LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ khoa Khoa học Xã hội
trường Đại học Quảng Bình đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Giảng viên, TS: Mai Thị Liên
Giang người đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận
này.
Bên cạnh đó tôi cũng xin được cảm ơn thư viện Trường Đại học Quảng Bình đã
cung cấp cho tôi những tài liệu quý báu để tôi hoàn thành khóa học.
Đồng thời tôi cũng chân thành và xin gửi lời cảm ơn tới ba mẹ, những người thân
trong gia đình, bạn bè…đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành khóa luận này.
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Trần Thị Hằng
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết
quả nghiên cứu ghi trong khóa luận là trung thực, được các đồng giả cho phép sử dụng
và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Trần Thị Hằng
ii
2.1.Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Mình và họ của Nguyễn Bình Phương ...25
2.1.1. Không gian nhập nhằng mờ ảo ............................................................................27
2.1.2. Không gian ký ức ................................................................................................ 29
iii
2.1.3. Không gian núi rừng hoang dã ............................................................................31
2.1.4. Không gian chiến trận khốc liệt...........................................................................34
2.2. Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Mình và họ của Nguyễn Bình Phương .....35
2.2.1. Dòng thời gian đồng hiện, đứt gãy ......................................................................37
2.2.2. Dòng thời gian sự kiện ........................................................................................40
CHƯƠNG 3: KẾT CẤU, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU
THUYẾT “MÌNH VÀ HỌ” CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG ..............................42
3.1. Kết cấu ....................................................................................................................42
3.1.1. Kết cấu phân mảnh ..............................................................................................43
3.1.2. Kết cấu đồng hiện ................................................................................................ 45
3.1.3. Kết cấu theo dòng ý thức .....................................................................................48
3.1.4. Kết cấu xoắn kép, đa tầng....................................................................................49
3.2. Ngôn ngữ ................................................................................................................51
3.2.1. Ngôn ngữ đối thoại ..............................................................................................52
3.2.2. Ngôn ngữ tả thực .................................................................................................55
3.2.3. Ngôn ngữ đa tạp, đậm sắc thái của ngôn ngữ dân dã địa phương .......................57
3.2.4. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, lạ hóa và đầy chất thơ .................................................67
3.3. Giọng điệu trần thuật ..............................................................................................69
3.3.1. Giọng điệu trung tính...........................................................................................70
3.3.2. Giọng điệu giễu nhại. ..........................................................................................72
3.3.3. Giọng điệu trữ tình, triết lý, chiêm nghiệm .........................................................74
KẾT LUẬN ..................................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................81
PHỤ LỤC .........................................................................................................................
những gì khác không thể gọi thành tên, không thể cất nên lời, còn là những gì không
thể lí giải ẩn sâu dưới tầng tầng lớp lớp những sự kiện, biến cố. Với tiểu thuyết Mình
và họ Nguyễn Bình Phương đã tạo ra cho mình một lối đi vô cùng rộng rãi để đến với
hiện thực. Đó cũng là cách ông tạo ra sự tự do cho người đọc khi bước vào tác phẩm
của mình. Người đọc có thể tự do trong việc khám phá, bóc tách các lớp nghĩa của tác
phẩm, và khi đó tác giả chỉ giữ vai trò là người “đứng sau cánh gà quan sát” và đó
1
chính là một thể nghiệm đáng được ghi nhận của Nguyễn Bình Phương trong cuộc
hành trình làm mới mình, làm mới văn chương trong dòng chảy văn học Việt Nam
đương đại.
Với sự xoắn kép của tính tự sự đa chủ thể và hành trình “tìm lại thời gian đã mất”
được thể hiện qua một bút pháp mới lạ là “Cuốn tiểu thuyết xuất sắc bắt con người đối
diện với vực sâu của đời sống và hố thẳm của mình trên chính những con đường quanh
co của thực tại trong một thế giới của mình và của họ” (Phạm Xuân Nguyên) [48].
Nếu thành công đề tài sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ về tiểu thuyết Mình và họ
của Nguyễn Bình Phương trên phương diện đặc điểm nghệ thuật, qua đó khẳng định rõ
hơn tài năng và đóng góp của tác giả đối với sự phát triển của văn học đương đại.
Đồng thời đây cũng là tư liệu cần thiết cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy cho
văn học Việt Nam giai đoạn sau năm 1986 hiện nay ở các trường Đại học. Vì những lí
do trên chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Mình và họ của
Nguyễn Bình Phương” làm đề tài nghiên cứu cho mình.
2. Lịch sử vấn đề
Là một gương mặt nổi bật với phong cách độc đáo, lối viết mới lạ, Nguyễn Bình
Phương không phải cái tên xa lạ đối với giới phê bình nghiên cứu chuyên nghiệp.
Trong gần 20 kể từ khi bước vào thế giới tiểu thuyết, Nguyễn Bình Phương đã cho ra
đời nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Bả giời, Vào cõi, Những đứa trẻ chết già, Người đi
vắng, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy, Ngồi, Mình và họ…Ở nhà văn này chúng ta bắt
gặp những tìm tòi và những lao động nghệ thuật nghiêm túc nhọc nhằn. Tiểu thuyết
“viết” chứ không phải “kể” nội dung” [68]. Hay khi tiếp cận với Mình và họ nhà phê
bình Phạm Xuân Nguyên đánh giá “Nguyễn Bình Phương là nhà văn Việt Nam đương
đại “được yêu thích” và rằng đọc văn anh phải kiên nhẫn, không thể thẳng tuột được”
[68]. Nhà văn Đinh Phương cũng khẳng định: “tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
thuộc loại đọc một lần không thấy hay, nhưng qua mỗi lần đọc thì lại phát hiện một giá
trị khác!” [68]. Với những thành công và đặc sắc mà tác phẩm mang lại, tiểu thuyết
Mình và họ của Nguyễn Bình Phương đã lọt vào “mắt xanh” của ban giám khảo giải
thưởng văn học của Hội nhà văn Hà Nội với sự đánh giá: “Nó vừa tiếp tục khai triển
lối viết phức tạp đa tuyến, đa chiều của mình, vừa đầy nghệ thuật viết tiểu thuyết mang
đặc hiệu của tác giả lên một mức độ cao.”
Vậy điều gì đã khiến tác phẩm này ghi dấu mạnh mẽ trong cộng đồng diễn giải
đến vậy? Khóa luận của chúng tôi tập trung khám phá, luận giải những tìm tòi, thể
nghiệm trong kĩ thuật tự sự của Nguyễn Bình Phương qua Mình và họ. Từ đó khẳng
định tài năng, cá tính sáng tạo cũng như vị trí của nhà văn trong dòng chảy văn học
Việt Nam đương đại. Mặc dù đến nay Nguyễn Bình Phương đã trở thành một hiện
tượng của giới phê bình nhưng tiểu thuyết Mình và họ của ông vẫn chưa được nghiên
3
cứu một cách đầy đủ và có hệ thống. Xung quanh việc nghiên cứu về Nguyễn Bình
Phương đã có những luồng ý kiến trái chiều, có những khen chê mang đậm chất cảm
tính chủ quan. Khóa luận chọn đề tài: Đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Mình và
họ của Nguyễn Bình Phương với mong muốn tìm ra những nét mới trong nghệ thuật
sáng tác tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương. Từ đó chỉ ra vị trí cũng như đóng góp
của tác giả trên hành trình nỗ lực làm mới tiểu thuyết Việt Nam nói riêng, văn học Việt
Nam nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là Đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Mình và họ của
Nguyễn Bình Phương thể hiện trên các bình diện: quan niệm nghệ thuật về con người;
sắc trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, đồng thời góp phần khẳng định những đóng
góp của ông đối với thành tựu văn học Việt Nam đương đại.
Khóa luận là tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm nghiên cứu tiểu
thuyết Mình và họ nói riêng và tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương nói chung.
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần nội dung
của khóa luận được tiến hành triển khai thành 3 chương sau:
- Chương 1: Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Mình và họ của
Nguyễn Bình Phương.
- Chương 2: Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Mình và họ của
Nguyễn Bình Phương.
- Chương 3: Kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu trong tiểu thuyết Mình và họ của
Nguyễn Bình Phương.
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU
THUYẾT “MÌNH VÀ HỌ” CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
Như chúng ta đã biết “Văn học là nhân học”, điều đó khẳng định rằng con người
chính là đối tượng chủ yếu của văn học, thông qua hình tượng con người nhà văn thể
hiện được khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người
trong tác phẩm của mình. Có thể nói, nó giống như một chìa khóa vàng góp phần gợi
mở cho chúng ta tất cả những gì bí ẩn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ
nói chung và từng thời đại nói riêng. Tuy nhiên đối với mỗi nhà văn lại có một quan
điểm khác nhau và không đồng nhất về quan niệm con người, mỗi người nghệ sĩ có
một cách mổ xẻ riêng độc đáo, điều đó góp phần tạo nên tính đa dạng, đa chiều trong
cách nhìn nhận về hình tượng con người trong văn học cũng như trong hiện thực đời
sống, nó góp phần thể hiện hình tượng con người một cách hoàn chỉnh và toàn diện.
phát hiện cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan, sáng tạo của chủ thể ngay cả khi miêu
tả con người giống hay không giống so với đối tượng có thật” [54;tr.56]. Giáo sư
Huỳnh Như Phương cũng đóng góp tiếng nói của mình bằng một cách nhìn khá bao
quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu
triết lý của tác phẩm” [49;tr.7]. Bên cạnh đó khi bàn về quan niệm nghệ thuật về con
người, Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật về con người là
hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm. Nó gắn với các
phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước
đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật” [27;tr.76]. Có thể thấy quan
niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lý giải và cảm thụ thế giới của chính chủ
thể sáng tạo. Văn học là khoa học về con người, là nghệ thuật miêu tả, chiêm nghiệm
hiện thực và không ai khác mà chính con người là đối tượng chủ yếu của văn học. Dù
có đi vào miêu tả thần linh, ma quỷ, đồ vật... thì cái đích của văn học là đều hướng đến
thể hiện con người. Mặt khác, người ta không thể miêu tả thuyết phục về con người
nếu không hiểu biết và cảm nhận về cuộc sống thật chính xác. Điều này tạo thành
chiều sâu và sức quyến rũ của hình tượng con người trong tác phẩm văn học. Có thể
nói quan niệm nghệ thuật về con người là quá trình cắt nghĩa, xác lập các hệ giá trị,
các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp nhằm tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ
cho hình tượng nhân vật trong tác phẩm.
Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là quá trình khám phá thế
giới quan và nhân sinh quan được người nghệ sĩ gửi gắm trong tác phẩm nghệ thuật
thông qua hệ thống nhân vật của mình. Chính vì vậy, thật sai lầm nếu “bỏ qua quan
niệm về con người sẽ dẫn đến hiểu giản đơn bản chất phản ánh của văn nghệ. Hoặc là
7
đồng nhất tư tưởng sáng tác với thế giới quan, hạ thấp yêu cầu sáng tạo tư tưởng nghệ
thuật thẩm mỹ của tác giả, cho rằng nhà văn chỉ có tâm hồn là đủ. Hoặc là rút gọn tiêu
chuẩn của tính chân thực vào một điểm là miêu tả giống hay không giống so với đối
tượng, và như vậy kết quả cũng xem nhẹ vai trò sáng tạo nghệ thuật của nhà văn”
Ông đã đi suốt cuộc đời mình để rồi chiêm nghiệm về cuộc đời từ những gì chân thực
nhất để viết nên Mình và họ. Trong tập tiểu thuyết này, chúng ta thấy quan niệm nghệ
thuật về con người của Nguyễn Bình Phương được thể hiện qua nhiều phương diện với
sự độc đáo riêng, con người được hiện lên với đầy đủ những màu sắc, những bi kịch
và số phận khác nhau, họ là những con người cô đơn, bất hạnh; là bi kịch của cuộc
sống; là nạn nhân của bạo lực; và họ luôn luôn mơ hồ giữa thực tại và quá khứ.
1.2.1. Con người cô đơn, bất hạnh
Trong cuộc sống con người dù bất cứ họ là ai thì cũng đều luôn mưu cầu cho
mình một cuộc sống hạnh phúc với những mối quan hệ xã hội mà chúng ta gọi đó là
“cộng đồng” ẩn sâu trong đó luôn có sự hiện diện của đời sống cá nhân, những số phận
riêng tư với những nỗi niềm, tâm trạng, khát vọng sống, khát vọng được hòa nhập,
khát vọng được hạnh phúc.
Mình và họ bắt đầu bằng cái chết của Hiếu - nhân vật chính trong tác phẩm, khi
xác đã nằm dưới vực sâu sau “cú bay thảng thốt tuyệt mỹ của mình. Lúc ấy mình
không hình dung đó là cú bay qua nhiều ngọn cây và đá” [48;tr.5] khiến cho nhân vật
“không ngờ rồi mọi thứ lại nhẹ nhõm đến thế này” [48;tr.5]. Xét trong mối tương quan
của xã hội thì bản chất của con người luôn luôn vận động, không ngừng vượt lên giới
hạn của chính nó. Như IU.M.Lotman quan niệm: Khi anh đi trên con đường này, đồng
thời anh đã đánh mất con đường khác. Cũng như chính những nhân vật của mình, tác
giả đã cho họ trải qua những nỗi bất hạnh khi không đạt đến được cái gọi là toàn diện.
Mỗi nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương đều mang trong mình những
nỗi niềm cô đơn bất hạnh riêng như chính đó là những gì tạo hóa dành riêng cho họ.
Nhân vật Trang xuất hiện trong tác phẩm là một đứa trẻ mồ côi “bố mẹ Trang mất khi
Trang mới chín tuổi” [48;tr.191], nhưng Trang lại là một con người tài giỏi, cô “luôn
biết tất cả những gì cần biết, đó gần như là một biệt tài, hơn cả biệt tài, một bí ẩn”
[48;tr.13] cô xinh đẹp và vô cùng khiêu gợi với “làn da trắng nõn”. Là một con người
như vậy nhưng là do chính hoàn cảnh xã hội hay vì một lí do nào khác cô lại cầm đầu
một băng đảng tội phạm “buôn thuốc phiện” và có liên quan đến vụ giết người với số
phận không được hạnh phúc. Cô luôn phải chạy trốn sự truy đuổi của Công an, cùng
Hằng - chú của “mình” khá nhiều, như Thùy Dương nói: “Đề cập đến sex để thể hiện
khát khao sống, tính chất mạnh mẽ, nỗi đau…hay chính hạnh phúc của nhân vật” [42].
Qua nhận xét này cho thấy Nguyễn Bình Phương đã mạnh dạn trong việc đề cập tới
những khát khao mang tính sinh lý đầy nhân bản này của con người. Với Mình và họ,
tác giả đã cho chúng ta một ấn tượng rất mạnh mẽ và bạo dạn đối với khát vọng mang
tính dục phát lộ ra trong thời hậu chiến và cũng có những ám chỉ sự mù lòa đầy quyến
rũ của bản thân. Tình yêu luôn đi kèm với tính dục, luôn gắn liền với khát khao được
giao hòa giữa hai thể xác. Chính vì vậy trong những cuộc tình đều có yếu tố tình dục
10
xuất hiện, có lẽ chính vì sự cô đơn nên họ đã tìm đến nhau như một cái cớ để phủ lấp
nỗi cô đơn ấy trong chính bản thể mình. Vô tình họ đem cái đẹp của tình yêu đến giữa
cõi đời dung tục, đặt trong sự mơ mộng giữa những toan tính lạnh lùng. Và họ thất bại.
Những thất bại người đời thấy tất yếu, nhưng với họ thật sự khó mà san sẻ. Trong tác
phẩm, những nhân vật nữ là những phụ nữ đi qua cuộc đời Hiếu là hiện thân của tình
yêu - đối âm của chiến tranh. Tình yêu gắn liền với cái đẹp, với nhân tính là cái đối lập
với bạo lực làm lu mờ đi hạnh phúc mà con người ta ao ước. Nếu như chiến tranh đánh
thức trong Hiếu những cảnh tượng trần trụi chân thực tàn bạo, với cảnh "giết chóc và
đâm chém" khiến anh dường như vô cảm với nó thì những người phụ nữ từ Trang,
Vân Ly, Hằng, đến chị Thu lại đánh thức trong anh một khát khao được yêu, được
chung sống. Tuy nhiên với những tàn dư trong thời hậu chiến, cũng như cuộc đối đầu
giữa mình và họ đã biến tình yêu, sự khát khao ấy thành một công cụ để con người tìm
đến nhau trong nỗi cô đơn. Giữa xã hội ấy phải chăng đó là một điều khá xa xỉ, một
khao khát cho đến tận cuối cuộc đời anh, vĩnh viễn mãi không trọn vẹn, họ bị đóng
khung trong những giới hạn, mà con người luôn khao khát vượt qua. Nhưng con người
là một thực thể phức tạp, đầy bí ẩn, mỗi người lại ở trong những giới hạn khác nhau,
nên khao khát của họ rất khác nhau khi đi trên con đường vươn tới sự hoàn hảo của
mỗi người, vì thế mà con người rất cô đơn. Cũng như nhân vật Hiếu trong câu chuyện,
trừ những lúc thỏa mãn dục vọng khi được tận hưởng những giây phút khoái lạc,
chăng cũng chỉ là một mối quan hệ “hờ” mà thôi. Có thể nói đây là một tấm bi kịch, là
nỗi đau lớn nhất của kiếp người mà mỗi nhân vật đã trải qua. Bởi những nỗi niềm
trong họ đâu dễ nói ra, mà khi nói ra biết đâu lại làm tổn thương ai đó. Vậy là họ âm
thầm chịu đựng, âm thầm chấp nhận và xem như đó là điều kiện thử thách phẩm chất
của chính mình. Từ sự cô đơn, lạc lõng trong bản thể, cô đơn do không có khả năng
hòa nhập với cộng đồng với những “vết dập xóa”, “va đập” tâm hồn, trước những bi
kịch của đời sống, của những mối quan hệ gia đình và xã hội, khiến nhân vật trong tác
phẩm - Hiếu hướng sự chú ý ra bên ngoài. Anh tự nhận mình là kẻ thích đi chơi, thích
nghe, thích biết, thích khám phá những điều bí ẩn xung quanh mình, mặc dù với anh,
tất cả không để dùng vào việc gì. Anh có mối quan tâm đặc biệt dành cho mây và hoa
quỳnh - biểu tượng của vẻ đẹp mong manh, hư ảo, phù phiếm. Anh đã từng khẳng định
rằng “Mình cũng thích Quỳnh” anh mê mẩn với “Những cái cánh hoa trắng muốt được
bao bọc bởi lớp vỏ hồng hồng giờ rung rung hé lộ bên trong những chiếc nhụy vàng
mơ, nhạt nhòa, lẩy bẩy như những cánh tay vươn lên từ trong bóng tối sâu thẳm nhưng
sạch sẽ” [48;tr.146] và anh còn có niềm say mê đối với “mây”, có thể nói trong suốt
hành trình của anh “mây” là thứ mang lại cho anh nhiều cảm xúc nhất “Nếu xe trượt
xuống thì chúng mình chỉ còn là những mảnh thịt vụn tơm tớp như đám mây kia”
[48;tr.110], “Mây đến, một vài vụn lơ vơ, sau đó tích lại và chỉ sau dăm lần chớp mắt
12
nó đã là một đám mây đẹp tròn vo, lúc lắc trên bầu trời” [48;tr.169]. Hai hình ảnh này
đã có lúc xuất hiện quyện lấy nhau trong suy ngĩ của “mình” với hình ảnh “Mỗi bông
quỳnh như một đám mây trắng đính trên chậu quỳnh lá vàng xanh cong. Mùi thơm
ngào ngạt, ngây ngất tỏa ra” [48;tr.146]. Ngoài ra anh còn hứng thú, đam mê sách báo,
nhất là sách viết về thế giới chính khách, và báo Công an Nhân dân (tờ báo này được
nhắc đến với tần số không dưới 30 lần trong tác phẩm) như để khỏa lấp sự cô đơn, nỗi
bất hạnh của mình trong đó. Có thể thấy từ những nỗi niềm cô đơn thầm kín ấy, nó dần
tích tụ lại khiến cho nhân vật trở nên bế tắc, trong những giây phút khắt khe nhất của
định mệnh, Hiếu đã sẵn sàng liều lĩnh kết thúc đời mình sau một “cú bay” như đem
trái đầu cứ nhay nháy cắn” [48;tr.259]. Trong cuộc đối đầu giữa mình và họ anh bị bắt
làm tù binh phải chịu những trận đòn roi thừa chết thiếu sống của bọn chúng. Đây
cũng chính là lúc bi kịch tinh thần từ đó mà ập đến với anh. Khi đang tham gia chiến
trận thì đứa con (hờ) duy nhất của anh mất “Thằng nhỏ được tám tháng tuổi thì mất vì
viêm phổi”, “vợ anh sau đó cũng bỏ về nhà bố mẹ đẻ” được một thời gian sau thì
người ta đồn rằng “Hằng dính với một thằng cha nào đó là thợ sửa xe máy ở Phổ Yên”
[48;tr.150]. Là bản thân con người làm sao có thể đủ mạnh mẽ để chấp nhận lấy hết
nỗi đau ấy cùng một lúc. Nếu có chăng đi nữa, thì nỗi đau ấy cũng đủ để giày xéo con
người ta đến cuối đời. Đó cũng chính là nguyên do của căn bệnh trầm uất và điên loạn
của anh, Thuận rơi vào bi kịch của thời hậu chiến. Anh Thuận sau khi trở về cùng bao
nỗi đau ấy dường như anh không còn là anh nữa, anh trở nên điên loạn “Anh bỏ nhà đi
đâu đó hai ngày…Anh có tiền, cỡ hai triệu, toàn loại mới coong. Anh không đưa cho
mẹ mà phát cho bọn trẻ con trong thị xã mỗi đứa một tờ”… “Sau đó anh lại thu lu cả
ngày trong góc của mình, hai mắt trợn trạo, thao láo trông rất ngỗ ngược” [48;tr.191].
Anh điên dại đập tất cả những gì liên quan đến đồ Tàu “Anh dị ứng với tất cả những gì
liên quan tới họ. Hành động đầu tiên là anh đập vỡ cái phích màu đỏ có in hình con
công xòe đuôi, sau đó là tới cái quạt Li-fan, nồi cơm điện cũng bị đập méo. Đến cả cái
đài cũ bác Lâm mua hộ mẹ, có chữ Nhật cũng bị anh ném ra sân vì tưởng đó là chữ
của chúng nó. Anh tẩy chay chúng nó” [48;tr.164]. Anh chìm vào vô thức lúc mê lúc
tỉnh. Trong bữa ăn, bát cơm rơi khỏi tay anh mà Thuận vẫn dùng đũa vét vào lòng bàn
tay mình. Đôi mắt của anh khi thì đỏ rực, khi thì trắng hớn, có khi lại xám ngắt. Rõ
ràng trong thực tế khi những con người bước ra từ cuộc chiến nào, khi trở về thời bình
họ sẽ không thể sống như một người bình thường, bởi lẽ họ đã phải trả giá quá đắt cho
chính cuộc chiến đó. Những năm tháng khốc liệt đã đi qua cuộc đời Thuận không chỉ
tạo ra những bước ngoặt, những đổ vỡ trong đường đời của họ, mà còn gây nên những
biến đổi trong thế giới tinh thần của anh. Thuận đã không còn nhìn cuộc sống, nhìn
chiến tranh như những ngày trong chiến trận, những năm tháng chiến tranh khốc liệt
cướp dần sinh mạng những đồng đội của anh, “quan sát xung quanh, phát hiện ra bức
14
- Mày đã bằng mấy thằng Khựa chưa ?
Anh rống lần nữa, như tiếng dội từ vách núi. Sau đó anh ngã quay ra đất, chân tay giãy
đạp, miêng sùi bọt…Anh oằn oại trên vai mình, thều thào :
15
- Khéo mất lưu đạn của tao” [48;tr.197]. Hay ngay cả khi anh thấy “mình” anh
cũng chẳng còn nhận ra, anh gọi mình là “đồng bào”
“- Cám ơn đồng bào. Chúng tôi vừa đánh một trận ghê quá. Bắn đỏ hết cả nòng
mà bọn họ vẫn cứ tràn sang - Mẹ bước ra. Thế là anh chồ lên - Bà làm cái gì mà vẫn
quanh quẩn ở đây, đi ngay đi để chúng tôi còn rảnh chân rảnh tay mà đánh chác với
chúng nó. Đi ngay” [48;tr.234]. Anh mơ hồ điên dại, từ đó anh “thỏa sức lang thang vạ
vật” khắp nơi “hết Đu, Hích, rồi về Đồng Bẩm, lên Lai Hiên, vào Trại Cau rồi lại về
Đồng Bẩm” [48;tr.236] với bộ dạng thật đáng thương “Áo quần anh rách nhiều hơn,
bẩn hơn nhưng người thì vẫn thế, vẫn xương xương, tóc bờm xờm, sống mũi cao sổ
thẳng từ thùy trán xuống. Anh ngồi bó gối, chiếc ba lô rách nhừ lòi ra đủ những thứ
chứa bên trong nó” [48;tr.200]. Để rồi kết cục cho tấm bi kịch đó cuối cùng là cái chết
thảm thương trong cô độc, “Anh mất lúc nào không ai hay. Mười giờ sáng ông bảo vệ
ngân hàng thấy anh vẫn nằm, tưởng anh bị ốm, đến xem thì phát hiện anh đã chết,
miệng và tai đầy kiến. Người ta lấy chiếc chiếu cũ quấn anh…Bác Lâm cùng mấy
người thợ lên Đồng Bẩm đón anh. Bọn họ mua quan tài ngay tại huyện, cho anh vào
đóng chặt lại rồi mới mang về. Mẹ không được nhìn thấy mặt anh. Mình cũng
vậy…Mãi sau bác Lâm mới tiết lộ anh bị chuột hay con gì đó gặm mất một mắt và hai
cánh mũi” [48;tr.236-237].
Hay nhân vật chính của tiểu thuyết - Hiếu, Hiếu một thanh niên đọc khá nhiều
sách, thích tự do sống một cuộc đời với khá nhiều bi kịch cùng những biến cố gắn với
số phận từng thành viên trong gia đình. “Mình” có một gia cảnh éo le và những mối
quan hệ đặc biệt: ông ngoại là trùm phỉ có tiếng “Ông là một trùm phỉ. Thoạt đầu toán
của ông chỉ có tám người, sau tăng dần lên thành gần trăm người” [48;tr.156]; mẹ đi tù
vì “buôn hàng quốc cấm”, “ Cơ ngơi gia đình một tay mẹ dựng lên qua những chuyến
của chiến tranh, sức mạnh của bạo lực chà đạp lên đời sống con người. Nhân vật trong
tác phẩm như một kiểu phản chiếu, thách thức đối với chiến tranh, với thời đại, hình
ảnh đó mang ý nghĩa tượng trưng hơn là những người con người cụ thể. Vẻ đẹp hay ý
nghĩa của câu chyện không hẳn là ở những sự thật đau lòng của chiến tranh, của bạo
lực mà chính ở sự vật lộn, đấu tranh và trưởng thành của nhân vật qua thời gian, qua
mỗi lần nhìn lại quá khứ. Đó là nỗi đau thương hệ lụy của cuộc chiến tranh khi những
con người nhỏ bé phải tham dự trực tiếp và trở thành nạn nhân của nó. Qua hình
tượng con người là bi kịch của cuộc sống, Nguyễn Bình Phương đã thêm một bước
hoàn thiện hình tượng con người văn học trong chiến tranh: con người một mặt đẹp đẽ,
cao cả, khao khát cuộc sống bình dị hạnh phúc, một mặt chạy trốn thực tại, biến chất
trong tinh thần, đau đớn do sự nhào nặn ghê gớm của hệ lụy chiến tranh và những đối
đầu mâu thuẫn trong xã hội.
17
1.2.3. Con người là nạn nhân của bạo lực
Chiến tranh đã lùi xa nhưng nó đã để lại biết bao nhiêu bi kịch cuộc đời, mà trên
hết con người là nạn nhân của chúng. Trong Mình và họ, điều đó càng được chứng
minh một cách thuyết phục, nó vẽ lên cuộc chiến kinh hoàng giữa các lực lượng chính
thống (quân đội Việt Nam và quân đội Trung Quốc) và phi chính thống (thổ phỉ, dân
tộc miền núi, buôn lậu, các băng đảng thuốc phiện…). Những nhân vật trong tác phẩm
dù được miêu tả trực tiếp hay chỉ xuất hiện thoáng qua cũng để lại những ấn tượng sâu
sắc, nhiều ám ảnh. Những con người và số phận của họ trong tiểu thuyết Mình và họ
dường như bị chi phối bởi sự tàn khốc của bạo lực, đó là Hiếu, là anh Thuận, là người
đàn bà, là Vân Ly… hay kể cả những đứa trẻ vừa mới lọt lòng. Ở họ luôn khát khao tự
do, được bình yên, tuy nhiên với những tàn dư của cuộc chiến, sự tàn khốc của nó đã
cướp đi cái bình yên giữa cuộc đời trần tục với những trò thói kìm hãm con người dưới
sức mạnh của bạo lực.
Bạo lực là một trong những vấn đề trung tâm được Nguyễn Bình Phương khám
trong các sự kiện lịch sử cổ - trung đại: Lý Thường Kiệt khi triệt hạ thành Ung Châu
(1075) “đã cho chặt đầu tất cả những kẻ trong thành rồi xếp thành năm trăm tám mươi
đống, mỗi đống một trăm cái đầu”, “toàn bộ gia quyến của viên quan cai quản và thu
thuế vùng Bạch Long bị phỉ giết chết, hàng chục sinh mạng, không phân biệt trẻ con,
người già, đều bị chặt nhỏ”. Cùng thời điểm đó, nhân viên phiên dịch người Pháp
Haitce bị phỉ tấn công “Phỉ đã lấy gan của ông ta nhắm rượu, còn thân thì chặt làm sáu
mảnh, cắm lên cọc.” [48;tr.98-99]; Nguyễn Ánh dùng đá làm thớt chặt hàng nghìn
người thuộc phe Tây Sơn thất trận, vì trước đó đã chứng kiến cảnh bố mình bị anh em
nhà Tây Sơn chặt đôi người (thế kỉ XVIII). Bạo lực còn phủ đầy những đoạn viết về
chiến tranh qua lời kể và điểm nhìn của anh trai Hiếu, ông cậu, “hắn”. Chiến tranh là
một kiểu bạo lực, nhưng đó không phải là thứ bạo lực bất kỳ, mà đó là thứ bạo lực
không có giới hạn. Trong thời chiến, những người tham chiến có quyền giết kẻ thù
bằng mọi cách nhằm buộc đối phương chịu khuất phục ý chí của mình. Những người
lính có thể dùng súng, hoặc trực diện hơn, bằng dao; có thể chọn cách chôn sống, thiêu
chết đối thủ của mình như cách Trang hành xử Vân Ly bằng cách “đốt xác” và để trần
tình cho hành động ấy Trang đã biện minh “Em đang ở hàng vịt quay Bắc Kinh”
[48;tr.191] thật đáng ghê sợ. Có thể thấy bất kể chuyện gì cũng có thể xảy ra trong
chiến tranh, kể cả những chuyện mông muội, kì quái, rùng rợn, không tưởng nhất của
loài người: chuyện ăn “cao Bành trướng” [48;tr.209], chuyện người đàn bà ăn thịt
người “Cái đặc biệt lớn nhất là bà ta đã từng bị đồn thổi là ăn thịt người…Bà ấy ăn
thật đấy…Khi đã ăn thịt đồng loại thì ý nghĩ hẳn là lạnh lắm [48;tr.115-121], hay
chuyện “khai thác” tù binh “Họ bảo bị hỏi cung, cụ thể là hỏi phiên hiệu đơn vị, chức
19
vụ, quê quán sau đó thì kiểm tra sức khỏe” [48;tr.264-268]…và sau đó người nào khỏe
mạnh thì đem đi mổ lấy nội tạng, với những xác chết bị phanh thây ra. Trong chiến
tranh con người ta rất khó kiểm soát hoàn toàn được mình, và họ coi đó là bản năng
“bản năng là thứ luôn luôn mạnh, ngay cả khi nó ngủ”.
Từ câu chuyện của quá khứ, bạo lực còn hiện diện ngay cả trong cuộc sống của
xử của mình và mọi người xung quanh. Ban đầu Hiếu hờ hững như kẻ ngoài cuộc, sau
đó say mê, đồng lõa và cuối cùng thực thi bạo lực. Họ bối rối, hoang mang, hoài nghi
bởi bạo lực không chỉ trong chiến tranh mà còn cả trong cuộc sống hòa bình; không
chỉ diễn ra ở thế giới thổ phỉ dã man, mà còn hiện diện đầy rẫy ở cuộc sống hiện đại
văn minh; không chỉ diễn ra trong lời ăn tiếng nói, cung cách sinh hoạt hàng ngày mà
còn nhuộm lên bầu sinh quyển, vũ trụ, thiên nhiên - không gian sinh tồn của con
người. Bạo lực cũng không phân biệt anh hùng - thợ săn - thổ phỉ, bên mình - bên họ,
phe chính nghĩa - phe phi nghĩa, người thiện - kẻ ác, lực lượng chính thống - phi chính
thống…Bao quanh bởi bức tường bạo lực, mỗi cá nhân buộc phải lựa chọn một cách
ứng xử chối bỏ hay đồng lõa, một thái độ ghê tởm hay say sưa, một hành động chống
lại hay thực thi và một tâm thế bị động hay chủ động. Nếu bạo lực trong thế giới phỉ
được lí giải bởi tình trạng hoang dã, mông muội, bản năng nguyên thủy; bạo lực trong
chiến tranh được khoác lên mình chiếc áo choàng của lí tưởng, nghĩa vụ bảo vệ xứ sở,
thống nhất đất nước; thì bạo lực hiện đại hiện hữu không lí do như nhu cầu hằng ngày
của con người. Cái chết của Vân Ly chẳng qua là sự nối dài hệ lụy của bạo lực từ quá
khứ đến hiện tại, có khác là ở hình thức bạo lực, không “chặt xác” mà “đốt xác”. Nhân
vật trong tác phẩm dường như tuyệt vọng, như sống vì bản năng nhiều hơn là vì lí
tưởng. Ở trong họ cũng có lúc suy sụp tinh thần, cũng tìm quên bằng mọi cách, cũng
sa đọa sống rồi để rồi mai có thể chết. Những câu chữ xuất hiện trong tiềm thức của
cuộc đời nhân vật đã trở thành những hình tượng ảo giác trên trang bản thảo của chính
mình. Trong tác phẩm, những nhân vật là những con người đi qua bao thăng trầm và
sự đổ nát của thời hậu chiến, của những cuộc xung đột “cắn xé” nhau giữa những tập
đoàn người “mình và họ” cuộc đời họ là hiện thân của tình yêu, của sự sống - đối âm
với bạo lực. Nếu như bạo lực đánh thức trong “họ” phần tàn bạo, phần “con” của con
người, biến họ thành một cỗ máy, “giết chóc và chặt chém” khiến cho con người ta trở
nên vô cảm với chết chóc thì những con người như Hiếu, Trang, Hằng cũng đã từng
ước mơ được yêu được một lần hạnh phúc, hay anh Thuận cũng đã dâng hiến cả cuộc
đời mình để chiến đấu bảo vệ chính nghĩa. Mặc dù thế cho đến cuối cuộc đời họ, đó
mãi mãi là một dấu chấm lửng giữa cuộc đời.
Có thể nói, trong Mình và họ của Nguyễn Bình Phương, những thân phận bé nhỏ