LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn vô cùng sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn tập thể
giảng viên Khoa sư phạm Tiểu học - Mầm non trường đã dùng những tri thức và
tâm huyết của mình để có thể cho chúng em vốn kiến thức quý báu suốt thời gian
học tập tại trường.
Cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô, học sinh trường Tiểu học Văn Thủy và
các trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã tạo điều kiện cho em điều
tra, tìm hiểu và tổ chức thực nghiệm.
Đặc biệt để hoàn thành khóa luận này, với tình cảm chân thành em xin gửi
lời cảm ơn sâu sắc đến TS.Nguyễn Thị Nga – Giảng viên Trường Đại học Quảng
Bình đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, do điều kiện, năng lực, thời gian nghiên
cứu còn hạn chế, khóa luận nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót. Rất mong
nhận được sự góp ý của thầy cô, các bạn để khóa luận thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 06 năm 2018
Tác giả
Phan Thị Minh Châu
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng
được công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Tác giả
Phan Thị Minh Châu
CHƯƠNG II. BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC
SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC VĂN THỦY – LỆ THỦY – QUẢNG BÌNH .... 25
2.1. Giáo dục cho HS về tầm quan trọng của chính tả......................................................... 25
2.2. Hướng dẫn HS luyện phát âm và giải nghĩa từ để rèn kỹ năng chính tả cho HS...... 28
2.3.Vận dụng linh hoạt các phương pháp vào dạy học chính tả ......................................... 30
2.4 Xây dựng một số bài tập chính tả để rèn HS quy tắc viết hoa ...................................... 35
2.5.Rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả cho HS qua các bài tập ..................................... 38
CHƯƠNG III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................................... 55
3. Những vấn đề chung của thực nghiệm............................................................................ 55
3.1. Mục đích thực nghiệm ................................................................................................... 55
3.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm ................................................................. 55
3.3. Tiến trình và kết quả thực nghiệm ................................................................................ 56
C. PHẦN KẾT LUẬN........................................................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................. 71
PHỤ LỤC................................................................................................................................. 73
NHỮNG KÍ HIỆU DÙNG TRONG KHÓA LUẬN
TT
KÍ HIỆU
CHÚ THÍCH
1
GV
Giáo viên
tiếng Việt nên thiếu chủ động, thường thụ động trả lời câu hỏi, không mấy khi dám
đặt câu hỏi.
Để có một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS Tiểu học ở Lệ Thủy với
mục đích là nâng cao chất lượng viết đúng, viết đẹp cho HS, tôi mạnh dạn chọn nội
dung “Một số biện pháp rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4
trường Tiểu học Văn Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình” để làm đề tài nghiên cứu,
cũng là nêu lên thực tế và biện pháp khắc phục các lỗi đó, không ngoài mong
muốn là hình thành cho HS năng lực và thói quen viết đúng chính tả, năng lực và
thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học chính tả và sửa lỗi chính tả
cho HS, từ đó xây dựng các biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS, nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học chính tả cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Văn Thủy -Lệ Thủy Quảng Bình.
2
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường chất lượng dạy học phân môn
chính tả tại trường. Có kế hoạch, biện pháp rèn kĩ năng viết đúng, viết đẹp cho học
sinh nhằm trang bị cho học sinh kĩ năng viết chữ để học tập và giao tiếp, tạo điều
kiện thuận lợi cho các em học tốt các môn học khác. Góp phần vào việc nâng cao
thành tích học tập cho học.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tiến hành đề tài tác giả thực hiện nhiệm vụ:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học chính tả ở
trường Tiểu học Văn Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình.
- Khảo sát, thống kê, phân loại, chỉ ra nguyên nhân mắc lỗi, thực trạng mà
học sinh lớp 4 thường mắc phải
- Đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng viết chính tả cơ bản cho HS Tiểu
học Văn Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình.
Động viên khuyến khích kịp thời giúp học sinh thêm tự tin yêu thích môn học
có ý thức luyện viết. Nêu gương điển hình để học sinh noi theo.
f. Phương pháp thực nghiệm
- Áp dụng linh hoạt một số biện pháp thực nghiệm để vận dụng vào trong các
giờ dạy. Ưu tiên là giờ dạy Chính tả, Tập làm văn.
6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Đề xuất được một số biện pháp rèn luyện kỹ năng viết đúng chính tả cho
HS Tiểu học Văn Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình
- Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho GV, cán bộ quản lí ở trường Tiểu
học Văn Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình.
7. CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của đề tài gồm có
3 chương:
Chương I: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương II: Biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho học sinh Tiểu học
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
4
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Tiếng Việt là môn học có vị trí vô cùng quan trọng trong nhà trường, đặc biệt
trong trường tiểu học, nó chiếm khá nhiều thời gian. Nhờ có môn Tiếng Việt mà
học sinh khám phá được thế giới bí mật của tự nhiên, của xã hội. Hay nói cách
khác, môn Tiếng Việt là chìa khóa để các em bước vào lâu đài khoa học.
Học sinh muốn lĩnh hội tri thức khoa học phải bằng các con đường nghe, nói,
thức tổ chức dạy học Chính tả nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả nói
riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói chung. Ngoài ra tác giả còn đề ra một số
quy tắc chính tả tiếng Việt giúp người đọc biết viết đúng, thành thạo âm tiết từ
đó hình thành kỹ năng chính tả tiếng Việt.
- Trong cuốn “Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”,
tài liệu đào tạo GV - 2007 của Bộ giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV
Tiểu học đã tổ chức biên soạn các mô đun đào tạo, bồi dưỡng GV nhằm nâng
cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung,
phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo
chương trình, SGK Tiểu học mới. Điểm mới ở các tài liệu này là đưa ra nhiều
phương pháp dạy học mới như sử dụng băng hình, phương pháp giao tiếp...
nhằm tích cực hóa hoạt động học tập.
- Trong cuốn “Tiếng Việt thực hành”, Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên),
Nguyễn Văn Hiệp- NXBGD 1997. Tác giả đã đưa ra những vấn đề thiết thực
nhất đối với việc tiếp nhận và tạo lập văn bản viết trong nhà trường, việc rèn
luyện kỹ năng dùng từ và kỹ năng về chính tả, các lỗi dùng từ, các mẹo chữa lỗi
về chính tả. Giáo trình giúp sinh viên phát triển các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt.
- Giáo trình “Dạy học chính tả ở tiểu học” Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân Thảo
(1995), NXB GD, tác giả đã đề cập đến khái niệm chính tả, vị trí của phân môn
Chính tả, những nhiệm vụ và mục tiêu của phân môn Chính tả ở Tiểu học.
6
- Giáo trình “Chữ viết và dạy chữ viết ở tiểu học” Lê A (1982), NXB ĐHSP,
tác giả đã đề cập tới vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn chính tả ở tiểu học, cơ
sở khoa học của việc dạy học chính tả, chương trình (sách giáo khoa) SGK dạy
chính tả.
Ở những tài liệu trên, các tác giả còn đề cập đến vấn đề một cách chung
chung, trường nghiên cứu còn rộng, chưa đi sâu vào khảo sát thực tế tình trạng
- Cách viết tắt.
- Cách dùng số và chữ biểu thị số.
1.1.2.2. Thế nào là chuẩn chính tả?
Thật vậy muốn thống nhất được chính tả thì phải có chuẩn chính tả. Chuẩn
chính tả là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ. Chuẩn chính tả phải
được quy định rõ ràng, chi tiết tới từng từ của tiếng Việt và phải được mọi người
tuân theo. Vấn đề đặt ra là chuẩn chính tả phải được xây dựng sao cho hợp lí, có độ
tin cậy và sức thuyết phục cao. Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt
đối, chẳng hạn không thể viết là “ghách sáo, chia dẻ ...” Mà phải viết là “khách sáo,
chia sẻ…”
Chuẩn chính tả có tính chất ổn định cao, rất ít thay đổi, thường giữ nguyên
trong thời gian dài nên thường tạo thành thói quen, tạo nên tâm lí trong lối viết của
người bản ngữ.
- Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối cho nên nó ít bị
thay đổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (như chuẩn ngữ âm, chuẩn từ
vựng, chuẩn ngữ pháp). Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định, tính
chất cố hữu khá rõ. Sự tồn tại nhất nhất hàng thế kỉ của nó đã tạo nên ấn tượng
về một cái gì "bất di bất dịch", một tâm lí rất bảo thủ. Chính vì thế mặc dù biết
rằng cách viết "iên ngỉ" hợp lí hơn nhưng đối với chúng ta nó rất "gai mắt", khó
chịu vì trái với cách viết từ bao đời nay. Mặt khác, do tính chất "trường tồn" này
mà chính tả thường lạc hậu so với sự phát triển của ngữ âm. Sự mâu thuẫn giữa
ngữ âm "hiện đại" và chính tả "cổ hủ" là một trong những nguyên nhân chính
làm cho chính tả trở nên rắc rối.
