Nghiên cứu tác dụng cải thiện trí nhớ trên chuột bị mất vùng khứu giác và tác dụng bảo vệ thần kinh của cao saponin toàn phần từ cây chè đắng (ilex kudingcha c j tseng) - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CẢI THIỆN TRÍ NHỚ
TRÊN CHUỘT BỊ MẤT VÙNG KHỨU GIÁC VÀ
TÁC DỤNG BẢO VỆ THẦN KINH CỦA CAO
SAPONIN TOÀN PHẦN TỪ CÂY CHÈ ĐẮNG
(ILEX KUDINGCHA C.J. TSENG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CẢI THIỆN TRÍ NHỚ
TRÊN CHUỘT BỊ MẤT VÙNG KHỨU GIÁC VÀ
TÁC DỤNG BẢO VỆ THẦN KINH CỦA CAO
SAPONIN TOÀN PHẦN TỪ CÂY CHÈ ĐẮNG

và đồng nghiệp đã luôn bên cạnh tôi, ủng hộ và động viên tôi, là chỗ dựa tinh thần
vững chắc khi tôi gặp khó khăn trong học tập cũng như trong đời sống.
Do thời gian làm thực nghiệm cũng như kiến thức của bản thân có hạn, khóa
luận này còn có nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, bạn
bè để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 04 tháng 04 năm 2018
Học viên

Nguyễn Thị Hương


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ.................................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN .............................................................................................. 3
1.1.Tổng quan về sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ ...............................................3
1.1.1.Khái niệm sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ ................................................3
1.1.2. Dịch tễ ...........................................................................................................5
1.1.3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh .............................................................. 6
1.1.4. Thuốc điều trị ............................................................................................... 8
1.1.4.1. Nhóm thuốc điều trị tổn thương liên quan đến nhận thức .....................8
1.1.4.2. Nhóm điều chỉnh hành vi (Tăng cường hoạt tính serotonin) ...............10
1.1.4.3. Các thuốc chống oxy hóa và các nhóm khác .......................................10
1.1.4.4. Hạn chế của thuốc điều trị sa sút trí tuệ hiện nay ................................ 10
1.1.5. Một số mô hình nghiên cứu .......................................................................11
1.2. Cây chè đắng .....................................................................................................12

điều kiện ............................................................................................................26
2.2.2. Đánh giá tác dụng bảo vệ thần kinh của cao saponin toàn phần chè đắng
trên mô hình gây độc tế bào NG 108-15 bằng protein β - amyloid (Aβ 25-35) in
vitro .......................................................................................................................28
2.2.2.1. Đánh giá độc tế bào NG 108-15 của saponin toàn phần từ lá chè đắng
........................................................................................................................... 28
2.2.2.2. Thăm dò khả năng gây độc của protein Aβ 25-35 trên tế bào NG 10815 .......................................................................................................................29
2.2.2.3. Đánh giá tác dụng bảo vệ thần kinh của cao saponin toàn phần chè
đắng trên mô hình gây độc tế bào NG 108-15 bằng protein β - amyloid (Aβ 2535) in vitro .........................................................................................................29
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu .........................................................................29
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.......................................................................31
3.1. Đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của cao saponin toàn phần từ chè đắng
trên chuột suy giảm nhận thức do mất vùng khứu giác bằng thử nghiệm nhận
diện vật thể, thử nghiệm mê lộ chữ Y và thử nghiệm sợ hãi có điều kiện.............31
3.1.1. Đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ ngắn hạn bằng thử nghiệm nhận diện đồ
vật (Object Recognization Test - ORT) ................................................................ 31
3.1.2. Đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ không gian bằng thử nghiệm mê lộ chữ
Y ............................................................................................................................ 32
3.1.3. Đánh giá khả năng cải thiện trí nhớ dài hạn bằng thử nghiệm sợ hãi có điều
kiện ........................................................................................................................35
3.2. Đánh giá tác dụng bảo vệ thần kinh của cao saponin toàn phần chè đắng
trên mô hình gây độc tế bào NG 108-15 bằng protein β - amyloid 25-35 (Aβ 2535) in vitro .................................................................................................................36
3.2.1. Đánh giá độc tính của cao saponin toàn phần từ chè đắng đối với tế bào NG
108-15....................................................................................................................36
3.2.2. Thăm dò khả năng gây độc của protein Aβ 25-35 trên tế bào NG 108-15 .38
3.2.3. Đánh giá tác dụng bảo vệ thần kinh của cao saponin toàn phần chè đắng
trên mô hình gây độc tế bào NG 108-15 bằng protein β - amyloid (Aβ 25-35) ...39
Chương 4. BÀN LUẬN ............................................................................................... 41
4.1. Về mô hình nghiên cứu ....................................................................................41
4.1.1. Về lựa chọn mô hình phẫu thuật loại bỏ thùy khứu giác OBX và lựa chọn

Phụ lục 2: Sự hình thành cấu trúc kudinglacton trong chè đắng ............................... 13


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
2,4D: Dioxin
Aβ: Protein β-amyloid
ACAT: Acetyl CoA cholesteryl acyl transferase
AD: Alzheimer's Disease - bệnh Alzheimer
ADAS-Cog: Alzheimer's Disease Assessment Scale-Cog
ALAT: Alanine transaminase
ApoE: Apolipoprotein E
APP: Protein tiền chất amyloid
ASAT: Aspartate transaminase
BACE1: β-site APP-cleaving 1
βAP: β-amyloid peptid
CĐ: Chè đắng
DBD: sa sút trí tuệ ở bệnh nhân Parkinson
DMSO: Dimethyl sulfoxide
EGCG: Flavonoid epigallocatechin gallat
FTD: sa sút trí tuệ thùy trán-thái dương
HA: huyết áp
LBD: sa sút trí tuệ thể Lewy
LDL: Low-density lipoprotein
MDA: Malondialdehyd
MMSE: mini–mental state examination
MTT: 3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyl tetrazolium bromide
NFTs: Neurofibrilary Tangles
NG 108-15: Neuroblastoma x glyoma hybrid cell, 108CC15
NICE: National Institute of China Exellence
NMDA: N-methyl D aspartate

n = 9-12)
Phần trăm thời gian bất động của chuột đối trong thử nghiệm
trí nhớ bối cảnh và thử nghiệm trí nhớ âm thanh (** p < 0,01
khi so sánh với nhóm chứng sinh lý, # p < 0,05 và ## p < 0,01
khi so sánh với nhóm chứng bệnh lý, n= 9-12)

Trang
21
21
24
29

31

36


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Hình 1.1
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3
Hình 2.4
Hình 3.1

Hình 3.2

Hình 3.3


(* p< 0,05 khi so sánh với nhóm chứng sinh lý, # p > 0,05 khi
so sánh với nhóm được xử lý với protein Aβ 25-35 nồng độ 20
μM)
Tác dụng của cao saponin toàn phần chè đắng trên tế bào NG
108-15 khi gây độc bằng protein Aβ 25-35 10 μM (* p < 0,01
khi so sánh với nhóm chứng sinh lý, # p < 0,05 khi so sánh với
nhóm chứng bệnh lý (ủ với Aβ 25-35 10 μM)).
Sự hình thành cấu trúc kudinlacton

38

39
Phụ
lục


ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây chè đắng (CĐ) có tên khoa học là Ilex kudingcha C. J. Tseng., (Ilex kaushue
S.Y.Hu, Ilex latifolia Thunb, Aquifoliaceae) [4] có nguồn gốc từ núi đá vôi ở Việt
Nam, phân bố ở một số tỉnh như Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoà Bình và Ninh
Bình, trong đó Cao Bằng là tỉnh có chè đắng mọc tự nhiên khá phổ biến, có mặt ở 6/12
huyện của tỉnh. Cây CĐ ở Trung Quốc đã được sử dụng làm thuốc và nước uống cách
đây hơn 2000 năm với mục đích để làm thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương, tăng
cường trí nhớ, thuốc tăng lực, kích thích tiêu hóa, kéo dài tuổi thọ, giải độc, trị đau
đầu, viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản, ... [41]. Trong y học cổ truyền Việt Nam,
CĐ đã được sử dụng để thải độc tố, kháng khuẩn, giảm cơn khát và ho, mắt ngứa, mắt
đỏ, đặc biệt là để cải thiện trí nhớ. Triterpenoid, acid phenolic, flavonoid, và tinh dầu
là những thành phần chính của CĐ và các thành phần này có tác dụng bảo vệ hệ thống
mạch máu, điều hòa chuyển hóa lipid, và có tác dụng chống oxy hoá, hạ đường huyết
và chống khối u [37].

đề tài : “Nghiên cứu tác dụng cải thiện trí nhớ trên chuột bị mất vùng khứu giác và
tác dụng bảo vệ thần kinh của cao saponin toàn phần từ cây chè đắng (Ilex
kudingcha C.J. Tseng)” với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của cao saponin toàn phần từ chè đắng trên
chuột suy giảm nhận thức do mất vùng khứu giác bằng thử nghiệm nhận diện
vật thể, thử nghiệm mê lộ chữ Y và thử nghiệm sợ hãi có điều kiện
2. Đánh giá tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh của cao saponin toàn phần từ chè
đắng trên mô hình gây độc tế bào NG 108-15 bằng protein beta amyloid in
vitro.

2


Chương 1. TỔNG QUAN
1.1.Tổng quan về sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ
1.1.1.Khái niệm sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ
Theo định nghĩa của WHO: “Sa sút trí tuệ là một hội chứng cấp tính hay mạn
tính do bệnh của não, gây rối loạn chức năng thần kinh cao cấp bao gồm trí nhớ, tư
duy, phương hướng, sự hiểu biết, tính toán, khả năng học hỏi, ngôn ngữ và phán xét
nhưng ý thức chưa bị mất hoàn toàn. Hội chứng đi kèm sự suy giảm chức năng nhận
thức do suy giảm trong kiểm soát cảm xúc, động cơ, hành vi xã hội. Hội chứng xảy ra
trong bệnh Alzheimer, bệnh mạch máu não và trong các điều kiện khác trực tiếp hoặc
gián tiếp ảnh hưởng đến não” [53].
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV: Sa sút trí tuệ bao gồm nhiều chức
năng suy giảm nhận thức trong:
- Trí nhớ
- Thiếu sót một hay nhiều nhận thức sau:
+ Mất ngôn ngữ - Aphasia
+ Mất động tác – Apraxia
+ Mất nhận thức – Agnosia

- Trí nhớ thông hiểu: Vận dụng đến các mối liên hệ nội tại có tính chất quy luật
giữa các hệ thống để nhớ. Trí nhớ thông hiểu chắc chắn hơn vì trong quá trình
nhớ có sự tham gia của ý thức, sự chú ý, cảm xúc và nhất là trí tuệ, tư duy. Ví
dụ: Nhớ nội dung một quyển truyện.
Suy giảm trí nhớ (hypomnesia): là kém nhớ những sự việc mới xảy ra hay những sự
việc đã cũ. Thường những sự việc mới xảy ra khó nhớ hơn những sự việc cũ (Định
luật Ribot). Gặp trong loạn thần tuổi già, liệt toàn thể tiến triển, bệnh tâm căn suy
nhược,... [11]. Bộ nhớ có chức năng còn nguyên vẹn là rất quan trọng để thực hiện các
hoạt động trong cuộc sống hàng ngày như quản lý tài chính, nhớ uống thuốc, lái xe,
nhớ sinh nhật của một đứa cháu và học cách sử dụng máy tính mới,... Suy giảm trí nhớ
được thấy trong lão hóa, bệnh Alzheimer nhưng cũng gặp trong một số rối loạn tâm
thần và thần kinh khác: thiểu năng trí tuệ, tự kỷ, rối loạn thiếu tập trung, khuyết tật khả
năng học tập, tâm thần phân liệt, trầm cảm đều có suy giảm trí nhớ, cũng như trong
bệnh Parkinson, Huntington và các bệnh thoái hóa thần kinh khác. Người ta tin rằng,
suy giảm trí nhớ phát sinh từ các hoạt động bất thường trong mạng lưới neuron và sự
suy giảm hoạt động của các synap. Việc tái tạo synap là rất cần thiết cho sự hình thành
của trí nhớ và được cho là điều chỉnh bởi nhiều điều kiện sinh học bao gồm: biểu hiện
gen, dịch mã protein, sự suy thoái protein, động học tế bào, tương tác matrix ngoại
bào, chất truyền tin thứ 2, receptor và chức năng của chất dẫn truyền thần kinh. Sự
thiếu hụt hoặc suy giảm chức năng của một hay nhiều yếu tố này có thể dẫn tới cản trở
dẫn truyền thần kinh và gây suy giảm trí nhớ [63].
Mất nhớ hay quên (amnesia) [11]:
- Theo sự việc, chia ra:
Quên toàn bộ: Quên tất cả những sự việc cũ và mới thuộc mọi lĩnh vực, gặp trong sa
sút trí nhớ
Quên từng phần: Chỉ quên một số kỷ niệm, chỉ quên ngoại ngữ, chỉ quên thao tác nghề
nghiệp, chỉ quên danh từ riêng, ... Gặp trong tổn thương khu trú ở một vùng nhất định
của não hay do cảm xúc mạnh.
- Theo thời gian, chia ra:
Quên thuận chiều (anterograde amnesia): Quên những sự việc xảy ra ngay sau khi bị

này thì họ vẫn đạt được các thành tích trí tuệ ở mức chuẩn của người bình thường. Các
hoạt động thường ngày của họ cũng không bị ảnh hưởng [17].
1.1.2. Dịch tễ
Theo báo cáo “gánh nặng bệnh tật toàn cầu” (the global burden of disease) cho
thấy năm 2010, Tây Âu là khu vực có số người sa sút trí tuệ cao nhất (7,0 triệu), theo
sau là Đông Á (5,5 triệu), Nam Á (4,5 triệu) và Bắc Mỹ (4,4 triệu). Cứ 20 năm, số
bệnh nhân sa sút trí tuệ sẽ tăng gần gấp đôi, dự đoán lên đến con số 65,7 triệu năm
2030. Chủ yếu là do sự gia tăng về số lượng bệnh nhân sa sút trí tuệ ở các quốc gia thu
nhập thấp và trung bình [59]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2003 bệnh
suy giảm trí nhớ đóng góp 11,2% năm sống ốm yếu với khuyết tật ở những người từ
60 tuổi trở lên, cao hơn đột quỵ (9,5%), rối loại cơ xương (8,9%), bệnh tim mạch
(5,0%) và tất cả các dạng ung thư (2,4%). Tỷ trọng khuyết tật do bệnh mất trí nhớ gây
ra, theo ước tính của một đồng thuận quốc tế và chuyên gia đa ngành, là cao hơn so
với hầu hết các bệnh khác, ngoài chấn thương tủy sống và ung thư giai đoạn cuối.
Knapp và cộng sự ước tính rằng ở Anh 224000/461000 người cao tuổi bị suy giảm trí
nhớ sống trong các cơ sở chăm sóc y tế với chi phí 4,6 tỷ bảng (8,2 tỷ USD) mỗi năm

5


(tương đương 0,6% GDP cả nước). Tại Mỹ, chi phí hàng năm của chăm sóc không
chính thức là 18 tỷ đô la [24].
Việt Nam có hơn 9 triệu người bị sa sút trí tuệ mà dạng bệnh điển hình là
Alzheimer. Nghiên cứu tại bệnh viện Lão khoa Trung ương tại huyện Ba Vì, Hà Nội
(2005-2006) cho thấy tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sống tại cộng đồng có sa sút trí tuệ
là 4,63%), cứ sau 5 tuổi tỷ lệ mắc tăng lên 1,78 lần. Tình hình sa sút trí tuệ tại Việt
Nam cũng tương tự các nước trong khu vực [12].
Bệnh nhân suy giảm trí nhớ cần được phát hiện và điều trị sớm nhằm góp phần
làm chậm tiến triển của bệnh, giảm bớt đau khổ cho bệnh nhân cũng như gánh nặng
cho gia đình và xã hội.

6


Giả thuyết cholinergic và những bất thường về các chất dẫn truyền thần kinh
khác
Rối loạn chức năng và thoái hóa tế bào lan tỏa dẫn đến một loạt các khiếm
khuyết dẫn truyền thần kinh, trong đó, các bất thường trên hệ cholinergic là nổi bật
nhất. Sự mất hoạt động của hệ cholinergic tương quan thuận với mức độ nghiêm trọng
của bệnh suy giảm trí nhớ. Vào giai đoạn muộn của bệnh, số lượng các tế bào thần
kinh cholinergic và số lượng các thụ thể nicotinic trong vùng hải mã và vỏ não giảm
xuống. Thụ thể nicotinic trước synap có vai trò kiểm soát việc giải phóng của
acetylcholin, cũng như các chất dẫn truyền thần kinh quan trọng khác cho bộ nhớ và
tâm trạng, bao gồm: glutamat, serotonin và norepinephrin. Giả thuyết cholinergic lý
giải việc mất tế bào cholinergic là nguyên nhân suy giảm nhận thức trong bệnh
Alzheimer, do đó, việc tăng cường chức năng hệ cholinergic có thể cải thiện triệu
chứng mất trí nhớ [16], [20], [23].
Giả thuyết apolipoprotein E
Những nghiên cứu trước đây đã tìm thấy nhiều mối liên hệ giữa cholesterol và
sự xuất hiện của bệnh Alzheimer. Apolipoprotein E là một lipoprotein có nhiệm vụ
vận chuyển cholesterol trong não. ApoE4 có liên quan đến tăng tính lắng đọng của
βAP và được cho là đóng vai trò như một chất điều hòa thúc đẩy trong quá trình bệnh
sa sút trí tuệ mạch máu. Cholesterol được vận chuyển bằng LDL vào tế bào thần kinh
và liên kết với NFTs. Mức cholesterol cao trong tế bào thần kinh não có thể làm thay
đổi chức năng màng tế bào, dẫn đến hình thành các βAP và các mảng bám [16], [20],
[23].
Các chất trung gian gây viêm
Giả thuyết cho rằng, khi βAP tích tụ, các thực bào tiểu thần kinh đệm
(microglia) được kích hoạt và tăng cường phản ứng của các tế bào hình sao với các
mảng bám. Các thực bào tiểu thần kinh đệm làm giảm βAP bằng cơ chế thực bào. Các
tế bào hình sao đưa βAP vào tế bào chất gián tiếp qua receptor và vận chuyển βAP vào

nghiêm trọng hệ cholinergic và sự mất nhận thức tiến triển từ từ cho tới khi bệnh nhân
tử vong [16], [20], [23].
1.1.4. Thuốc điều trị
1.1.4.1. Nhóm thuốc điều trị tổn thương liên quan đến nhận thức
Thuốc kháng enzym cholinesterase
Nhóm này được sử dụng vì có tình trạng suy giảm thụ thể acetylcholin và
nicotin trong hệ thần kinh trung ương ở các bệnh nhân sa sút trí tuệ do bệnh Alzheimer
và những khiếm khuyết này gây suy giảm trí nhớ, nhận thức.
Cho tới nay, thuốc kháng enzym cholinesterase được xem là nhóm thuốc chính
trong điều trị Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác, nhóm thuốc này đã được
chứng minh là có hiệu quả hơn placebo trong việc điều trị các triệu chứng của bệnh
Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác khi được sử dụng ở giai đoạn bệnh nhẹ hay
nặng trung bình (10-24 điểm MMSE), tuy nhiên các thuốc này không ngăn chặn được
diễn tiến tự nhiên của bệnh. Các thuốc thuộc nhóm này bào gồm: tacrin, donepezil,
rivastigmin, galantamin [7], [23].
Nhóm thuốc kháng thụ thể N-methyl D aspartate (NMDA)
Nhóm này có memantin là thuốc đối kháng không cạnh tranh trên thụ thể Nmethyl D aspartat (NMDA) của hệ thống glutamat với ái lực vừa phải, do có hiện
tượng tăng hoạt hóa thụ thể NMDA làm tổn thương các neuron thần kinh trong các
bệnh lý thoái hóa thần kinh. Việc sản xuất glutamat quá mức khiến các receptor
NMDA hoạt động quá mức, gây tăng nhập calci vào tế bào, dẫn đến trạng thái kích
thích do nhiễm độc (excitotoxicity) có liên quan đến suy giảm trí nhớ trong AD. Do
phụ thuộc vào điện thế và có động lực học nhanh nên memantin giảm ức chế receptor
NMDA ở lượng glutamat sinh lý và tăng ức chế receptor này ở lượng glutamat bệnh

8


lý, do đó cải thiện trí nhớ và chức năng nhận thức [27]. Các bằng chứng cho thấy
memantin đem lại lợi ích lâm sàng về tổng thể, chức năng nhận thức, hành vi, các hoạt
động trong cuộc sống hàng ngày ở bệnh nhân Alzheimer vừa và nặng. Điều trị

động có hại của Alzheimer với 4 cơ chế chính: (i) liên kết kháng thể và thực bào nhờ
tế bào tiểu thần kinh đệm microglia; (ii) trực tiếp hòa tan thông qua sự gián đoạn của
Aβ; (iii) chiết tách hòa tan từ hệ thần kinh trung ương bởi kháng thể trong huyết
tương; (iv) liên kết kháng thể để ức chế oligome gây độc tính mà không ảnh hưởng tới
amyloid. Bapineuzumab và Solanezumab đang được nghiên cứu với cơ chế tạo ra
kháng thể trung gian giải phóng Aβ [27].

9


1.1.4.2. Nhóm điều chỉnh hành vi (Tăng cường hoạt tính serotonin)
Nhóm này có tác dụng tăng cường tái hấp thu serotonin chọn lọc SSRIs có tác
dụng giúp bệnh nhân điều chỉnh hành vi, chống trầm cảm, tránh kích thích hoặc lú lẫn.
Nhóm này gồm có fluoxetin, citalopram, escitalopram, paroxetin [16], [20], [23].
1.1.4.3. Các thuốc chống oxy hóa và các nhóm khác
Vitamin E: Giảm tổn thương do tế bào bị oxy hóa bởi các gốc tự do.
Ginkgo Biloba: Thuốc có tác dụng tăng tuần hoàn, cải thiện suy giảm trí nhớ.
Estrogen: Ảnh hưởng đến quá trình bảo vệ và dinh dưỡng thần kinh
Kháng viêm NSAID: có một nghiên cứu cho thấy nhóm này có tác dụng giảm nguy cơ
mắc bệnh Alzheimer [20], [23].
1.1.4.4. Hạn chế của thuốc điều trị sa sút trí tuệ hiện nay
Sự suy giảm trí nhớ là hậu quả của sự gián đoạn dẫn truyền giữa các neuron
thần kinh trong các vùng não quan trọng đối với hệ thống bộ nhớ. Các phương pháp
điều trị hiện tại không có hiệu quả kéo dài tuổi thọ, chữa khỏi, hoặc tạm dừng hoặc
đảo ngược quá trình sinh lý bệnh. Hai nhóm thuốc chính đang sử dụng là thuốc ức chế
cholinesterase và thuốc tác dụng trên hệ glutamat dựa trên hai giả thuyết cơ chế bệnh
sinh của bệnh Alzheimer. Nhóm thuốc ức chế cholinesterase chỉ định cho trường hợp
bệnh nhẹ đến trung bình, ổn định nhận thức tạm thời, hoặc làm giảm rất nhỏ sự suy
giảm nhận thức, 20-30% bệnh nhân đã điều trị giảm được 7 điểm trong thang điểm
đánh giá nhận thức ADAS-Cog (tương đương giảm được 1 năm suy giảm nhận thức)

