VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TÔN THANH HẢI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TÔN THANH HẢI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 834.04.02
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Người cam đoan
Tôn Thanh Hải
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU
SỐ...................................................................................................................... 9
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. .......................................................... 9
1.2. Mục tiêu của chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc
thiểu số ............................................................................................................ 16
1.3. Các bước tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng
bào dân tộc thiểu số ......................................................................................... 19
1.4. Những yêu cầu đối với việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ......................................................... 21
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
cho đồng bào dân tộc thiểu số ......................................................................... 23
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM
NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI
HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI ................................................ 26
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng
Ngãi có liên quan đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho
đồng bào dân tộc thiểu số ................................................................................ 26
2.2. Tình hình tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho
Ban quản lý rừng
BTC
Bộ Tài chính
CHXHCNVN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CP
Chính phủ
CTMTQG
Chương trình mục tiêu quốc gia
DTTS
Dân tộc thiểu số
ESCAD
Ủy ban kinh tế xã hội Châu á Thái Bình Dương, Liên hiệp
quốc
GNBV
NS&VSMTNT Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
NXB
Nhà xuất bản
QĐ
Quyết định
QLBVR
Quản lý bảo vệ rừng
TCTK
Tổng cục thống kê
THCS
Trung học cơ sở
TT
Thông tư
TTg
Thủ tướng
Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề giảm
nghèo bền vững, ngày 27/12/2008 Chính phủ đã có Nghị quyết 30a/2008/NQCP về “Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện
nghèo” và Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về“Định hướng giảm nghèo
bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020”. Thực hiện mục tiêu giảm
nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh
lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và
các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu
thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết.
Trong định hướng phát triển của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011 - 2020, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
đã xác định: “Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và
1
hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội. Thực hiện có hiệu quả hơn
chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực
và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện
nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn. Khuyến khích làm giàu theo pháp
luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên. Có chính sách và
giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức
sống giữa nông thôn và thành thị”.
Sơn Tây là huyện miền núi được tái thành lập theo Nghị định số
83/NĐ-CP ngày 06/8/1994 của Chính phủ, cách trung tâm thành phố Quảng
Ngãi khoảng 80 km về phía Tây; là một trong hai huyện miền núi nghèo nhất
của tỉnh Quảng Ngãi. Địa hình rất phức tạp bị chia cắt bởi nhiều sông suối,
sườn dốc cao, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn; đời sống nhân dân chủ
yếu dựa vào rừng để làm nương rẫy. Cây trồng nông nghiệp chủ lực là lúa
nước và lúa rẫy, chăn nuôi gia súc: Trâu, Bò, Dê là chủ yếu.
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính
trình xóa đói giảm nghèo điển hình của Việt Nam thời gian qua; đánh giá tổng
quát thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 20012010; định hướng và mục tiêu xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong thời
gian tới; một số cơ chế nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm
nghèo ở Việt Nam; giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam thời gian tới.
Cuốn sách đã bổ sung luận cứ cho công tác hoạch định chính sách xóa đói,
giảm nghèo, bổ sung tư liệu cho công tác đào tạo, nghiên cứu về chính sách
xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.
- Luận án Tiến sĩ “Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ
yếu ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoa (2010). Tác giả đã phân tích, đánh giá
một số chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam từ năm 1998 và đề xuất
định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao tác động của chúng đến công cuộc
giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian tới.
3
- Luận văn thạc sĩ “Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh
Quảng Ngãi”, Lê Thị Thanh Nhàn (2014): Đã nghiên cứu một số vấn đề lý
luận về chính sách giảm nghèo bền vững; thực trạng giảm nghèo bền vững
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; nghiên cứu kết quả đạt được của từng chính
sách, đánh giá những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong công tác giảm
nghèo bền vững; đưa ra được phương hướng và giải pháp thay đổi chính sách
giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Luận văn thạc sĩ “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực
tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi”, Nguyễn Quốc Bảo (2015), Học viện
khoa học xã hội: Đã nghiên cứu một số lý luận về thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững ở Việt Nam; thực trạng giảm nghèo bền vững từ thực tiễn
trên địa bàn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi; nghiên cứu kết quả tổ chức
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Tây Trà từ năm 2011
đến năm 2014, đánh giá những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong công tác
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở
huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài "Thực
hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực
tiễn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành
Chính sách công là không trùng lặp với các công trình đã công bố, đề tài có ý
nghĩa và lý luận thực tiễn .
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách
giảm nghèo bền vững đối với người dân tộc thiểu số;
Tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách giảm nghèo cho
người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi để từ
đó tìm ra những bất cập trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối
với đồng bào dân tộc thiểu số ở đây.
5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số, hướng đến
mục tiêu giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giảm nghèo cho đồng
bào dân tộc thiểu số
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về các hoạt động, chương trình giảm
nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện. Giảm nghèo được
nghiên cứu trên giác độ hộ nghèo và giảm nghèo được nghiên cứu trên khía
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chính sách giảm nghèo bền vững đã
ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài đã góp phần nâng cao nhận thức đối với các
đồng chí lãnh đạo chính quyền, các hội đoàn thể các cấp hiểu rõ hơn về lý
luận chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận và
thực tiễn từ quá trình và kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Sơn Tây. Từ đó, định hướng góp
phần hoàn thiện hơn nữa chính sách giảm nghèo bền vững, nâng cao hiệu quả
chất lượng của chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc
thiểu số ở Việt Nam trong những năm tiếp theo;
Đề tài đã hệ thống hóa một cách logic các giải pháp thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Việc thực hiện
chính sách bền vững đem lại hiệu quả thiết thực, giúp đồng bào dân tộc thiểu
số có khả năng tiếp cận các chính sách giảm nghèo bền vững và tham gia
cùng với Nhà nước để đưa các chính sách giảm nghèo đi vào thực tiễn, ngày
7
càng mang lại hiệu quả, đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững mà Đảng,
Chính quyền huyện Sơn Tây đã đề ra, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phương này.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận danh mục, tài liệu tham khảo,
nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện thực chính sách giảm nghèo bền
vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho
đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi.
gian.
Chuẩn nghèo là công cụ có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định đối
tượng nghèo và không nghèo. Những người được coi là nghèo khi mức sống
9
của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn chuẩn nghèo.
Tại một thời điểm nhất định có thể tồn tại nhiều đường nghèo khác
nhau, ví dụ: đường nghèo thu nhập, đường nghèo lương thực thực phẩm,
đường nghèo chung, đường nghèo về y tế, đường nghèo về giáo dục, đường
nghèo quốc tế, đường nghèo quốc gia, đường nghèo địa phương…
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày
15/9/2015 Phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo
lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 20162020”,chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 theo hướng: sử dụng kết hợp cả
chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản; xây dựng mức sống tối thiểu để từng bước bảo đảm an sinh xã hội cho
mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối
tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách.
1.1.1.3. Giảm nghèo bền vững và chính sách giảm nghèo bền vững
Trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có mối
quan hệ biện chứng: tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện cơ sở vật chất để
giảm nghèo, ngược lại giảm nghèo là một nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng
mang tính bền vững. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này giảm nghèo vẫn là
yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế.
Giảm nghèo có tính tương đối, bởi nghèo có thể tái sinh khi giải pháp
giảm nghèo chưa bền vững hoặc chuẩn nghèo đã có sự thay đổi, hoặc có
những biến động khác tác động đến đời sống xã hội như khủng hoảng lạm
phát, thiên tai…. Do đó việc đánh giá mức độ giảm nghèo cần được xem xét
trong một không gian, thời gian nhất định.
- Khái niệm “chính sách giảm nghèo bền vững” : Theo PGS.TS. Trần
chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện chính sách nhằm
giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định của Đảng
chính trị cầm quyền [27, tr.12].
11
Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững là một khâu quan
trọng hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của
chủ thể chính sách đến đội tượng chính sách, được hiện thực bởi các cộng cụ
chính sách bao gồm các hoạt động của các chủ thể do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quy định nhằm đưa chính sách giảm nghèo bền vững vào cuộc
sống thông qua các nội dung công việc cụ thể để đảm bảo nguyên tắc, tuân thủ
theo một trình tự, thủ tục nhất định nhằm đạt được mục tiêu của chủ thể chính
sách.
1.1.1.4. Đồng bào dân tộc thiểu số
Cũng như khái niệm "người thiểu số", khái niệm "dân tộc thiểu số"
cũng được sử dụng chính thức trong các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật
các quốc gia. Tùy theo từng bộ môn, lĩnh vực nghiên cứu hay quan điểm của
mỗi quốc gia, DTTS (minorité ethnique, ethnic) là thuật ngữ có nhiều định
nghĩa khác nhau trên thế giới. Đáng chú ý, năm 1992, Đại hội đồng LHQ đã
thông qua thuật ngữ “dân tộc thiểu số” trên cơ sở dựa vào quan điểm của GS.
Francesco Capotorti (đặc phái viên của LHQ) đã đưa ra vào năm 1977: "Dân
tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người: (a). Cư trú trên lãnh thổ
của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; (b). Duy
trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c).Thể hiện bản
sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; (d). Đủ tư cách
đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này
hay tại một khu vực của quốc gia này; (e). Có mối quan tâm đến vấn đề bảo
tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn
Thứ tư: Tạo điều kiện cho một bộ phận dân cư có nhiều khả năng hoà
nhập với xã hội, có điều kiện tiêu thụ những sản phẩm vật chất và tinh thần
một cách đúng đắn, tiết kiệm, phù hợp với trình độ phát triển sức sản xuất của
đất nước và những chuẩn mực đạo đức, pháp lý của chế độ xã hội chủ nghĩa.
14
Thứ năm: Tạo được một mô hình lối sống xã hội chủ nghĩa với những
đặc điểm chủ yếu là sự phát triển toàn diện của cá nhân kết hợp hài hoà với sự
phát triển hài hoà của cộng đồng trên cơ sở kế thừa giá trị truyền thông đạo lý
tốt đẹp của dân tộc.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững cho đồng bào dân tộc thiểu số
Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững nhằm giúp quản lý
xã hội theo một nghĩa rộng là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền, tức
quyền lực của bộ máy nhà nước vùng với sự tác động của các chủ thể xã hội
nhằm duy trì và phát triển theo mục tiêu đã được lựa chọn với những đặc
trưng do tính chất và trình độ đã đạt được của lực lượng sản xuất quy định.
Bất cứ một công việc quản lý nào dù là cấp độ nào cũng cần có công cụ quản
lý, công cụ quản lý là cái mà người quản lý dùng để tác động lên đối tượng
nhằm đạt tới ý đồ, mục tiêu quản lý. Nhờ có công cụ quản lý người quản lý
chuyển tải được ý chí của mình lên từng người, một tổ chức và cả xã hội và
một vấn đề lớn đặt ra cho công tác quản lý đó là triển khai thực hiện trên
phạm vi quản lý nhà nước thì chúng ta có những công cụ quản lý hữu hình và
vô hình, do đó chúng ta phải đặt ra cho việc quản lý những đường lối quản lý
cụ thể. Như thế chính sách là một công cụ quản lý xã hội, chính sách là một
phương tiện rất đặc thù không thể thiếu được để quản lý xã hội. Nó thể hiện
quan điểm của nhà quản lý với những mục đích đã xác định, các biện pháp,
các thủ thuật được thực hiện mang tính pháp lý hay mang tính pháp quy với
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 01/2011) nêu rõ quan
điểm: Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững
là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ năm
2011-2020. Định hướng phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài
hoà với phát triển kinh tế, cụ thể là “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách
giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương
16
thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và
các vùng đặc biệt khó khăn. Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng
nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên. Có chính sách và các giải
pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống
giữa nông thôn và thành thị” [38].
Trong phương hướng nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm (2011-2015),
Đảng ta cũng đã đưa ra quan điểm về bảo đảm an sinh xã hội, với nội dung:
“Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hoá các nguồn lực và
phương thức xoá đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn,
phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xoá đói, giảm nghèo
bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm
giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo”.
Trên quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng về
giảm nghèo, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011
về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 và
phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn
2012- 2015. Đặc biệt đối với 61 huyện nghèo trong cả nước, Chính phủ đã
ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP về giảm nghèo nhanh và bền vững
đối với 61 huyện nghèo trong cả nước [5].