Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o Bé tµi chÝnh
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN THỊ HÀ LIÊN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2012
Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o Bé tµi chÝnh
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN THỊ HÀ LIÊN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã sè: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. Nguyễn Đình Kiệm
HÀ NỘI - 2012
LờI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ HÀ LIÊN
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS
Nguyễn Đình Kiệm về những ý kiến đóng góp về chuyên môn, sự tận tình giúp đỡ và
sự động viên khích lệ của thầy trong suốt quá trình làm nghiên cứu của em.
Em còng xin được gửi tới ngài Giám đốc học viện và toàn thể các thầy/cô giáo
1.3.6. Cho thuê giáp lưng (Under Lease) 18
1.4. Phân biệt CTTC với các hình thức tín dụng khác 18
1.4.1. Phân biệt CTTC và cho thuê vận hành 18
1.4.2. Phân biệt CTTC và tín dụng NHTM 19
1.4.3. Phân biệt CTTC và mua trả góp 20
1.5. Hoạt động CTTC trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 21
1.5.1. CTTC tại Châu Mỹ 21
1.5.2. CTTC tại Hàn Quốc 22
1.5.3. CTTC tại Trung Quốc 23
K t lu n ch ng 1ế ậ ươ 24
ch ng 2: th c tr ng ho t đ ng cttc t i VNươ ự ạ ạ ộ ạ 25
2.1. Cơ sở pháp lý 25
2.2. Nhu cầu đối với CTTC của nền kinh tế Việt Nam 29
2.3. Tình hình hoạt động CTTC ở Việt Nam 32
2.3.1. Sù ra đời của hoạt động CTTC ở Việt Nam 32
2.3.2. Thực trạng huy động vốn cho hoạt động CTTC 36
2.3.3. Thực trạng dư nợ tín dụng 39
2.3.4. Dịch vô cung cấp 43
2.3.5. Phương thức cho thuê 45
2.4. Đánh giá hoạt động CTTC tại VN 45
2.4.1. Thành quả đạt được 45
2.4.2. Hạn chế 46
2.4.3. Nguyên nhân 49
K t lu n ch ng 2ế ậ ươ 55
ch ng 3: đ xu t gi i pháp phát tri n ho t đ ng cttc ươ ề ấ ả ể ạ ộ .56
t i VNạ 56
3.1. Định hướng phát triển hoạt động CTTC tại VN đến năm 2015 56
3.2. Nhóm giải pháp vĩ mô 58
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật 58
3.2.2. Phát triển thị trường hỗ trợ hoạt động CTTC: 60
2.5 Nguồn huy động vốn của công ty CTTC Sacombank 38
2.6 Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của các công ty
CTTC
39
2.7 Thị phần dư nợ tín dụng của các công ty CTTC 40
2.8 Tình hình nợ xấu của các công ty CTTC 41
danh mục biểu đồ
Số hiệu biểu
đồ
Tên biểu đồ Trang
2.1 Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp VN 29
2.2 Tỷ lệ nợ xấu của các công ty CTTC 41
2.3 Thị phần dư nợ CTTC với từng nhóm hàng năm
2011
42
- 1 -
Mở đầu
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên khốc liệt, những sản phẩm chất
lượng tốt, giá cả phải chăng mới có được lợi thế cạnh tranh và mang lại hiệu quả cho
các doanh nghiệp. Để tạo ra các sản phẩm vừa có chất lượng tốt vừa tiết kiệm được chi
phí doanh nghiệp phải sử dụng máy móc thiết bị hiện đại tiên tiến. Trong khi trên thực
tế, thiết bị máy móc của các doanh nghiệp Việt Nam thường lạc hậu so với thế giới
khoảng 2-3 thế hệ. Điều này đặt ra vấn đề cấp thiết của việc đổi mới thiết bị sản xuất
để theo kịp các nước trên thế giới, và đi theo đó là nhu cầu vốn trung và dài hạn rất lớn.
Trong một thời gian dài trước đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã hưởng lợi từ
việc cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại dẫn đến tình trạng nới lỏng cơ chế xét
duyệt tín dụng và lãi suất thấp nhằm thu hút khách hàng và gia tăng dư nợ cho vay.