thuận với nồng độ ACh và AChE. Từ đó có thể định lượng được nồng độ ACh và hoạt
tính của AChE [15]. Hoặc có thể đánh giá khả năng ức chế hoạt tính của enzym AChE
ex vivo theo nguyên tắc của Ellman và cộng sự [26]: cơ chất acetylthiocholin iodid
(ATCI) bị thủy phân bởi AChE tạo thành thiocholin và acid acetic. Thiocholin thu
được cho phản ứng với thuốc thử Ellman (DTNB) tạo ra accid 5-thio-2-nitro benzoic
(RS) có màu vàng, có độ hấp thụ cực đại ở bước sóng 412 nm. Chuột sẽ bị giết và tách
vùng vỏ não để tiến hành định lượng hoạt tính enzym AChE theo phương pháp của tác
giả Ellman và cộng sự [26]. Có thể đánh giá khả năng ức chế hoạt tính của AChE in
vitro với nguyên tắc tiến hành theo phương pháp của Ellman và cộng sự [26] nhưng sử
dụng AChE có sẵn [5], [36], [15], [56].
Hệ thống tế bào, như các dòng tế bào thần kinh (NG 108-15) hoặc tế bào thần
kinh vỏ não được nuôi cấy nguyên phát cũng được sử dụng để đánh giá thuốc điều trị
Alzheimer, bằng cách gây độc các tế bào này bởi protein beta-amyloid hoặc glutamat,
sử dụng mẫu nghiên cứu để bảo vệ tế bào thần kinh đó, định lượng lượng tế bào sống
sót [34], [31], [32], [62]. Thuốc điều trị Alzheimer sẽ được sử dụng để ngăn chặn hoặc
làm giảm bớt độc tính của protein beta-amyloid hoặc glutamat trên tế bào thần kinh
NG 108-15 nuôi cấy, có khả năng phục hồi tổn thương hoặc làm tăng khả năng sống
sót của tế bào thần kinh.
Trên mô hình động vật, người ta sử dụng một số loại chuột chuyển gen mang
bệnh Alzheimer như chuột Tg2576, PSAPP (hiện nay đang được sử dụng trên thế
giới). Nghiên cứu trên mô hình động vật chuyển gen mang bệnh ở người là cần thiết để
hiểu rõ về cơ chế phân tử và thúc đẩy nghiên cứu tiền lâm sàng. Bệnh Alzheimer đã
được gây trên mô hình chuột chuyển gen thế hệ đầu tiên (Tg), trên chuột chuyển gen
này có sự biểu hiện quá mức của protein có liên quan đến bệnh Alzheimer có tính chất
gia đình, hoặc sử dụng mô hình chuột chuyển gen thế hệ thứ 2 là APP mang đột biến
protein tiền thân amyloid (APP), hoặc đột biến cả APP và presenilin (PS). Các chủng

11



Ilex kaushue S. Y. Hu). Tên Việt Nam là chè đắng, ché khôm (tên địa phương gọi theo
tiếng dân tộc Tày), khổ đinh trà [4]. Chi Ilex thuộc họ Nhựa ruồi hay họ Bùi hay Trâm
bùi (Aquifoliaceae, tên khác là Ilicaceae), bộ Celetrales phân lớp Rosidae (phân lớp
Hoa hồng), ngành Ngọc Lan.
1.2.1.2. Đặc điểm thực vật và phân bố của cây chè đắng

12


Cây thân gỗ, cao 6-20m, đường kính thân từ 20-60cm, cành thô, màu nâu xám,
không có lông, cành non hình trụ có nhiều gờ nhỏ. Lá đơn mọc cách, mép lá có răng
cưa nhỏ và tù. Phiến lá hình bầu dục đến thuôn hoặc hình mác ngược. Ở cây trưởng
thành lá thường dài 12-17cm, rộng 5-6cm. Mặt trên của lá màu lục sẫm và láng bóng,
mặt dưới màu lục nhạt, cả hai mặt đều không có lông. Lá vò trong tay có mùi thơm
mát, hơi hắc của tinh dầu. Hoa màu trắng ngà, đơn tính khác gốc.
Cây CĐ là loại cây mọc tự nhiên, phân bố tản mạn ở một số địa phương miền núi
phía bắc nước ta như Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hòa Bình, Ninh Bình, trong đó,
Cao Bằng là địa phương được xác định có 6/12 huyện có mật độ phát triển của cây CĐ
cao, chiếm 32% diện tích toàn tỉnh.

