Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh đắk lắk - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐỨC NGỌC

TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐỨC NGỌC

TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số:

838.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

1.4. Phân biệt tội mua bán trái phép chất ma túy với một số tội phạm khác .............2626
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI
MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
...............................................................................................................................2929
2.1. Khái quát tình hình tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk .................................................................................................................2929
2.2. Thực tiễn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk
Lắk ...........................................................................................................................322
2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk ...............................................................................................400
2.4. Nhận xét, đánh giá ..........................................................................................4646
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK ...............................................................................5151
3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy ..............5151
3.2. Hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy 5454
3.3. Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma
túy ..........................................................................................................................5858
3.4. Nâng cao năng lực của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự đối với tội mua bán
trái phép chất ma túy .............................................................................................6060
3.5. Các giải pháp khác .........................................................................................6262
KẾT LUẬN ..........................................................................................................6565
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

Bộ luật hình sự


Trách nhiệm hình sự

THTT

Tiến hành tố tụng

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội mua bán trái phép
chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017 .....................2929
Bảng 2.2: Tỷ lệ xét xử sơ thẩm các vụ án và bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma
túy so với các tội phạm về ma túy và các tội phạm khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ
năm 2013 đến năm 2017 .........................................................................................300
Bảng 2.3: Cơ cấu xét theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mua bán trái
phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017 ..............300
Bảng 2.4: Cơ cấu xét theo mức hình phạt áp dụng đối với tội mua bán trái phép chất
ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017 ...............................311


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của các quốc gia trên toàn thế giới. Ở nước
ta tệ nạn ma túy vẫn đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội. Theo thống kê đến
tháng 12/2017 nước ta có 210.751 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, số người
nghiện ma túy tiếp tục gia tăng và ngày càng khó kiểm soát. Ma túy không chỉ hủy
hoại sức khỏe của con người, làm mất khả năng lao động, học tập mà còn gây tổn

Năng, Ea Kar… Từ năm 2013 đến năm 2017, tình hình tội phạm mua bán trái phép
chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk diễn ra phức tạp và chiếm tỷ trọng gần như
tuyệt đối trong tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh (chiếm 86,6% về số
vụ và 85,9% về số bị cáo), còn xét trong phạm vi chung của tình hình tội phạm trên
địa bàn tỉnh, thì tỷ lệ trung bình trong 5 năm của loại tội phạm này là 16,7% về số
vụ và 11,8% về số bị cáo (xem Bảng 2.2).
Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đạt được những kết quả nhất định, đáp ứng yêu cầu đấu
tranh và phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả chưa cao, còn có
những sai sót nhất định, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động đấu tranh
phòng chống tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh. Những sai
sót đó chủ yếu là do những quy định của pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép
chất ma túy vẫn còn những vướng mắc, bất cập cần phải được bổ sung, sửa đổi,
cùng với đó hoạt động áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma
túy của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan tố tụng vẫn còn những hạn chế, thiếu sót
cần phải được khắc phục.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Tội mua bán trái
phép chất ma túy theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”
làm luận văn thạc sĩ luật học là cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu lý luận
Một số công trình nghiên cứu về tội mua bán trái phép chất ma túy đã được
công bố như:
- “Giáo trình luật hình sự Việt nam - Phần các tội phạm” (2008), GS.TS. Võ

2


Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- “Lý luận chung về định tội danh” (2013), GS.TS. Võ Khánh Vinh, Nxb


quy định của pháp luật để giải quyết các vụ án ma túy” năm 2015, Tạp chí kiểm sát,
số 20, tr.7 - 13.
Nhìn chung, các công trình đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản của tội
mua bán trái phép chất ma túy ở góc độ Luật hình sự. Tuy nhiên, các công trình trên
mới chỉ nghiên cứu tội mua bán trái phép chất ma túy ở khía cạnh tổng quát, chưa
có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tội mua bán trái phép chất ma túy một
cách đầy đủ và có hệ thống. Trong đề tài này tác giả tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở
đánh giá, khái quát những vấn đề phát sinh từ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
đối với tội mua bán trái phép chất ma túy tại trên bàn tỉnh Đắk Lắk.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái
phép chất ma túy; thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất
ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, từ đó luận văn đề xuất các giải pháp bảo đảm áp
dụng đúng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về tội mua bán trái phép chất ma tuý;
- Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý về tội mua bán trái phép chất
ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái
phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013 – 2017 trên cơ sở hướng
dẫn lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt;
- Đề ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự
về tội mua bán trái phép chất ma tuý trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn áp

phép chất ma túy, đồng thời chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, thiếu
sót, cũng như nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót đó.

5


- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn quy định của Bộ Luật hình sự
về tội mua bán trái phép chất ma túy, tăng cường chất lượng áp dụng các quy phạm
pháp luật hình sự.
- Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập và vận dụng vào hoạt động thực
tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội mua bán trái phép chất
ma túy.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội mua bán trái phép
chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội
mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI MUA BÁN
TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
1.1. Khái quát lập pháp hình sự Việt Nam về tội mua bán trái phép chất
ma túy

số 33/VHH-HS ngày 5/7/1958 hướng dẫn đường lối truy tố và xét xử những vụ án
về buôn lậu thuốc phiện.
Sau khi miền Nam giải phóng, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 76/CP ngày 25/3/1977 về chống buôn lậu thuốc phiện. Trên cơ sở nghị định này,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ đã ra Thông tư
liên ngành hướng dẫn áp dụng pháp luật trong cả nước.
Trước tình hình tội phạm về ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, BLHS
năm 1985 ra đời đã có thái độ kiên quyết hơn đối với loại tội phạm này theo hướng
cụ thể hóa và tăng cường hình phạt đối với loại tội phạm này.
1.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay
Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII (từ ngày 21-6 đến ngày 27-6-1985),
Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được thông qua. Theo BLHS năm
1985 thì chỉ có một điều (Điều 203) quy định riêng về “tội tổ chức dùng chất ma
tuý”, còn hành vi mua bán, vận chuyển ma túy qua biên giới thì bị truy cứu TNHS
theo Điều 97 BLHS “Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua
biên giới” và nếu mua bán, vận chuyển trái phép ma túy trong nội địa thì bị truy cứu
TNHS theo Điều 166 BLHS “Tội buôn bán hoặc tàng trữ hàng cấm”. Do không
đánh giá đúng tính chất đặc biệt nguy hiểm của hành vi buôn bán, tàng trữ thuốc
phiện và các chất ma túy khác cho nên đã coi ma túy là đối tượng được pháp luật
hình sự điều chỉnh ngang hàng với ngoại tệ, kim khí đá quý và chỉ quy định mức
hình phạt cao nhất đối với tội này là 20 năm tù. Bên cạnh đó, Điều 166 BLHS cũng
chỉ đề cập về TNHS đối với các hành vi buôn bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
nên hành vi sản xuất, vận chuyển trái phép chất ma túy trong nội địa không bị truy
cứu TNHS. Trước tình hình đó, ngày 28/12/1989 Quốc hội đã thông qua luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của BLHS, trong đó quy định Điều 96a - Tội sản xuất, tàng

8


trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy, đặt trong Chương các tội xâm



BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam, là công
cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự
quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và
sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao.
Tuy nhiên, qua 15 năm thi hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung nhưng
BLHS năm 1985 đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế và không còn phù hợp với điều
kiện, đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội hiện tại, yêu cầu cần phải được sửa đổi một
cách toàn diện. Ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua
BLHS 1999, có hiệu lực từ 0h ngày 01/07/2000. Theo đó, các tội phạm về ma túy
được quy định thành một chương riêng là Chương XVIII, gồm 10 tội, từ Điều 192
BLHS đến Điều 201 BLHS, trong đó Điều 194 quy định tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý [25].
Ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII ban hành BLHS 2015 theo đó tội mua
bán trái phép chất ma túy được tách thành tội riêng và được quy định tại Điều
251 BLHS [27].
1.2. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất
ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam
1.2.1. Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy
Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền
quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức;
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi
ích hợp pháp khác của công dân; xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp

hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà
nước về các chất ma túy.

11


1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy
1.22.1. Khách thể của tội phạm
Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 BLHS năm 2015 có
khách thể trực tiếp là chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy.
Đối tượng tác động của tội phạm: Đối tượng của tội mua bán trái phép chất
ma túy là các chất ma túy. Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần,
được quy định các danh mục do Chính phủ ban hành. Như vậy chỉ những chất gây
nghiện, chất hướng thần, được quy định trong danh mục do chính phủ ban hành thì
mới bị coi là ma túy. Theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP Chính phủ ban hành các
danh mục các chất ma túy và tiền chất thì hiện nay các chất ma túy bao gồm 235
chất chia thành 3 danh mục và 41 tiền chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất,
điều chế ma túy.
1.2.2.2. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan được hiểu là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Việc
nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm có vai trò rất quan trọng trong việc định
tội và định khung hình phạt, và thông qua mặt khách quan chúng ta cũng có thể xác
định được mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của tội phạm.
Mặt khách quan của tội phạm biểu hiện rõ nét nhất các yếu tố của tội phạm
mà con người có thể nhận biết trực tiếp được bao gồm các yếu tố: Hành vi khách
quan nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm
tội (công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm phạm tội…).
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là một trong các hành vi sau đây:
Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc

hiểm thấp hơn tội mua bán trái phép chất ma túy.
Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: Hành vi xin chất ma túy
nhằm bán trái phép cho người khác là bằng lời nói hoặc hành động để người khác
cho mình chất ma túy, rồi sau đó đem chất ma túy đó bán cho một người thứ ba để
lấy tiền hoặc tài sản.
Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào
nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có).

13


Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy
nhằm bán lại trái phép cho người khác.
Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: Là hành vi cất giữ
chất ma túy (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) sau đó đem
bán chất ma túy đó cho người khác để lấy tiền hoặc tài sản.
Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: Là hành vi
chuyển dịch ma túy bằng bất kỳ hình thức nào từ địa điểm này đến địa điểm khác,
với mục đích để bán chất ma túy cho người khác để lấy tiền hoặc tài sản. Nếu không
chứng minh được mục đích vận chuyển là để bán cho người khác thì chỉ có thể định
tội danh là vận chuyển trái phép chất ma túy. Việc chứng minh mục đích mua bán
chất ma túy của người phạm tội là trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành
tố tụng.
Với hành vi bán trái phép chất ma túy, dùng chất ma túy nhằm trao đổi, thanh
toán trái phép đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 251 BLHS năm 2015,
không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy đó do đâu mà có. Còn lại các hành vi
khác như mua, xin, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy… thì cần phải chứng
minh được mục đích thực hiện hành vi này là bán trái phép chất ma túy đó. Như
vậy, khi xác định hành vi mua bán trái phép chất ma túy cần chú ý một số vấn
đề sau:

1.2.2.4. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội mua bán trái phép chất ma túy là bất kỳ ai có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi nhất định. Đối với tội mua bán trái phép chất ma
túy chỉ những người sau đây mới có thể là chủ thể của tội phạm này:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015,
vì khoản 1 Điều 251 là tội phạm nghiêm trọng mà theo quy định thì người từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do
cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Chỉ người từ đủ 16 tuổi trở lên mới bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều
251. Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái
phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều
251 BLHS 2015.

15


1.3. Cơ sở lý luận của định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội
mua bán trái phép chất ma túy
1.3.1. Cơ sở lý luận của định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy
1.3.1.1. Khái niệm, đặc điểm của định tội danh
- Khái niệm định tội danh.
“Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp
luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ
các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung
quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ
tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của
hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định” [49,
tr.26, 27].
Từ khái niệm định tội danh, căn cứ Điều 251 của BLHS 2015 và những dấu

điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động tiến
hành tố tụng được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác theo thẩm quyền. Trên cơ sở xác
định đúng đắn, đầy đủ tình tiết của hành vi phạm tội đã thực hiện và sự nhận thức
đầy đủ, đúng đắn nội dung của các QPPL.
Thứ hai, định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là quá trình nhận
thức có tính logic giữa lý luận và thực tiễn. Thể hiện dưới hai khía cạnh: Xác định
hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phù hợp với dấu hiệu CTTP tội
mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 BLHS 2015 và đưa ra sự đánh
giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy
trong thực tiễn. Quá trình định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy phải tuân
thủ nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật nội dung là Điều 251 BLHS 2015 cũng
như các quy phạm pháp luật của luật hình thức là BLTTHS.
Thứ ba, hoạt động định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là hoạt
động đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm và dấu
hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả trong BLHS.
Thứ tư, sau khi đối chiếu sự phù hợp giữa dấu hiệu thực tế của cấu thành tội
phạm và dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả trong luật hình sự thì

17


cơ quan có thẩm quyền sẽ đưa ra kết luận người đó phạm tội gì theo điều luật nào
của BLHS bằng một quyết định cụ thể.
1.3.1.2. Cơ sở pháp lý của định tội danh
BLHS và BLTTHS là cơ sở pháp lý trực tiếp cho toàn bộ quá trình định tội
danh. Pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình định tội danh. Bản
chất hoạt động định tội danh là xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi
nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu CTTP tương ứng do BLHS

Định tội danh đúng tội mua bán trái phép chất ma túy là một biểu hiện của
việc thực hiện đúng đắn đường lối của đảng, pháp luật của nhà nước, thực thi đúng
ý chí của nhân dân được thể hiện trong luật, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của xã
hội, của Nhà nước và của con người.
Định tội danh đúng tội mua bán trái phép chất ma túy là tiền đề cho sự phân
hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh và có căn cứ
pháp luật. Định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc
tiến bộ trong Nhà nước pháp quyền như: Nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi,
trách nhiệm cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự…
Định tội danh đúng tội mua bán trái phép chất ma túy là một trong những cơ
sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền điều
tra, xét xử, tạm giam qua đó góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và tự do
dân chủ của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Định tội danh đúng tội mua
bán trái phép chất ma túy là sự thể hiện hoạt động có hiệu quả, ý thức thủ pháp triệt
để và ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của cơ quan có thẩm quyền.
- Đối với hoạt động định tội danh sai.
Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy sai sẽ không thuyết phục
được người phạm tội về tính đúng đắn và nghiêm minh của bản án, làm giảm hiệu
quả giáo dục của bản án, đồng thời làm giảm uy tín và hiệu lực của cơ quan bảo vệ
pháp luật. Mặt khác, định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy sai sẽ dẫn đến
một loạt các hậu quả tiêu cực như: Truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ
lọt tội phạm, không bảo đảm được tính công minh, tính răn đe của pháp luật. Những

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status