ngọc Tiến, 2003 đã tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến các
BPNC. Ngoài ra, còn có các bài tạp chí đề cập đến nội dung này. Tuy nhiên, các công
trình này chủ yếu nghiên cứu một cách tổng thể trên phạm vi rộng hoặc ở một số khía
cạnh về cách thức, phương pháp, căn cứ áp dụng các BPNC mà chưa nghiên cứu sâu
việc áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản ở từng địa phương
cụ thể và với những đặc trưng riêng của từng địa phương đó.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn
đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” có nội dung
đặc thù, cần được nghiên cứu để làm tiêu chí, cơ sở cho hoạt động áp dụng pháp luật
tại tỉnh Quảng Ngãi, đồng thời còn là kinh nghiệm áp dụng chung cho các tỉnh khác
trong phạm vi toàn quốc.
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài
sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2013 đến năm 2017, nhằm phát hiện những
khó khăn vướng mắc, sơ hở, thiếu sót trong quá trình chỉ đạo, phối hợp, thực hiện
nhiệm vụ của cơ quan THTT tỉnh Quảng Ngãi (đặc biệt là Cơ quan CSĐT các cấp
trong Công an tỉnh), từ đó đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp
dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản ở địa bàn cấp tỉnh.
Trên cơ sở đó bổ sung thêm những vấn đề lí luận cần thiết góp phần hoàn thiện
tham khảo các công trình nghiên cứu của các tác giả khác, gắn lí luận và thực tiễn,
nhất là thực tiễn hoạt động TTHS của các cơ quan Công an, VKS nhân dân, TAND
tỉnh Quảng Ngãi.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả kết
hợp nhiều phương pháp: phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế, tham khảo ý
kiến của các cán bộ làm công tác nghiên cứu, ĐTV, KSV, Thẩm phán đang hoạt động
thực tiễn, tham khảo bài viết của các tác giả trước đó để đánh giá, hệ thống hóa hoạt
động áp dụng BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài đã làm rõ những vấn đề lí luận và pháp luật về việc
áp dụng các BPNC trong TTHS của Việt Nam hiện nay; tổng hợp, đánh giá, tìm ra
những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân tồn tại, thiếu sót cũng như các kết quả đạt
được trong quá trình áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; đồng thời, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả việc áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản theo quy định
của BLTTHS.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện lí
luận và pháp luật TTHS về việc áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm
cắp tài sản, qua đó nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước và các cơ quan THTT trên cả nước nói chung và ở tỉnh Quảng Ngãi nói
riêng.
Ngoài ra, đề tài còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu trong các
trường Công an nhân dân và cơ sở đào tạo các cán bộ nghiên cứu, cán bộ trực tiếp
làm nhiệm vụ THTT.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lí luận về áp dụng các BPNC đối với người bị buộc
tội trộm cắp tài sản
biện pháp mà khi áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, các quyền cơ
bản của công dân như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại. Hiện
trong khoa học pháp lí còn nhiều cách diễn đạt về khái niệm BPNC.
Tác giả Trịnh Văn Thanh cho rằng: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng
chế tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng
và các cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định áp dụng
đối với bị can, bị cáo trong trường hợp đặc biệt có thể áp dụng đối với người chưa bị
khởi tố về hình sự nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hoặc không cho họ tiếp tục gây nguy hại cho xã hội”[20, tr.21].
5
Theo giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Biện pháp
ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can,
bị cáo, người bị truy nã hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc
phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ,
ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở
cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”[19, tr.197].
Từ điển Luật học giải thích BPNC là: Biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng
được áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, để ngăn chặn những hành vi nguy hiểm
cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành
động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
BLTTHS Việt Nam năm 2003 mặc dù không đưa ra một khái niệm về BPNC,
tuy nhiên tại Điều 79 BLTTHS cũng đã quy định các căn cứ áp dụng các BPNC như
sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi
cần bảo đảm thi hành án, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án có thể áp
dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi