BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
Họ và tên: LÊ VĂN LONG
Lớp Cao học KTNN 2016
TÊN ĐỀ TÀI
‘THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ
THỐNG NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG CỦA
VIỆT NAM’
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP
ĐẮK LẮK, THÁNG 5 NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
Họ và tên: LÊ VĂN LONG
Lớp Cao học KTNN 2016
TÊN ĐỀ TÀI
‘THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ
THỐNG NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG CỦA
VIỆT NAM’
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
PTKT: Phát triển kinh tế
XĐGN: Xóa đói giảm nghèo
TBKHKT: Tiến bộ khoa học kỹ thuật
KHCN: Khoa học công nghệ
2
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong những năm qua kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to
lớn, tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định vào tốp những nước đầu của thế
giới. Đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đến
năm 2009 chúng ta đã thoát khỏi tình trạng là nước nghèo. Có được những
thành tựu to lớn này là có sự đóng góp công sức của toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân và của tất cả các ngành các cấp trong đó có sự đóng góp to lớn của
ngành nông nghiệp.
Việt Nam vẫn được coi là nước nông nghiệp với khoảng trên 80% dân
số sống ở nông thôn và khoảng 74,6% lực lượng lao động làm nông nghiệp.
Có thể nói nông nghiệp, nông thôn là bộ phận quan trọng trong nên kinh tế
quốc dân của Việt Nam. Nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực
quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; xuất khẩu nông sản đem lại
nguồn ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế; tạo việc làm và thu nhập cho đa số
người dân. Nông thôn là môi trường sống của đa số nhân dân, nơi bảo tồn và
phát triển các truyền thống văn hoá dân tộc.
Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới vấn đề phát triển nông nghiệp,
nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, và coi đó
nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định tình hình chính trị - xã hội,
sự phát triển hài hoà và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất
- Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện, đa dạng theo hướng sản xuất
hàng hóa tập trung, hiện đại, bền vững, thân thiện với môi trường, gắn phát
triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống nhân
dân
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của chuyên đề
3.1. Ý nghĩa khoa học
4
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc nhận định được vấn đề
và đưa ra giải pháp hợp lý nhằm nâng cao trình độ về kỹ thuật và khoa học
trong hệ thông nông nghiệp bền vững ở Việt Nam.
- Góp phần khẳng định vị trí, vai trò của nông nghiệp ở nước ta.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các cơ sở dữ liệu khoa học cho ngành nông nghiệp, khuyến
nông …. và các vùng có điều kiện tương tự để xây dựng quy hoạch, kế hoạch
nông nghiệp, làm cơ sở bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chăn nuôi, đẩy mạnh cơ giới hóa
trong sản xuất, gắn sản xuất với chế biến, thị trường tiêu thụ và mở rộng
xuất khẩu, góp phần cải thiện đời sống của người dân cả nước.
4. Giới hạn của chuyên đề
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài được xây dựng dựa trên số liệu về hệ thống
nông nghiệp ở Việt Nam
Do thời gian thực hiện chuyên đề ngắn, nên chúng tôi không đi sâu
nghiên cứu các yếu tố tự nhiện, kinh tế xã hội và chính sách liên quan đến
mảng nghiên cứu của đề tài…
5
6
được xác định cho nông nghiệp là ánh sáng, nhiệt độ và nước. Ngoài ra,
cũng phải thấy "khí hậu nào, đất nào, cây đó", cho nên khí hậu là yếu tố
quyết định sự phân bố động, thực vật trên trái đất, ngay cả mạng lưới sông
ngòi, độ màu mỡ của đất cũng là hệ quả của khí hậu.
Ánh sáng: Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình tổng hợp chất
hữu cơ của cây. Ánh sáng là yếu tố biến động, ảnh hưởng đến năng suất.
Cần xác định yêu cầu của cây trồng về cường độ chiếu sáng và khả năng
cung cấp ánh sáng từng thời kỳ trong năm để bố trí cây trồng hợp lý. Mỗi
cây trồng có yêu cầu ánh sáng khác nhau. Theo Lý Nhạc và cs (1987) cho
rằng: loại cây quang hợp theo chu trình C4 và chu trình CAM là những
cây ưa sáng, đồng thời cũng là cây ưa nóng. Các cây quang hợp theo chu
trình C3 yêu cầu ánh sáng thấp hơn.
Độ dài ngày: Độ dài ngày dùng để xác định thời gian sinh trưởng của
cây, muốn biết khả năng cung cấp ánh sáng cho cây, cần biết bức xạ và số
giờ nắng hàng tháng hoặc số giờ nắng bình quân ngày. Khi xem xét vai trò
của ánh sáng (độ dài ngày ngắn hay dài) đối với cây trồng phải xem xét độ
dài ngày theo mùa sinh trưởng của cây trồng. Để bố trí HTCTr phù hợp, đạt
năng suất cao và ổn định cần phải căn cứ vào nhu cầu của cây về nhiệt độ
và ánh sáng ở giai đoạn cuối và tình hình nhiệt độ, ánh sáng từng tháng
trong năm.
Nhiệt độ: Theo Nguyễn Văn Viết (2009) diễn biến của nhiệt độ có ý
nghĩa quyết định đến cơ cấu thời vụ gieo trồng khi các điều kiện khác được
bảo đảm. Từng loại cây, giống cây, các bộ phận của cây, các quá trình sinh
lý của cây phát triển thích hợp và an toàn trong khoảng nhiệt độ nhất định.
Tác giả Lý Nhạc và cs (1987) cho rằng: cây ưa nóng là những cây trong 2
tháng cuối yêu cầu nhiệt độ trên 200C, cây ưa lạnh là những cây trong 2
tháng cuối yêu cầu nhiệt độ dưới 200C. Nếu không có nhiệt độ phù hợp với
đất đai là các yếu tố mà con người ít có khả năng thay đổi, còn với cây
trồng thì con người có thể thay đổi các yếu tố đầu vào, chọn lựa, di thực.
Với tiến bộ công nghệ sinh học ngày nay, con người có thể thay đổi bản
8
chất của cây trồng theo ý muốn thông qua các biện pháp như lai tạo, chọn
lọc, gây đột biến, nuôi cấy vô tính.
Hệ sinh thái: Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) hiện diện như là một
hướng có tính khoa học được sử dụng trong nghiên cứu, đối thoại và lựa
chọn mục đích để quản lý giảm chi phí đầu vào của hệ sinh thái. Làm sáng
tỏ những vấn đề tính bền vững trong nông nghiệp là mục tiêu chủ yếu
của HSTNN. Xây dựng HTCTr là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, đó là
HSTNN mà trong đó cây trồng là thành phần chủ yếu. Do đó, cần duy trì
yếu tố cần thiết của HTCTr như đất nông nghiệp, đất rừng và bảo tồn duy trì
đa dạng gien. Vì vậy, việc xác định chủng loại và từng giống cây trồng
phù hợp trong hệ sinh thái ở từng nơi là rất quan trọng. Điều kiện để xác
định, quyết định tính phù hợp của chúng tại một địa phương cụ thể là các yếu
tố sinh thái. Ngoài thành phần chính là cây trồng, hệ sinh thái còn có các
thành phần sống khác như cỏ dại, sâu, bệnh, vi sinh vật, những động vật,
côn trùng và những sinh vật có ích khác. Các thành phần sống ấy cùng với
cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau, tạo nên
các mối quan hệ rất phức tạp, tạo dựng và duy trì cân bằng sinh học trong hệ
sinh thái theo hướng hạn chế các mặt có hại, phát huy mặt có lợi đối với con
người là vấn đề cần được quan tâm trong HSTNN.
Tiến bộ Khoa học công nghệ: Bao gồm các quy trình, công nghệ, biện
pháp kỹ thuật cụ thể và quản lý sử dụng đất, sản xuất, thu hoạch, chăm sóc,
bảo vệ các loại sản phẩm nông nghiệp.
Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất
lượng của các hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế
thống sinh học - sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống
xã hội - văn hóa, qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật.
Hệ thống nông nghiệp là một phương thức khai thác môi trường được
hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống thích ứng với điều kiện
sinh thái, khí hậu của một không gian nhất định đáp ứng với các điều kiện và
nhu cầu của thời điểm ấy
Khái niệm nông nghiệp bền vững
10
Nông nghiệp bền vững là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm, như: nông học, sinh thái học, xã hội
học… Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau, trong đó đáng quan tâm là định
nghĩa của tổ chức sinh thái và môi trường thế giới (WORD) bởi tính tổng hợp
và khái quát cao: nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn được
các yêu cầu của thế hệ hiện nay, mà không giảm khả năng ấy đối với các thế
hệ mai sau. Điều đó có nghĩa là nền nông nghiệp không những cho phép các
thế hệ hiện nay khai thác tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của họ mà còn duy
trì được khả năng ấy cho các thế hệ mai sau
Như vậy, nền nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ
bản là: đảm bảo nhu cầu nông sản của loài người hiện nay và duy trì được
tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau, bao gồm gìn giữ được quĩ đất,
quĩ nước, quĩ rừng, không khí và khí quyền, tính đa dạng sinh học v.v… Xây
dựng nền nông nghiệp bền vững là việc làm cấp thiết và là xu hướng tất yếu
của tiến trình phát triển.
- Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó lồng ghép các quá trình
sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường, đảm bảo thỏa
mãn những nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng
những nhu cầu của tương lai.
- Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được yêu cầu của hiện
- Đề ra một số giải pháp để phát triển nền nông nghiệp bền vững
2.4. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập số liệu
Do điều kiện hạn chế, nên tôi chủ yếu tiến hành thu thập số liệu thứ cấp
từ các nguồn:
+ Những thông tin, số liệu được thu thập từ các báo, tạp chí, luận văn
có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu tại thư viện trường Đại học Tây
Nguyên và thư viện khoa Kinh tế và phát triển nông thôn. Từ đó chọn lọc
những kiến thức, những kết quả có thể sử dụng được.
+ Thu thập từ các trang web có liên quan trên mạng Internet
* Phương pháp xử lý số liệu
Căn cứ vào mục đích của đề tài, tôi tiến hành thu thập những số liệu
cần có bên trên và phân tích các số liệu đó. Tuy nhiên, để phân tích được, tôi
sẽ phân tích các số liệu đó ra theo thời gian, sau đó sắp xếp chúng lại để tạo
thành một chuỗi thời gian nhằm cho thấy sự thay đổi qua từng năm trong lĩnh
vực Nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Từ đó có thể nhận biết được những
13
thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục để đưa Nông nghiệp
nông thôn Việt Nam phát triển theo hướng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
Một phương pháp nữa phục vụ tôi trong quá trình phân tích và xử lý số
liệu là phương pháp so sánh, nhằm so sánh giữa các năm với nhau và so sánh
giữa Nông nghiệp với các ngành khác cũng như giữa Nông nghiệp với tổng
thể nền kinh tế.
14
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
lượng lương thực vượt qua con số 20 triệu tấn, xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt
kim ngạch 310 triệu USD. Đến năm 2008 vừa qua sản lượng lương thực đã
đạt đến con số kỷ lục 39 triệu tấn và đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, đạt kim
ngạch 1,7 tỷ USD.
Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng
triệu tấn lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua đã trở thành nước xuất
khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan). GDP trong lĩnh vực nông
nghiệp bình quân hàng năm tăng 3,3%. Thu nhập và đời sống nhân dân ngày
càng cải thiện hơn, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm bình quân 1,5% năm; bộ
mặt nông thôn thay đổi theo hướng văn minh; trình độ văn hoá, khoa học, kỹ
thuật của nhiều nông dân được nâng lên cao hơn trước.
Nông nghiệp ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn vào tiến trình
phát triển, hội nhập của kinh tế cả nước vào nền kinh tế toàn cầu. Năm 1986,
kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thuỷ sản mới đạt 400 triệu USD. Đến năm
2007 đã đạt tới 12 tỷ USD, tăng gấp 30 lần. Nhờ có những thành tựu, kết quả
đó, nông nghiệp không chỉ đã góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trịxã hội nông thôn và nâng cao đời sống nông dân trên phạm vi cả nước, mà
nông nghiệp đã ngày càng tạo ra nhiều hơn nữa những tiền đề vật chất cần
thiết, góp phần tích cực vào sự đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước trong những năm qua.
Thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình CNH-HĐH
đất nước theo định hướng XHCN đều khẳng định tầm vóc chiến lược của vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông
nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và
lực lượng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an
ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái.
16
thay đổi bộ mặt nông thôn. Nổi bật là sự quan tâm đầu tư phát triển thủy lợi
theo hướng đa mục tiêu. Từ năm 2010 đến nay đã tăng nhanh cả năng lực tưới
và năng lực tiêu, bảo đảm tưới tiêu chủ động cho 83% diện tích gieo trồng
lúa, một số cây trồng khác và cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ.
Hệ thống đê sông, đê biển được củng cố, nâng cấp một bước, nhiều công trình
tiêu thoát lũ và trên 1.100 cụm tuyến dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long
được xây dựng và phát huy tác dụng...
Bốn là, các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi
mới; kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ,
ngành nghề góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn.
Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng số lượng và quy mô. Đến
nay cả nước đã có khoảng trên 12 triệu hộ nông dân hoạt động trong các lĩnh
vực trồng trọt, nuôi trồng thủy sản …. Nhờ chính sách dồn điền đổi thửa mà
quy mô diện tích của các hộ được tập trung hơn. Kinh tế trang trại phát triển
mạnh đa dạng và hiệu quả hơn. Đến 2016 cả nước đã có 9.216 nghìn trang
trại, tăng so với năm 2010 (5.682 trang trại) là 61,6%. Quy mô trang trại ngày
càng mở rộng, góp phần tích cực vào chuyển đổi cơ cấu sản suất; là mô hình
sản xuất hàng hoá có hiệu quả, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho
lao động nông thôn.
Năm là, đời sống vật chất, tinh thần của cư dân các vùng nông thôn
ngày càng được cải thiện; xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn. Năm 2016
thu nhập bình quân đầu người ở khu vực này tăng 6.8 lần so với năm 2010,
đặc biệt là về cơ bản đã xóa được đói, tỷ lệ hộ nghèo hạ xuống còn 18%,
thành tựu này được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Ðồng thời, các công tác
chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, phổ cập giáo dục, văn hóa, thông tin,
thể thao cũng được quan tâm và đẩy mạnh hơn.
18
đường ở Bắc Trung Bộ.
- Kết cấu hạ tầng cơ sở ở nhiều vùng trên cả nước được cải thiện, đời
sống nông dân phần nào được thuận lợi trong quá trình sản xuất nông nghiệp
như: đường xá, điện, y tế,…
- Đời sống văn hóa ở nông thôn cũng có nhiều khởi sắc, tạo được nét
văn hóa truyền thống ở từng vùng, từng địa phương trên cả nước.
- Môi trường sinh thái cũng được quan tâm đầu tư và bảo vệ. Sau 10
năm đã trồng được 3 triệu ha rừng và 300 triệu cây trồng phân tán/ năm, hạn
chế nạn phá rừng và nâng cao độ phủ xanh đất trống, đồi trọc.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được như trên thì sự phát triển bền
vững trong nông nghiệp nông thôn nước ta còn gặp rất nhiều thách thức:
- Ruộng đất manh mún, không phù hợp với việc sản xuất hàng hóa
lớn, tập trung. Khi mà nền nông nghiệp đã lớn mạnh đảm bảo an ninh lương
thực trong nước thì mục tiêu là phải xuất khẩu nông sản phẩm, mang lại hiệu
quả cao hơn cho người nông dân. Tuy nhiên, điều này cần có khu sản xuất
hàng hóa tập trung, sản xuất đồng loạt theo quy trình kỹ thuật nhất định. Tuy
20
nhiên, Việt nam có dân số làm nông nghiệp đông, đất sản xuất nông nghiệp
chật hẹp. Do đó, ruộng đất manh mún nhất là ở vùng đồng bằng Sông Hồng
diện tích đất nông nghiệp trung bình của mỗi hộ nông dân chỉ khoảng
0,3hecta. Vì vậy, khó khăn để áp dụng máy móc, cơ giới hóa vào sản xuất,
năng suất lao động thấp.
- Quá trình cơ giới hóa nông nghiệp và việc áp dụng các quy trình kỹ
thuật sản xuất tiên tiến diễn ra chậm. Đa số các khâu sản xuất trong nông
nghiệp đều làm thủ công nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp.
Điều này là do tình trạng ruộng đất manh mún gây nên, diện tích nhỏ hẹp khó
có thể đưa các máy móc lớn vào sử dụng, chủ yếu chỉ có thể sử dụng các máy
nhỏ gọn công suất thấp. Ngoài ra, còn do người nông dân còn thiếu vốn để
- Áp dụng ngày càng nhiều các giống cây trồng vật nuôi mới thay thế
các giống truyền thống đã làm cho dịch bệnh, sâu bệnh ngày càng nhiều
và khó khăn cho công tác phòng chống dịch. Điều này đã làm cho việc sử
dụng lạm dụng các sản phẩm hóa học, thuốc trừ sâu ngày càng nhiều gây ô
nhiễm môi trường, suy thoái đất, nguồn nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khỏe con người. Người nông dân có trình độ còn hạn chế, chưa ý thức
được việc bảo vệ môi trường nên đã sử dụng bừa bãi các sản phẩm thuốc hóa
học gây ra ô nhiễm nặng nề về môi trường nông thôn. Điển hình vào các đợt
sâu bệnh nở rộ thì nhà nhà đi phun thuốc trừ sâu, gây ra ô nhiêm không hhí
nặng nề trên đồng ruộng. Tác hại lâu dài là các hóa chất này ngấm xuống đất,
nước ngầm, người dân bị đe dọa nghiêm trọng về sức khỏe. Ngày càng có
nhiều căn bệnh lạ nguy hiểm xuất hiện, có những nơi đã xuất hiện “làng ung
thư” …… một phần là do môi trường sống bị ô nhiễm từ hoạt động sản xuất
nông nghiệp.
- Tình trạng sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên vẫn diễn ra phổ biến ở
các vùng nông thôn. Người nông dân vì lợi trước mắt mà đã khai thác một
cách quyệt quệ các nguồn tài nguyên quý như rừng, động thực vật ….. làm
mất khả năng tái tạo tự nhiên của chúng gây mất cân bằng sinh thái. Đất đai
ngày càng bị sói mòn, thoái hóa, ô nhiễm mà không được quan tâm cải tạo
phục hồi một cách thỏa đáng.
22
3.5. Một số đề xuất giải pháp để phát triển hệ thống nông nghiệp nước
nhà bền vững
- Thực hiện tốt chủ trương dồn điền đổi thửa của Đảng, Nhà nước đã đề
ra. Đây là chủ trương đúng đắn để tạo ra khả năng tích tụ ruộng đất có thể áp
dụng công nghệ, máy móc hiện đại vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động.
Đồng thời có thể hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn phục vụ cho nhu
cầu trong nước và xuất khẩu. Để làm được điều này, đòi hỏi các cấp các