Hình 1.1: Hình ảnh cây chè đắng và búp chè đắng khô (Ilex kudingcha C. J. Tseng)
(Nguồn: Sở Khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Cao Bằng (2002), “Cây chè đắng giá trị kinh tế
và kỹ thuật trồng”, Tài liệu phổ khoa học kỹ thuật. Số 1 - 2002)

13


1.2.2. Thành phần hóa học
Theo 1 nghiên cứu về cây chè đắng ở Trung Quốc [39], thành phần hóa học chủ
yếu của chè đắng gồm các triterpenoid, các acid phenolic, các flavonoid và các tinh


14


1.2.3.2. Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về thành phần hóa học, độc tính, tác dụng trên thần kinh
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Diệu Anh (2009) [1] đã phân lập và xác định
được cấu trúc 4 saponin triterpenoid pentacyclic, 2 flavonoid. Đây là những hợp chất
saponin và flavonoid lần đầu được phân lập và xác định cấu trúc hóa học từ lá CĐ thu
hái tại Cao Bằng. Saponin CĐ và cao nước CĐ có độc tính cấp thấp và được xếp vào
loại chế phẩm không xác định được LD50. Về độc tính bán trường diễn, cả 2 chế phẩm
saponin và cao nước CĐ đều không ảnh hưởng đến chức năng gan, thận, tạo máu của
thỏ, tế bào gan, cầu thận và ống thận trong giới hạn bình thường. Saponin CĐ không
ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ quan sinh dục và khả năng thụ tinh của chuột cống
trắng đực. Đối với tác dụng tăng cường khả năng học tập và ghi nhớ: Saponin CĐ có
tác dụng rút ngắn 8,57% số ngày học tập phản xạ có điều kiện và kéo dài 69,14% thời
gian duy trì phản xạ đã học được so với lô chuột đối chứng.
Tác dụng chống oxy hóa, ức chế xơ gan, chống viêm cấp và mạn tính của chế phẩm
saponin toàn phần
Kết quả nghiên cứu cho thấy chế phẩm saponin toàn phần chiết xuất từ là CĐ có
các tác dụng sau: Saponin chè đắng có tác dụng ức chế xơ gan trên mô hình gây tổn
thương gan và xơ gan bằng CCl4, tác dụng chống oxy hóa, lợi mật, chống viêm cấp và
mạn [2].
Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Mai Huy (2003) [8] cho thấy flavonoid trong lá
chè đắng có tác dụng chống oxy hóa bảo vệ tế bào gan và não chuột do ức chế quá
trình POL rất rõ. Hoạt tính này tăng tỷ lệ thuận với nồng độ flavonoid. Flavonoid toàn
phần trong lá chè đắng cũng có hoạt tính thu dọn gốc tự do anion superoxide trong hệ
Xanthin/Xanthin oxidase, khả năng thu dọn gốc tự do cũng tăng tỷ lệ thuận với nồng
độ flavonoid toàn phần.
Tác dụng chống độc

thuộc vào liều lượng, liều càng cao tác dụng càng mạnh. Dịch chiết lá CĐ có tác dụng
làm hạ cholesterol máu, mức độ hạ cholesterol phụ thuộc vào liều lượng thuốc [46],
[45].
Tác dụng bảo vệ hệ mạch
Nhiều loài Ilex đã được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc để điều trị
các bệnh về động mạch vành. Cao nước của I. kudingcha làm tăng sự chảy của dòng
máu trong động mạch vành trên tim lợn cô lập và làm tăng dòng máu động mạch não
trên thỏ được gây mê, kéo dài thời gian sống sót của chuột trong tình trạng thiếu oxy
và bảo vệ chuột do thiếu máu cơ tim gây bởi pituitrin. Các tác dụng này có lợi trong
phòng ngừa và điều trị các bệnh mạch vành và đau thắt ngực [65].
Tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh
Kim và cộng sự đã báo cáo rằng CĐ bảo vệ tế bào thần kinh khỏi tổn thương
thần kinh do thiếu máu cục bộ thoáng qua ở chuột nhắt. CĐ làm giảm đáng kể
MCAO/tái tưới máu gây ra do phù nề, thiếu máu thần kinh và chết tế bào não. Sự suy
giảm glutathion và quá trình peroxy hóa lipid gây ra bởi MCAO/tái tưới máu đã được
ức chế khi dùng CĐ. CĐ làm ức chế đáng kể sự tăng phosphoryl hóa MAPKs, COX-2
và protein gây chết tế bào theo chương trình ở chuột. Tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh
khỏi tổn thương do thiếu máu cục bộ thoáng qua ở chuột của CĐ có thể do tác dụng
ngăn chặn sự chết tế bào, là kết quả của tác dụng chống oxy hóa và tác dụng chống
viêm của nó [30].

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status