Tuy nhiên, gần đây khi lạm phát đang tăng cao, dư nợ của các ngân hàng quá lớn, do
đó Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra các biện pháp thắt chặt tín dụng và đưa ra các quy
- Phạm vi nghiên cứu: Tại VN
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 – 2011.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động CTTC tại VN, kết hợp với các
kiến thức đã được trang bị, đề tài đưa ra các nhận định liên quan đến hoạt động CTTC
tại VN, từ đó đề ra các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động CTTC trên thị
trường VN.
Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam
- 3 -
KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Với các nội dung và mục tiêu đã đề cập ở trên, luận văn bao gồm 3 chương như
sau:
Chương 1: Tổng quan về cho thuê tài chính
Chương 2: Thực trạng hoạt động CTTC tại VN
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động CTTC tại VN
Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam
- 4 -
chương 1: TổNG QUAN Về CHO THUÊ TàI CHíNH
1.1. Khái niệm và vai trò của CTTC
1.1.1. Khái niệm
Hoạt động CTTC như ngày nay chóng ta biết đến là kết quả của sự phát triển và
hoàn thiện của hoạt động cho thuê tài sản có từ thời xa xưa trong lịch sử phát triển các
hình thái xã hội.
Hoạt động cho thuê tài sản có từ rất sớm, các giao dịch thuê tài sản đã xuất hiện
từ khoảng năm 2800 trước công nguyên tại Sumeria – thuộc Iraq ngày nay. Tài sản
được đem ra giao dịch lúc bấy giờ khá đa dạng, bao gồm công cụ sản xuất nông
nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa và ruộng đất. Hoạt động này tồn tại tự do như vậy cho đến
khoảng năm 1700 trước công nguyên, vua Babilon là Hamnurabi đã ban hành nhiều
văn bản quan trọng tạo thành một bộ luật lớn, trong đó có những quy định về hoạt động
cho thuê tài sản này.
tổ chức và hoạt động của Công ty CTTC: CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn
thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản
khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam
kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu
của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng
tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận.
Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam
- 6 -
Mỗi nước trên thế giới có khái niệm khác nhau về CTTC do luật pháp của nước
đó nhưng nhìn chung, khái niệm CTTC ở hầu hết các nước được đặc trưng bởi các
điểm sau:
- Đối tượng cho thuê là bất động sản, động sản phục vụ cho sản xuất kinh
doanh.
- Người thuê có quyền lựa chọn tài sản thuê.
- Người thuê sử dụng hầu hết thời gian hữu dụng của tài sản (thường là 60-70%)
- Người cho thuê sở hữu tài sản trong suốt thời hạn thuê.
- Hợp đồng CTTC là hợp đồng không thể huỷ ngang.
- Khi kết thúc hợp đồng bên thuê có quyền mua lại tài sản thuê với giá tượng
trưng hoặc được bên cho thuê chuyển quyền sở hữu.
1.1.2. Vai trò
Việc xác định vai trò của CTTC giúp chúng ta định hình được tầm quan trọng
của nó để có những chính sách biện pháp phù hợp hướng nó phát triển tương xứng với
vai trò và ý nghĩa của nó.
1.1.2.1.Đối với bên cho thuê
- CTTC là một phương thức tài trợ vốn hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro
có thể xảy ra. Trong suốt thời hạn thuê, quyền sở hữu tài sản luôn thuộc về bên cho
thuê, do đó nếu có bị đe dọa đối với sự an toàn của tài sản thuê như bên thuê vi phạm
hợp đồng, bên thuê bị giải thể, phá sản họ có thể thu hồi tài sản ngay lập tức.
- CTTC đảm bảo việc sử dụng đúng đắn số vốn tài trợ. Lý do là phương thức
này tài trợ bằng hiện vật nên dễ kiểm tra, kiểm soát vốn cấp tín dụng.
- 8 -
ngân hàng không trực tiếp quản lý được các khoản tiền cho khách hàng vay, nên khi có
rủi ro xảy ra, khách hàng không trả được nợ, thì ngân hàng chỉ có quyền hạn giống như
những chủ nợ khác trong khuôn khổ tài sản bảo đảm mà thôi. Trái lại, trong hoạt động
CTTC, người cho thuê nắm quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê và họ có thể trực tiếp
theo dõi, kiểm tra việc sử dụng tài sản cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của bên
thuê. Nếu có những nguy cơ rủi ro xảy ra với tài sản cho thuê thì họ có thể thu hồi tài
sản đó ngay lập tức. Do vậy, các công ty CTTC có thể thoả mãn nhu cầu đầu tư của
khách hàng ngay cả khi tài chính, uy tín của họ còn hạn chế.