8
- Ngữ âm phát triển, chính tả không thể giữ mãi tính chất cố hữu của mình
mà dần dần cũng có một sự biến động nhất định. Do đó, bên cạnh chuẩn mực
chính tả hiện có lại có thể xuất hiện một cách viết mới tồn tại song song với nó, ví
1.1.3.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, của phân môn Chính tả ở Tiểu học
Mục tiêu của phân môn Chính tả là sự cụ thể hóa mục tiêu của phân môn
Tiếng Việt ở Tiểu học, hình thành và phát triển HS năng lực sử dụng tiếng Việt (đặc
biệt là kỹ năng viết) góp phần rèn luyện cho HS những thao tác tư duy cơ bản, cung
cấp cho HS những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội để góp phần giáo dục và
hình thành nhân cách cho HS.
Cùng với phân môn Tập viết, phân môn Chính tả có nhiệm vụ là giúp HS nắm
vững quy tắc chính tả, hình thành kĩ năng chính tả, nói cách khác là giúp HS hình
thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, củng cố và hoàn thiện các tri thức cơ
bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết tiếng Việt, trang bị cho HS công cụ để học tập
và giao tiếp xã hội. Ngoài ra phân môn còn rèn cho HS một số kỹ năng, phẩm chất
tốt như: tính cẩn thận, chính xác, bồi dưỡng cho HS lòng yêu quý tiếng Việt và chữ
viết của tiếng Việt.
1.1.3.2. Vị trí, tính chất của dạy học chính tả ở trường Tiểu học
Bốn hoạt động vô cùng quan trọng trong hoạt động ngôn ngữ của con người là
nghe, nói, đọc và viết. Xét dưới góc độ chức năng giao tiếp thì nói và viết là hoạt
động tạo lập lời nói, còn nghe và đọc là hoạt động tiếp nhận lời nói. Còn xét dưới
góc độ phương diện giao tiếp thì nghe và nói là hoạt động âm thanh, đọc và viết là
hoạt động bằng chữ viết. Cả bốn hoạt động này luôn có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, thực hiện hoạt động này là tiền đề thực hiện bốn hoạt động kia và ngược lại.
Tuy nhiên, ở trong mỗi hoạt động lại có những đặc điểm riêng, giữ vị trí riêng trong
hoạt động chung của mỗi con người cũng như trong dạy học ở nhà trường, trong đó
là một kỹ năng vô cùng quan trọng là rèn luyện cho HS.
Trong thực tiễn dạy học Chính tả cùng với tập viết, tập đọc, tập nói giúp cho
người đọc chiếm lĩnh được tiếng Việt văn hóa, công cụ để giao tiếp, tư duy và học
tập. Từ đó hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt ( đặc biệt là kỹ
năng viết) góp phần rèn luyện cho HS thao tác tư duy cơ bản, cung cấp cho HS
những hiểu biết sơ giản về tự nhiên xã hội để góp phần giáo dục và hình thành nhân
cách cho HS.
10
+ Viết đúng các từ ngữ dễ sai lẫn trong các bài chính tả nghe - viết, nhớ - viết,
cụ thể là:
11
- Các từ có âm đầu hoặc âm chính có nhiều cách viết
- Các từ có vần khó xuất hiện trong các bài chính tả.
- Các từ mà phát âm của tiếng địa phương lệch so với chuẩn.
+ Các tên người, tên địa lý Việt Nam và nước ngoài
Thực tế cho thấy GV dạy chính tả nói chung và GV dạy phân môn Chính tả
lớp 4 trường Tiểu học trường Tiểu học Văn Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình - nói
riêng chưa thực sự coi trọng và tuân thủ nguyên tắc chính âm - chính tả - ngữ nghĩa
vào dạy học Chính tả cho HS. Điều đó chứng tỏ việc HS nắm được các nguyên tắc
để viết chính tả là hết sức cần thiết đối với mỗi người GV khi dạy - học phân môn
Chính tả trong Tiếng việt.
1.1.4.2. Sự kết hợp hài hòa và thành thạo của 4 kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết
Như chúng ta đã biết, ở Tiểu học có nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là việc
hình thành bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết cho HS.
Từ vị trí và nhiệm vụ của phân môn ở tiểu học; chính tả được dạy, được chú ý
trên tất cả các phân môn Tiếng Việt như Tập đọc, Tập làm văn, Từ ngữ, Ngữ
pháp,... và còn dạy với tính cách là một phân môn độc lập. Chính vì vậy, để giúp
các em học tốt phân môn Chính tả hay nói cách khác là để giúp HS nói, viết hiểu
đúng Tiếng Việt thì GV phải giải quyết hai phần việc liên quan chặt chẽ với nhau
đó là dạy lý thuyết và dạy cả thực hành cho các em, để từ đó tạo cho các em năng
lực thực hành đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe - nói- đọc - viết đúng tiếng Việt.
Qua thực tế cho thấy chữ viết của các em HS lớp 4 trường Tiểu học Văn ThủyLệ Thủy- Quảng Bình vẫn còn rất xấu và dẫn đến sai nhiều lỗi chính tả, nhiều HS có
chữ viết tương đối khá, trình bày rõ ràng, sạch sẽ nhưng vẫn còn mắc lỗi chính tả
trong bài viết. Vậy mỗi GV cần phải có phương pháp thích hợp nhằm hướng dẫn, tổ
chức cho HS viết chính tả, đồng thời GV cần phải biết kết hợp hài hòa và thành thạo
bốn kỹ năng : nghe- nói - đọc - viết vào trong dạy học Chính tả.
hành theo hai cách: Có ý thức và không có ý thức, với cách không có ý thức thường
tốn thời gian, công sức, GV phải luyện cho HS thường xuyên qua đó củng cố trí
nhớ máy móc ở mức độ nhất định.
13
Với cách có ý thức, GV cần cho HS bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các
“mẹo” luật chính tả. Nội dung kiến thức phải bắt đầu từ dễ đến khó, tránh nhàm
chán mà phải học mà chơi chơi mà học. Thông qua luyện tập dần dần hình thành
những kỹ xảo chính tả bằng con đường có ý thức, đó là con đường ngắn nhất, có
hiệu quả cao. Cần vận dụng cả hai phương pháp để rèn luyện chính tả cho HS tiểu
học. Trong đó cách không có ý thức thường được sử dụng đối với các lớp đầu cấp,
cách có ý thức thường sử dụng ở các lớp cuối cấp.
HS tiểu học không phải bao giờ cũng viết đúng, đọc đúng. Do những yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng viết đúng chính tả (TMĐ, yếu tố sinh lí, yếu tố xã hội) nên
hầu như các em đều viết chính tả theo cảm tính, mặt khác do kỹ năng viết chính tả
còn ít, hạn chế nên việc viết đúng, chính xác còn khó khăn. Đây là cơ sở để đề xuất
các biện pháp rèn kỹ năng Chính tả cho HS lớp 4 trường Tiểu học Văn Thủy - Lệ
Thủy - Quảng Bình
1.1.5.2. Cơ sở ngôn ngữ học
Từ cơ sở sinh lí học đã nêu trên, để hạn chế được lỗi chính tả cho HS, người
GV cần nắm chắc, hiểu, vận dụng và giảng dạy cho HS một số nguyên tắc chính tả
tiếng Việt sau đây:
Một là: Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm.
Theo nguyên tắc này chính tả phải biểu hiện đúng âm hưởng của từ, phát âm
thế nào thì viết thế ấy.
Giữa cách đọc và cách viết phải thống nhất với nhau, được nghe đọc đúng thì
HS sẽ viết đúng. Bởi vậy tiếng Việt là chữ ghi âm vị nên nguyên tắc này là nguyên
tắc cơ bản nhất. Nó thể hiện ở chỗ cách viết của mỗi từ thể hiện đúng âm cần đọc
của từ. Quan hệ giữa âm và chữ là quan hệ 1-1 nguyên tắc này đòi hỏi GV phải phát
trước (i, e, ê, yê ) thì được viết tắt là “k”. Khi nó đứng trước các nguyên âm hàng sau (o,
a, u, ô) thì được viết là “c”. Khi nó đứng trước âm đệm “u” thì được viết là “q”.
VD2: Đứng trước các nguyên âm hàng trước (i, e, ê, yê) được viết là “gh”, âm
vị “y” được viết là “ngh”. Đứng trước các nguyên âm hàng sau (a, ă, â, …) viết là
“g”, âm vị “y” viết là “ng”.
Từ cơ sở lí luận trên, để hạn chế lỗi chính tả cho HS GV cần nắm chắc các quy
tắc chính tả và phải có trình độ lí luận khoa học để áp dụng tốt vào thực tiễn.
15
1.1.5.3. Một số quy tắc chính tả Tiếng việt.
Nét viết: đều đứng (vuông góc với dòng kẻ). Mặc dù vậy các em vẫn có thể
viết chữ nghiêng và viết nét thanh nét đậm để chữ được thêm phong phú, đa dạng,
đẹp mắt.
Kích thước chữ: người ta lấy khoảng cách giữa hai dòng kẻ liền nhau làm một
đơn vị cự li để viết chữ. Căn cứ vào đơn vị cự li dòng kẻ người ta xây dựng được cự
li các chữ.
