Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Nam Định (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN GIANG NAM

TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Văn Luyện

Phản biện 1: ......................................................................
Phản biện 2: ......................................................................

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội
Vào hồi: ……giờ…….ngày……tháng…..năm …….


việc làm cần thiết, có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực

1


tiễn, nên tác giả chọn đề tài: "Tội mua bán trái phéo chất ma túy
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Nam Định" làm
luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy đã được đề cập trong
một số công trình nghiên cứu khoa học về luật hình sự, trong các
bình luận khoa học về luật hình sự, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của
một số tác giả nghiên cứu các nội dung liên quan đến đề tài tội phạm
về ma túy trên các phương diện khác nhau như Phát hiện và điều tra
các tội phạm về ma túy; Các tội phạm về ma túy: Cơ sở lý luận và
thực tiễn; Phát hiện và điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy của lực lượng Cảnh sát nhân dân; Đấu
tranh phòng chống các tội phạm ở Việt Nam... Tuy nhiên, chưa có
một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về tội mua bán
trái phép chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Nam Định dưới góc độ pháp lý
hình sự, cụ thể hơn là chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập vấn
đề định tội danh tội cũng như vấn đề quyết định hình phạt đối với tội
mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Nam Định.
Để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tội phạm này cũng như
xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và
không làm oan người vô tội, thì không chỉ nghiên cứu tội mua bán trái
phép chất ma túy dưới góc độ tội phạm học mà còn phải nghiên cứu cả
dưới góc độ luật hình sự và tố tụng hình sự từ đó tìm ra những hạn chế,
bất cập trong việc áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép
chất ma túy trong công tác đấu tranh, ngăn chặn phòng, chống loại tội

hình sự, các số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài được tác giả luận văn
thu thập thống kê trên địa bàn tỉnh Nam Định trong giai đoạn từ năm
2012 đến năm 2016.
3


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng ta về Nhà nước và pháp luật.
Để hoàn thành đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu đặc thù như: diễn giải, phân tích, quy nạp, thống kê; phương
pháp tổng hợp và phương pháp so sánh, tranh thủ ý kiến chuyên gia... để
giải quyết những vấn đề khoa học được đặt ra từ nội dung đề tài.
Để thực hiện yêu cầu đặt ra của đề tài, tác giả còn nghiên cứu
toàn bộ các bản án hình sự xét xử về tội mua bán trái phép chất ma
túy của ngành Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Nam Định; các bản Cáo
trạng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Nam Định giai đoạt
từ năm 2012 đến năm 2016.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu việc thực hiện pháp luật
thuộc chuyên ngành khoa học pháp lý hình sự vào hoạt động định tội
danh và QĐHP tội mua bán trái phép chất ma túy của các cơ quan tiến
hành tố tụng. Là minh chứng thiết thực cho việc nâng cao chất lượng áp
dụng pháp luật trong hoạt động định tội danh, QĐHP tội mua bán trái
phép chất ma túy, góp phần chống oai, sai và bỏ lọt tội phạm.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,

1.1.2. Giai đoạn BLHS năm 1985 ra đời đến khi ban hành
BLHS năm 1999.
1.1.3. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1999 đến khi
ban hành BLHS năm 2015.
1.2. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán
trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam.
1.2.1. Khái niệm chất ma túy.
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khác nhau
về khái niệm chất ma túy, có thể đưa ra định nghĩa khoa học của khái
niệm chất ma túy như sau:
Chất ma tuý là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy
định trong danh các danh mục do Chính phủ ban hành.

6


Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ
gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc
gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện
với người sử dụng.
1.2.2. Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy theo
pháp luật hình sự Việt Nam
Tác giả luận văn đã đưa ra khái niệm về tội phạm theo quy
định tại Điều 8 Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1999, đồng thời chỉ ra điểm mới về tội phạm quy định
tại Điều 8 BLHS năm 2015, đó là: BLHS năm 2015 đã mở rộng
phạm vi chủ thể tội phạm, bổ sung pháp nhân thương mại trong một
số trường hợp cũng là chủ thể của tội phạm.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các khái niệm về mua bán

liên hệ giữa ý thức của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm
cho xã hội mà người đó đã thực hiện. Tội mua bán trái phép chất ma
túy được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