- CTTC giúp cho bên thuê không bị ứ đọng vốn đầu tư vào tài sản cố định.
- CTTC là phương thức tài trợ vốn đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh.
So với các phương thức tài trợ khác thì thủ tục tài trợ theo phương thức CTTC
thường đơn giản, nhanh chóng. Hơn nữa, bên thuê có quyền lựa chọn tài sản, nhà cung
ứng tài sản từ trước nên có thể rút ngắn được thời gian thẩm định. Trên thực tế, các
công ty CTTC thường chuyên môn hoá về tài sản cho thuê, nên tài sản cho thuê thường
được tổ chức cung ứng theo phương thức khép kín, thiết bị thường được gắn liền với
phụ tùng, linh kiện, kỹ năng quản trị, huấn luyện đào tạo, thậm chí cả tư vấn về kỹ
thuật công nghệ, thị trường, sản phẩm cho khách hàng, do đó giúp cho bên thuê nhanh
chóng đáp ứng được các cơ hội kinh doanh.
- Thông qua CTTC, doanh nghiệp có thể tăng được khả năng huy động nguồn
vốn từ bên ngoài.
1.1.2.3 Đối với nền kinh tế
- CTTC góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Do CTTC có mức độ rủi ro thấp, phạm vi tài trợ rộng rãi, khả năng quay vòng
vốn nhanh nên có thể khuyến khích các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân và đặc
biệt là các định chế tài chính đầu tư vào hoạt động này. Mặt khác, trong điều kiện giao
Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam
- 9 -
lưu quốc tế ngày nay, CTTC góp phần giúp các quốc gia thu hút nguồn vốn đầu tư
nước ngoài cho nền kinh tế thông qua các loại tài sản cho thuê mà quốc gia đó nhận
thời các công ty CTTC cũng bị ràng buộc nhiều hơn.
* Thuê tài chính đổi mới (Innovative Leases): là hình thức mà cạnh tranh không
chỉ diễn ra giữa CTTC và các hình thức tài trợ khác mà còn diễn ra ngay trong ngành.
Do đó dẫn tới các nhà kinh doanh phải nỗ lực hơn trong việc thiết lập sản phẩm độc
quyền của mình. Đặc trưng chính của những công cụ mới này là những dịch vụ mang
tính khép kín, hoặc có giá cả cạnh tranh do các công ty tận dụng được lợi thế quy mô
của mình. Sản phẩm chính của giai đoạn này là: cho thuê trọn gói, cho thuê liên kết, tài
trợ dự án và chứng khoán hoá.
Ngành công nghiệp CTTC của các nước Tây Âu, Mỹ và Nhật Bản đang vận
dụng hình thức này.
* Thuê tài chính hoàn thiện (Maturity Leases): là hình thức mà ngành công
nghiệp CTTC phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, sự khác biệt giữa các hình thức
cho thuê là không đáng kể. Dịch vụ cho thuê đã hoàn toàn trở thành hàng hoá, tính linh
hoạt của dịch vụ đã vươn tới mức hoàn thiện. Sự bão hoà của thị trường sẽ dẫn tới sự
mua lại hay sát nhập các công ty thuê mua thành các tập đoàn lớn. Chưa một nước nào
trên thế giới áp dụng được hình thức này.
Việc xác định đúng phương thức và hình thức CTTC cũng thuận lợi cho việc có
một chế độ hợp lý để điều chỉnh, hướng ngành công nghiệp CTTC đi theo chiều hướng
tích cực.
Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam
- 11 -
1.2. Các yếu tố cấu thành hoạt động CTTC
1.2.1. Các chủ thể tham gia hoạt đông CTTC
1.2.1.1. Người cho thuê (Lessor)
Người cho thuê là nhà tài trợ vốn cho người thuê, là người sẽ thanh toán toàn bộ
giá trị mua bán thiết bị theo thoả thuận giữa người thuê và nhà cung cấp và là chủ sở
hữu tài sản về mặt pháp lý. Trong trường hợp cho thuê tài sản của chính họ thì người
cho thuê cũng đồng thời là nhà cung cấp thiết bị.
1.2.1.2. Người thuê (Lessee)
Người thuê là khách hàng thuê thiết bị, tài sản của người cho thuê hay là người
1.2.3. Giá cả CTTC
Giá cả CTTC bao gồm chi phí cho thuê và lãi suất thuê.