Độ cao chữ tiếng Việt (bao gồm chữ viết thường, viết hoa và chữ số) Thứ
nhất, mẫu các chữ viết thường:
+ Nhóm có độ cao 1 đơn vị: a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, i, u, ư, m, n, x, v.
+ Nhóm độ cao 1,25 đơn vị: r, s
+ Nhóm có độ cao 2 đơn vi: d, đ, p, q.
+ Nhóm có độ cao 2,5 đơn vị: b, g, h, k, l, y. Thứ hai, mẫu chữ viết hoa:
+ Chiều cao của các chữ viết hoa là 2,5 đơn vị, riêng chữ Y và G được viết cao
4 đơn vị.
Thứ ba, mẫu chữ số: chiều cao của chữ số là 2 đơn vị.
- Vị trí dấu thanh:
Trong mỗi chữ, dấu thanh luôn đặt ở chữ ghi âm chính của vần. Trong tiếng
Việt có 6 dấu thanh: thanh nặng, thanh huyền, thanh sắc, thanh ngã, thanh hỏi,
thanh ngang, trong đó một dấu thanh không là thanh ngang. Các thanh đều được đặt
Như chúng ta đều biết rằng, môn Tiếng Việt hình thành cho HS bốn kỹ
năng: Nghe, nói, đọc, viết. Mà bốn kỹ năng này lại có quan hệ mật thiết với nhau.
Nói có chuẩn thì người nghe mới hiểu đúng và mới viết đúng được, viết đúng mới
đọc được chuẩn, đọc được hay. Cho nên hình thành kỹ năng viết đúng có vai trò rất
quan trọng.
Viết sai chính tả ngay ở các lớp đầu cấp sẽ hình thành thói quen và ảnh
hưởng không nhỏ đến sau này. Chính tả không chỉ là công cụ giúp HS chiếm
lĩnh văn hóa, trau dồi kiến thức, tư duy học tập mà nó còn tạo điều kiện ban đầu
trong hành trang ngôn ngữ của các em. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, phân
môn Chính tả phải là môn học được coi trọng trong nhà trường. Thế nhưng trên
thực tế lại không như vậy, không riêng gì với HS ở các huyện trong tỉnh Quảng
Bình mà hầu hết các em HS ở các vùng miền khác vẫn chưa nhận thức được tầm
18
quan trọng của môn Chính tả và chỉ nhìn nhận môn học này là một môn học
“phụ”, hỗ trợ cho kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Điều đó được thể hiện cụ thể:
Theo thống kê phiếu điều tra khảo sát HS của các trường Tiểu học ở địa phương
tỉnh Quảng Bình, mà đề tài tiến hành nghiên cứu cho thấy: Có tới 65% HS là
không thích học phân môn Chính tả, 35% HS thích và rất thích học môn này, khi
chúng tôi hỏi: “Em có thích học chính tả không?”. Hay với câu hỏi : “Theo em,
phân môn Chính tả có quan trọng không?” thì có tới 61% HS trả lời không quan
trọng, chỉ 39% HS cho là quan trọng và rất quan trọng. Còn với câu hỏi: “Em
dành thời gian như nào để học chính tả? ” đa số các em trả lời dành thời gian ít
(chiếm 58%) hoặc không dành thời gian (chiếm 25%), rất ít HS trả lời dành
nhiều thời gian cho môn học (chỉ 17%) .Bên cạnh đó việc rèn luyện kỹ năng viết
chính tả có đạt được hiệu quả hay không điều đó bị chi phối bởi đặc điểm nhận
thức của HS. Nhiều HS viết sai chính tả do các em không phân tích được cấu tạo
của chữ viết, không hiểu được nghĩa của các từ cần viết, không hiểu nội dung của
văn bản cần viết, không nắm được ý của từng câu, từng vế câu. Vì vậy trong quá
Sắc/
Ngang/ Ngang/ Huyền/ Huyền/
số
ngã
nặng
hỏi
ngã
huyền
hỏi
sắc
ngã
185
63
38
34
m/ n
Tổng
3
0
5
2
0
0
25
Bảng thống kê các loại lỗi về phần vần
Lỗi số
HS
185
Iê/yê
3
e/ yê Ua/uô
2
Sắc/hỏi; sắc/ngã: Số lượng HS mắc lỗi này cũng khá lớn. Ví dụ về loại
lỗi này khá phong phú. Có thể kể ra đây một số trường hợp thường gặp trong bài
viết của học sinh như:
20