8


Chương 2
ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI
TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
2.1. Thực tiễn định tội danh tội mua bán trái phép chất
ma túy trên địa bàn tỉnh Nam Định
2.1.1. Một số vấn đề lý luận về định tội danh tội mua bán
trái phép chất ma túy
Luận văn nêu ra khái niệm và đặc điểm của định tội danh:
Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính
lôgic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp
dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, trên cơ sở các
chứng cứ, tài liệu thu thập được phản ánh các tình tiết thực tế của vụ
án đã xảy ra để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù
hợp của chúng với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương
ứng do luật hình sự quy định.
Từ nội dung khái niệm nêu trên, có thể thấy định tội danh có
những đặc điểm sau:
Định tội danh là một quá trình nhận thức có tính lôgic giữa lý
luận và thực tiễn.
Định tội danh phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm pháp
luật của luật nội dung là BLHS cũng như các quy phạm pháp luật của
luật hình thức là BLTTHS.

* Việc đánh giá về mặt pháp lý các dấu hiệu thuộc yếu tố chủ
thể của tội mua bán trái phép chất ma túy
* Việc đánh giá về mặt pháp lý các dấu hiệu thuộc yếu tố chủ
quan của tội mua bán trái phép chất ma túy

10


* Việc định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy theo cấu
thành tăng nặng (khoản 2, 3, 4)
* Việc định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trong
những trường hợp đặc biệt, đó là:
- Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy ở giai
đoạn chưa hoàn thành
- Định tội danh đối với trường hợp phạm nhiều tội, trong đó có
tội mua bán trái phép chất ma túy
- Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trong
trường hợp đồng phạm
Qua thực tiễn trong 05 năm, từ năm 2012 đến năm 2016, các
cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Nam Định đã thụ lý giải quyết 1.057
vụ án/1.346 bị can phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Về cơ
bản các chủ thể định tội danh đã xác định chính xác, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt
tội phạm. Trung bình một năm trong thời gian 05 năm (2012 – 2016),
TAND 2 cấp tỉnh Nam Định xét xử khoảng 200 vụ án và xấp xỉ
khoảng 260 bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy. Về cơ bản
Tòa án 2 cấp tỉnh Nam Định đã xét xử đúng người, đúng tội danh và
đúng pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn để xảy ra những tồn tại, hạn chế
như:
- Còn có vụ án chưa làm rõ sự thật khách quan, chưa đủ hoặc

hình phạt. Chính vì vậy miễn hình phạt là một nội dung thuộc về
QĐHP.
QĐHP là cơ sở pháp lý để đạt được mục đích của hình phạt;
QĐHP đảm bảo tính công minh, đúng pháp luật, tương xứng với tính
chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân
người phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS để hình phạt
được tuyên đạt được mục đích trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm
12


tội; QĐHP là cơ sở pháp lý đảm bảo và nâng cao hiệu quả của hình phạt;
QĐHP là điều kiện đảm bảo tính khả thi của hệ thống hình phạt; QĐHP
là công cụ hữu hiệu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm;
QĐHP góp phần bảo đảm pháp chế Nhà nước; QĐHP sẽ tác động
đến ý thức của mỗi cá nhân để họ nhận thức được tính nghiêm minh
của pháp luật và tự giác chấp hành pháp luật.
2.2.2. Các căn cứ quyết định hình phạt
- Căn cứ vào những quy định của BLHS liên quan đến
QĐHP bao gồm: đó là những quy định về hệ thống hình phạt (Điều
28); những quy định về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng hình
phạt (từ Điều 29 đến Điều 40); những quy định về QĐHP; các quy
định về nguyên tắc xử lý (Điều 3); mục đích hình phạt (Điều 27); căn
cứ QĐHP (Điều 45), các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46); QĐHP
trong trường hợp nhẹ hơn quy định của BLHS (Điều 47), các tình tiết
tăng nặng TNHS (Điều 48), tái phạm và tái phạm nguy hiểm (Điều
49), QĐHP trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 50); QĐHP trong
trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52); QĐHP
trong trường hợp đồng phạm (Điều 53),…
- Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội.

nên gây khó khăn cho quá trình xử lý vụ án.
Đối với những vụ án không thu giữ được vật chứng để giám
định thì việc xác định loại, trọng lượng ma túy để xử lý chỉ mang tính
tương đối. Mặt khác, những đối tượng phạm tội thường có ý thức
phản cung, chối tội dẫn đến khó khăn trong việc đưa ra chứng cứ
chứng minh hành vi phạm tội, không xử lý được đầy đủ các hành vi
hoặc bỏ lọt tội phạm.
Khi bắt quả tang người phạm tội, vật chứng được thu giữ
niêm phong theo quy định và có chữ ký của người phạm tội. Nhưng
khi mở niêm phong để lấy mẫu giám định thì người phạm tội không
14


được chứng kiến việc mở niêm phong đó (vì đã bị đưa vào nhà tạm
giữ hoặc tạm giam rồi). Vậy Cơ quan giám định mở niêm phong đó
có khách quan không, trường hợp vụ án có luật sư tham gia có ý kiến
thì cơ quan tố tụng rất khó giải thích, cần có quy định để việc mở
niêm phong chặt chẽ hơn.

15


Chương 3
NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH
TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI
MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
3.1. Những yêu cầu khách quan phải nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của BLHS đối với tội mua bán trái phép
chất ma túy
3.1.1. Yêu cầu về lý luận và thực tiễn

điều luật, còn trong bản thân điều luật cũng vẫn còn những bất hợp
lý. Như: tình tiết định khung “phạm tội 02 lần” (điểm b khoản 2 Điều
251 BLHS) và “phạm tội với 02 người trở lên” (điểm c khoản 2 Điều
251 BLHS) cũng cần được nghiên cứu hoàn thiện bởi có những điểm
mâu thuẫn.
Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trong trường
hợp đồng phạm được chính xác thì cần bổ sung, hoàn thiện khái niệm
pháp lý cơ bản như: “khái niệm đồng phạm”; “trách nhiệm hình sự
trong đồng phạm”; nên sử dụng khái niệm “cùng tham gia” để thay
ngữ cho thuật ngữ “cùng thực hiện” mà bộ luật hình sự hiện hành
đang ghi nhận. Chế định đồng phạm đã được sửa đổi tại điều 17
BLHS năm 2015, tuy nhiên theo tác giả thì vẫn cần phải sửa “đồng
phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng tham gia một
tội phạm”. Bởi lẽ, việc sử dụng thuật ngữ “cùng thực hiện” mới chỉ
nêu lên được hành vi của một loại người đồng phạm, đó là người
thực hành, như vậy mới chỉ đề cập đến hình thức đồng phạm giản

17


đơn, với sự phạm tội của những người cùng thực hành mà không có
những người đồng phạm khác.
BLHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung đáng lưu ý về
định lượng, đơn vị tính cũng như hình phạt đối với tội mua bán trái
phép chất ma túy (Điều 251). Tuy nhiên trong BLHS năm 2015 vẫn
còn hạn chế, chưa được hoàn thiện, đó là: việc quy định trọng lượng
các chất ma túy còn có sự khác nhau, chưa đảm bảo tính thống nhất
và công bằng. Việc quy định trọng lượng chất ma túy này so với
trọng lượng chất ma túy khác ở mức thấp nhất và mức cao nhất trong
cùng một khung hình phạt là khác nhau, không theo một tỷ lệ nào và

Tác giả đưa ra đề xuất cần nâng cao chất lượng phối hợp
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng như: xây dựng quy chế phối hợp
liên ngành, tổng kết định kỳ hàng năm việc giải quyết các vụ án về
ma túy nhằm tìm ra những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá
trình giải quyết còn để tìm cách tháo gỡ; nêu ra những phương thức,
thủ đoạn phạm tội mới, những kinh nghiệm hay để các đơn vị trao
đổi, học hỏi.

19


KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Nam Định, bước đầu luận văn đã
có gắng làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn để làm rõ các
dấu hiệu phạm tội cũng như việc định tội danh và QĐHP đối với tội
phạm này trên địa bàn tỉnh Nam Định. Kết quả đạt được cho phép chúng
tôi đi đến kết luận dưới đây:
Một là, tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Nam
Định diễn ra ngày càng tăng, với tính chất ngày càng nghiêm trọng, thủ
đoạn ngày càng tinh vi, với các ổ nhóm chuyên nghiệp với nhiều đối
tượng tham gia, mua bán với số lượng ma túy lớn. Để ngăn chặn thảm
họa ma túy, Đảng và Nhà nước ta đã đầu tư nhiều cơ sở vật chất, xây
dựng lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy, tích cực vận động
nhân dân, huy động toàn bộ hệ thống chính trị tham gia vào việc đấu
tranh, phát hiện phòng chống các tội phạm về ma túy nói chung và về tội
phạm mua bán trái phép chất ma túy nói riêng. Tuy cuộc đấu tranh tội
phạm mua bán trái phép chất ma túy đã thu được những kết quả đáng
khích lệ, song số vụ án mua bán trái phép chất ma tuy vẫn chưa hề giảm
do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status