1.2.3.1. Chi phí cho thuê
- Chi phí cho thuê bao gồm chi phí mua thiết bị và các chi phí khác, trong đó chi
phí mua thiết bị là lớn nhất.
- Các chi phí khác liên quan bao gồm:
+ Chi phí marketing trực tiếp: bao gồm tất cả những khoản chi phí mua thiết bị
cho thuê, chi phí công chứng, chí phí hoa hồng cho người môi giới.
Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam
- 13 -
+ Chi phí quản lý chung: bao gồm tất cả các loại chi phí biến đổi và chi phí cố
định trong quản lý văn phòng của công ty CTTC được phân bổ cho thiết bị thuê và một
tỷ lệ dự phòng cho khoản tiền đã chi tiêu cho giao dịch cho thuê đó.
+ Chi phí dự phòng cho trường hợp không thu hồi được vốn tài trợ. Khoản dự
phòng này được xác định dựa trên kinh nghiệm của những hoạt động CTTC trước đó.
+ Lợi nhuận mong đợi tương lai: Lợi nhuận chịu sự chi phối của cạnh tranh tại
khu vực thị trường đang diễn ra giao dịch. Người cho thuê thường chấp nhận giá cả
thấp hơn khi tài trợ cho những khách hàng lớn, nếu thấy trong tương lai có thể thu
được lợi nhuận từ khách hàng này.
+ Giá trị còn lại: tuỳ theo giá trị còn lại của tài sản cho thuê mà người cho thuê
tính toán mức giá cho phù hợp. Nếu khi kết thúc hợp đồng tài sản được chuyển cho
người thuê với mức giá tượng trưng hay miễn phí thì người cho thuê thường định mức
giá cao hơn so với khi tài sản được chuyển giao theo giá thị trường hay trả lại cho
người thuê. Mức giá này cao hơn vì trong đó đã bao gồm cả tiền mua phần giá trị còn
lại.
1.2.3.2. Lãi suất thuê
Khác với cho thuê vận hành, thời hạn thuê thường ngắn nên lãi suất thường
được tính trực tiếp vào tiền thanh toán, lãi suất CTTC được tính toán dựa trên cơ sở lãi
suất cho vay trung và dài hạn và tỷ lệ phí.
Các loại lãi suất áp dụng :
khoản mua tài sản mà mình có nhu cầu, sau đó người cho thuê sẽ tiến hành mua tài sản
để cho người thuê thuê. Quy trình tài trợ có sự tham gia của ba bên, bao gồm: Người
cho thuê, người đi thuê và nhà cung cấp.
Phương thức tài trợ có sự tham gia của ba bên còn được gọi là phương thức thuê
mua thuần (net lease) là phương thức CTTC được áp dụng phổ biến nhất, vì có các ưu
điểm sau:
- Người cho thuê không phải mua tài sản trước và nh vậy sẽ làm cho vòng quay
của vốn nhanh hơn vì không phải dự trữ hàng tồn kho.
- Việc chuyển giao tài sản được thực hiện trực tiếp giữa người cung cấp và
người đi thuê và giữa họ cũng chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt động của tài
sản cũng như thực hiện việc bảo hành và bảo dưỡng tài sản. Như vậy người cho thuê có
thể trút bỏ gánh nặng trách nhiệm về tình trạng hoạt động của tài sản.
- Người cho thuê không trực tiếp nhận tài sản rồi sau đó chuyển giao cho người
đi thuê và nh vậy sẽ hạn chế được rủi ro liên quan đến việc từ chối nhận hàng của
người đi thuê, nếu có sự nhầm lẫn về mặt kỹ thuật.
Xuất phát từ các ưu điểm trên đây mà các ngân hàng và các tổ chức tài chính đã
áp dụng chủ yếu phương thức này để tài trợ cho các doanh nghiệp, đặc biệt đối với cho
thuê thiết bị. Trên thế giới 80% hợp đồng CTTC áp dụng theo phương thức này.
1.3.2. Cho thuê trực tiếp (Direct Lease)
Theo phương thức này, trước khi tiến hành nghiệp vụ cho thuê, tài sản được
dùng để tài trợ đã thuộc quyền sở hữu của người cho thuê.
Phương thức tài trợ này thường do các công ty kinh doanh BĐS và công ty sản
xuất máy móc, thiết bị thực hiện. Ví dụ: các nhà đầu tư xây dựng cao ốc văn phòng,
Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam