Tác động của dự án tam nông đến tình trạng nghèo đa chiều của các hộ ở nông thôn tỉnh tuyên quang - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN ĐÌNH HỢP

TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN TAM NÔNG ĐẾN
TÌNH TRẠNG "NGHÈO ĐA CHIỀU" CỦA
CÁC HỘ Ở NÔNG THÔN TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh, năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN ĐÌNH HỢP

TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN TAM NÔNG ĐẾN
TÌNH TRẠNG "NGHÈO ĐA CHIỀU" CỦA
CÁC HỘ Ở NÔNG THÔN TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM KHÁNH NAM


Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Chương 1 - GIỚI THIỆU......................................................................................... 2
1.1 - Đặt vấn đề .................................................................................................... 2
1.2 - Dự án Hỗ trợ Tam nông tỉnh Tuyên Quang .................................................. 4
1.3 - Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu .................................................................... 6
1.4 - Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu .......................................... 7
1.5 - Ý nghĩa thực tiễn của luận văn ..................................................................... 7
1.6 - Cấu trúc của đề tài nghiên cứu ..................................................................... 8
Chương 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT ......................................................................... 10
2.1 - Lược khảo các lý thuyết nền tảng ............................................................... 10
2.2 - Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan ...................................... 26
Chương 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................... 34
3.1 - Khung phân tích chung: ............................................................................. 34
3.2 - Khung đo lường nghèo đa chiều ................................................................. 34
3.3 - Khung đo lường tác động dự án: ................................................................ 41
3.4 - Dữ liệu: ...................................................................................................... 51
Chương 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 59
4.1 - Tổng quan về dự án và địa bàn đánh giá..................................................... 59
4.2 - Kết quả chỉ số nghèo đa chiều của hộ ......................................................... 62
4.3 - Tác động dự án đến nghèo đa chiều............................................................ 68
Chương 5 - KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH ........................................... 84
5.1 - Kết luận và hàm ý chính sách ..................................................................... 84
5.2 - Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo ...................................................... 87
Danh mục tài liệu tham khảo
Các phụ lục


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

8.
MPIh
Multi-Dimension Poverty Index of a Household
Phương pháp bình phương nhỏ nhất
9.
OLS
Ordinary Least Squares Methodology
Viện nghiên cứu nghèo và sáng kiến phát triển con người Oxford.
10.
OPHI
Oxford Poverty and Human Development Initiative.
Phương pháp Kết nối điểm xu hướng
11.
PSM
Propensity Score Matching methodology
Hệ thống quản lý kết quả và tác động
12. RIMS
Results and Impact Management System
Dự án Hỗ trợ Tam Nông tỉnh Tuyên Quang
13. TNSP
"Tam Nông" Support Project in Tuyên Quang province
Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc
14. UNDP
United Nations Development Programme
Quỹ Nhi đồng của Liên hiệp quốc.
15. UNICEF
United Nations Children's Fund
Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam
16. VHLSS
Vietnam Household Living Standard Survey

Bảng 4.12 - Tác động của dự án đến chỉ số nghèo đa chiều của hộ ........................ 72
Bảng 4.13 - Kiểm tra tác động của dự án với các kỹ thuật và dữ liệu ..................... 74
Bảng 4.14 - Kiểm tra biến đại diện cho tác động của dự án trong ngắn hạn ........... 77
Bảng 4.15 - Tác động của dự án theo sở hữu diện tích đất canh tác ....................... 78
Bảng 4.16 - Tác động của dự án theo địa bàn các huyện ........................................ 79
Bảng 4.17 - Biến kiểm soát dùng trong hồi quy Probit tính điểm xu hướng ........... 80
Bảng 4.18 - Các biến kiểm soát dùng trong phương pháp DD................................ 82


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 - Quy trình chọn xã, thôn và hộ tham gia dự án TNSP............................... 5

Hình 2.1 - Ý tưởng của phương pháp đánh giá tác động. ....................................... 14
Hình 2.2 - Phản thực giả - So sánh giữa có tham gia và không tham gia. ............... 18
Hình 2.3 - Phản thực giả - So sánh giữa trước và sau can thiệp. ............................. 19
Hình 2.4 - Minh họa về vùng hỗ trợ chung mạnh. .................................................. 22
Hình 2.5 - Minh họa về vùng hỗ trợ chung yếu. ..................................................... 23
Hình 2.6 - Minh họa về tính tác động bằng Phương pháp DD. ............................... 24

Hình 3.1 - Khung phân tích đánh giá tác động Dự án............................................. 34
Hình 3.2 - Quy trình chọn mẫu khảo sát của dự án TNSP. ..................................... 51

Hình 4.1 - Mức thiếu hụt của từng chiều năm 2011 và 2014 ................................. 66
Hình 4.2 - Chỉ số nghèo đa chiều của hộ theo năm và theo huyện. ......................... 68
Hình 4.3 - Phân bố của điểm xu hướng trong phương pháp PSM........................... 73


1

ĐỀ TÀI

riêng các xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn.

Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã tạo được ấn tượng trên thế giới bởi
thành tựu về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có
nhiều tiến bộ đáng kể ở các lĩnh vực giáo dục và y tế. Theo đánh giá của WB (2012)
"Việt Nam đã đạt được và trong một số trường hợp thậm chí còn vượt các Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ". Trong vòng 20 năm kể từ 1993, Việt Nam đã hỗ trợ được
hơn 58% dân số thoát khỏi tình trạng nghèo (Phùng Đức Tùng và cộng sự, 2012).

Mặc dù có thành tích ấn tượng nhưng nhiệm vụ giảm nghèo của Việt Nam vẫn còn
phải tiếp tục lâu dài. Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức trong việc
duy trì kết quả đạt được, nguy cơ tái nghèo cao, đói nghèo và bất bình đẳng địa
phương vẫn còn tồn tại (WB, 2012). Vì vậy, tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với
việc tái phân bổ thu nhập hợp lý và giảm nghèo bền vững.

1

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khóa VII (1992) đề ra chủ trương xóa đói giảm nghèo trong chiến lược phát

triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân.


3

Theo Cling và cộng sự (2008, trang 2) "có một câu hỏi quan trọng là các chính sách
phát triển, đặc biệt là các chính sách xóa đói giảm nghèo có tác động gì, nhưng cho
tới nay các nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu nói chung thường không có nhiều
điều để nói và không có lời giải đáp mang tính khoa học cho câu hỏi đơn giản này".
Tác giả Khandker và cộng sự (2010, trang 21) cho rằng, xác định gần chính xác
được hiệu quả của một chính sách là một công việc khó khăn đặc biệt là trong bối

các đối tượng nhận can thiệp. Phương pháp hay sử dụng (và thường sai lầm) là so
sánh tình trạng trước và sau can thiệp, kết quả so sánh không thể coi là tác động
thực sự của chính sách hay dự án được. Sai lầm này là do: Thứ nhất, các dự án phát
triển thường có nhiều can thiệp để đạt được mục tiêu giảm nghèo. Thứ hai, địa bàn
mà dự án giảm nghèo nhắm đến là những nơi có nhiều hộ nghèo nên lựa chọn địa
điểm không phải là ngẫu nhiên. Thứ ba, tồn tại vấn đề hộ tự lựa chọn tham gia vào
các can thiệp nghĩa là những hộ có đặc điểm tương tự có thể tự chọn có tham gia
hay không, điều này có thể dẫn đến xác suất khác nhau về việc tham gia vào dự án.

Những nguyên nhân này là những thách thức lớn cho việc đánh giá các dự án phát
triển đa can thiệp và là lý do chính để giải thích tại sao các đánh giá tác động của
những dự án này rất ít3. Vì vậy cần phải sử dụng những công cụ kinh tế lượng phù
hợp để xác định gần đúng tác động dự án, nghiên cứu này sẽ lựa chọn phương pháp
PSM và DD làm công cụ đo lường.

1.2 - Dự án Hỗ trợ Tam nông tỉnh Tuyên Quang
Dự án TNSP hỗ trợ "nông nghiệp, nông dân và nông thôn" với tổng vốn 32.844.900
USD được triển khai từ 2011 đến 2016. Mục tiêu chính của Dự án là nâng cao
chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, đặc biệt tại
các khu vực khó khăn nhất của tỉnh Tuyên Quang (IFAD, 2010, trang 27). Đối
tượng hưởng lợi của TNSP là hộ nghèo, cận nghèo và dân tộc thiểu số, một trọng
tâm đặc biệt của dự án là tiếp cận các dân tộc thiểu số nghèo ở vùng sâu vùng xa và
vùng cao. (IFAD, 2010, trang 11). Đối với tỉnh Tuyên Quang, dự án TNSP còn
được lồng ghép vào Chương trình Xây dựng Nông thôn mới.
3

Theo Cling and et al (2008, p.3), Cơ quan phát triển Pháp AFD từ khi thành lập đến nay [2008] mới chỉ thực hiện 4

nghiên cứu nghiêm khắc về đánh giá tác động, con số này thật ít ỏi. Ngay cả WB có riêng một cơ quan đánh giá nội bộ
(GEI) cũng không tiến hành đánh giá một cách nghiêm khắc các chính sách cho tới gần đây. Tại sao lại có ít đánh giá tác

Trong các xã và thôn đã được chọn, hộ hưởng lợi không được chọn ngẫu nhiên mà
họ tự lựa chọn tham gia vào các can thiệp dự án, vì vậy lựa chọn thiên lệch là vấn
đề lớn trong đánh giá tác động dự án. Vì thiết kế "lựa chọn ngẫu nhiên" không khả
thi nên nghiên cứu này sẽ sử dụng các phương pháp "thí nghiệm tự nhiên" là PSM
và DD để kiểm soát tính không đổi theo thời gian, các đặc điểm quan sát được và
không quan sát được để điều chỉnh các sai lệch lựa chọn, (Smith and Todd, 2005).
Các phương pháp PSM và DD sẽ sử dụng chỉ số nghèo đa chiều của hộ MPIh để
đánh giá tác động của dự án đến các hộ gia đình nghèo ở tỉnh Tuyên Quang.

1.3 - Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là: Đánh giá mức độ tác động đến tình
trạng nghèo đa chiều của các hộ ở dự án phát triển nông thôn với nhiều can
thiệp sau 2 năm thực hiện ở tỉnh Tuyên Quang.

Nghiên cứu này có 2 mục tiêu cụ thể là:
(i)

Đo lường chỉ số nghèo đa chiều của hộ gia đình tham gia Dự án TNSP;

(ii) Xác định tác động của Dự án TNSP đến chỉ số nghèo đa chiều của hộ;

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài này tập trung vào trả lời các câu
hỏi nghiên cứu sau đây:
(i)

Chỉ số nghèo đa chiều của hộ MPIh được tính toán như thế nào khi áp
dụng phương pháp Alkire - Foster và dữ liệu RIMS của dự án TNSP?

(ii) Sự thay đổi trong chỉ số nghèo đa chiều của các hộ MPIh trước và sau
khi có can thiệp của dự án tính toán theo PSM và DD như thế nào?

dụng những khái niệm tổng hợp, chứa đựng nhiều thông tin. Nghiên cứu này mong
muốn cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm mới về các tác động đến tình trạng
nghèo đa chiều của hộ gia đình của một dự án phát triển nông thôn với tính chất đa


8

can thiệp, chọn địa điểm không ngẫu nhiên và hộ tự lựa chọn tham gia.

Phương pháp và kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng cho đánh giá tác động của
nhiều dự án phát triển khác nhằm trả lời câu hỏi thực tiễn mà các nhà quản lý và
hoạch định chính sách cần là "Dự án có mang lại tác động tích cực cho các đối
tưởng hưởng lợi dự án hay không". Hơn nữa, kết quả nghiên cứu có thể đóng góp
để điều chỉnh thiết kế và triển khai các dự án phát triển nông thôn, đặc biệt nghiên
cứu này chia sẻ kinh nghiệm và kỹ thuật về lựa chọn chỉ tiêu, dữ liệu, công cụ để
tiến hành các khảo sát và đánh giá tác động cho những dự án tương tự.

1.6 - Cấu trúc của đề tài nghiên cứu
Đề tài này cố gắng trình bày các vấn đề theo cấu trúc của đề tài nghiên cứu gồm 5
chương với các nội dung như sau: "Chương 1 - Giới thiệu" cung cấp những thông
tin ngắn gọn về vấn đề cần nghiên cứu, trình bày mục tiêu, đối tượng và phương
pháp nghiên cứu. "Chương 2 - Cơ sở lý thuyết" trình bày về lý thuyết nền tảng về
nghèo đa chiều, phương pháp đánh giá tác động dự án, lược khảo các nghiên cứu
thực nghiệm liên quan để từ đó xây dựng giả thuyết nghiên cứu. "Chương 3 Phương pháp nghiên cứu" trình bày về khung đo lường nghèo đói và đánh giá tác
động, phương pháp đánh giá bằng PSM và DD, dữ liệu sử dụng cho đề tài này;
"Chương 4 - Kết quả nghiên cứu" trình bày kết quả và bàn luận về các phát hiện
liên quan đến kết quả chính; "Chương 5 - Kết luận và hàm ý chính sách" trình bày
những kết luận, các hàm ý chính sách liên quan đến nghiên cứu, những hạn chế và
hướng nghiên cứu tiếp theo. Phần cuối cùng là các phụ lục đính kèm.


Á-Thái Bình Dương đưa ra năm 1993 tại Bangkok như sau: "Nghèo là tình trạng
một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con
người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển
kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương". Quan niệm về nghèo như trên
xuất phát từ việc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, học
hành, chữa bệnh..., sự thiếu hụt một hoặc một số các nhu cầu đó được coi là nghèo.

2.1.1.2 - Nghèo đơn chiều
Nghèo đơn chiều là phương pháp tiếp cận truyền thống được giới thiệu từ năm
1980. Sở dĩ gọi là nghèo đơn chiều vì cách tiếp cận này chỉ tập trung vào chi tiêu
hoặc thu nhập bằng tiền (moneymetric) mà bỏ qua các khía cạnh khác của nghèo
đói. Thu nhập hay chi tiêu của cá nhân hoặc hộ gia đình sẽ được so sánh với chuẩn
nghèo và họ được xem là nghèo nếu có thu nhập hay chi tiêu dưới chuẩn nghèo
(Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 127)


11

Hai chuẩn nghèo quan trọng là chuẩn nghèo quốc tế và quốc gia. Theo WB (2008),
chuẩn nghèo quốc tế là 1.25 USD/người/ngày xác định năm 2008. Chuẩn nghèo
Việt Nam giai đoạn 2011-2015 là 400 ngàn và 500 ngàn đồng/người/tháng tương
ứng cho khu vực nông thôn và thành thị (theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg).

2.1.1.3 - Nghèo đa chiều
Theo UNDP (2009, trang 31), khái niệm nghèo đa chiều là sự mở rộng của khái
nghèo đơn chiều. Khái niệm nghèo đa chiều xác định rõ nghèo đói không hẳn chỉ là
đói ăn, thiếu uống, hoặc thiếu các điều kiện sống khác mà nghèo đói còn được gây
ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn không cho cá nhân hoặc
cộng đồng được tiếp cận với các nguồn lực làm cho họ không biết và không thể tìm
được cách để thoát ra khỏi tình trạng nghèo.


Không có thành viên nào của hộ hoàn tất
5 năm đi học
Có bất kỳ trẻ em nào ở tuổi đi học mà
không đến trường từ lớp 1 đến lớp 8

3. Tử vong ở trẻ em

Có bất kỳ trẻ em nào trong hộ bị chết

4. Dinh dưỡng

Có bất kỳ người lớn hay trẻ em nào bị suy
dinh dưỡng

5. Điện

Hộ gia đình không có điện

Y tế

6. Vệ sinh
7. Nước sạch
Mức
sống

Ngưỡng nghèo

8. Sàn nhà


1/18 hay
5.6%
1/18 hay
5.6%
1/18 hay
5.6%

Nguồn: theo Alkire and Santos (2011)

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2013, trang 132), khái niệm nghèo đa chiều có nhiều ưu
điểm hơn so với các công cụ đo lường nghèo trước đây ở các điểm sau:
 Phản ánh toàn diện những thiếu hụt ảnh hưởng đến cuộc sống của một người
trong một thời điểm;
 Chỉ ra những người nào nghèo và dễ bị tổn thương nhất, cần nhận được sự
hỗ trợ nhiều nhất;
 Cho biết những chỉ tiêu nào mà người dân ở mỗi vùng hay mỗi nhóm dân cư
bị thiếu hụt nhất;


13

 Có chính sách phân bổ nguồn lực hợp lý cho từng vùng hay từng nhóm dân
cư. Phản ánh rõ hơn hiệu quả can thiệp chính sách do đó giúp các nhà làm
chính sách có những điều chỉnh chính sách kịp thời;
 Chỉ tiêu đo lường MPI không cứng nhắc mà có thể thay đổi cho phù hợp với
đặc điểm của từng vùng nghiên cứu.
Để xác định một hộ gia đình có nghèo đa chiều hay không, một ngưỡng nghèo được
quy định là 33.3%. Khi điểm thiếu hụt tổng của một hộ gia đình ≥ 33.3% thì hộ gia
đình đó (bao gồm tất cả các thành viên trong hộ) được xác định là thuộc diện nghèo
đa chiều. Hộ gia đình có điểm thiếu hụt ≥ 20% nhưng ≤ 33.3% được xem là hộ dễ

được đề xuất bởi Alkire and Foster (2008), sử dụng cách lựa chọn chiều và chỉ số
con để đo lường gần giống như phương pháp gốc. Do MPI là chỉ số dùng để đo
lường cho một vùng (thôn, xã, huyện, tỉnh hay quốc gia) nhưng nghiên cứu này cần
chỉ số đo lường ở cấp hộ, vì vậy để nắm bắt khía cạnh đa chiều của nghèo đói ở hộ
gia đình, nghiên cứu đề xuất sử dụng "Điểm thiếu hụt của hộ gia đình" hay "Chỉ số
nghèo đa chiều của hộ" (ký hiệu là c trong công thức 2.1).


14

2.1.2 - Đánh giá tác động của chính sách công
2.1.2.1 - Cách tiếp cận
Đánh giá tác động của các chính sách với mục tiêu chính là thông tin để đưa ra
quyết định, "Lĩnh vực nghiên cứu này đặt ra những thách thức to lớn về phương
pháp luận mà hiện vẫn chưa hoàn toàn vượt qua được" (Cling và cộng sự, 2008,
trang 1). Đánh giá tác động của một chính sách là so sánh kết quả của những người
tham gia dưới tác động của chính sách với kết quả "đã có thể xảy ra" của chính
những người tham gia này nếu không có chính sách. Kết quả của tình huống "đã có
thể xảy ra" này gọi là tình huống phản thực (counterfactual) trình bày ở Hình 2.1.

Tình huống: Gọi (Yi | T=1) năng suất trung bình của hộ i có tham gia tập huấn về
khuyến nông và (Yi | T=0) là năng suất trung bình cũng của cùng hộ i đó khi hộ này
không được tập huấn về khuyến nông. Chúng ta quan tâm đến (Yi | T=1 - Yi | T=0),
nếu đo lường được thì đó là tác động của việc tập huấn khuyến nông với hộ i. Điều
khó nhất ở đây là sẽ không bao giờ có một hộ vừa có lại vừa không tham gia tập
huấn cùng một lúc. Hiệu quả của tập huấn không thể tính cho một hộ, mà thay vào
đó cần phải xây dựng tình huống phản thực để tính toán hiệu quả tập huấn trung
bình của các hộ trong một mẫu khảo sát chọn từ tổng thể là E [Yi | T=1 - Yi | T=0].

Hình 2.1 - Ý tưởng của phương pháp đánh giá tác động.

+ Yi | T = 0: biến kết quả của hộ gia đình thứ i khi chính hộ i không tham gia

Do vấn đề lựa chọn đối tượng nhận can thiệp của chính sách đã được thiết kế sẵn và
sự tự lựa chọn của cá nhận nên nhóm tham gia và nhóm không tham gia chương
trình có thể có những khác biệt hệ thống, do đó Hiệu quả can thiệp trung bình
(ATE) có thể phản ánh không chính xác tác động của chính sách. Để đánh giá tác
động của chính sách đối với những người có tham gia, ta cần phải tính toán sự khác
biệt trong kết quả của những đối tượng tham gia với với chính đối tượng đó nếu
không tham gia (xem Hình 2.1). Điều này dẫn đến phải xác định được tình huống
phản thực càng chính xác càng tốt.
Đặt Y0i | T =1 là kết quả của hộ gia đình i nếu như họ không tham gia chương trình,
nhưng thực tế họ đã tham gia, khi đó Y0i | T =1 gọi là "tình huống phản thực" của hộ
gia đình i. Thêm bớt cùng 1 lượng vào công thức (2.3) và tách thành 2 nhóm, ta có:
D = E(Yi | T=1) - E(Y0i | T=1) + E(Y0i | T=1) - E(Yi | Ti=0)

(2.4)

Khi đó:
+ E(Yi | T=1) - E(Y0i | T=1): là tác động trung bình của những hộ tham gia ATT, so sánh
với chính họ khi không tham gia.
+ E(Y0i | T=1) - E(Yi | T=0): là tác động của lựa chọn mẫu lên tác động trung bình D. Đó
là sự khác biệt về kết quả của những hộ nếu họ không tham gia nhưng thực tế họ đã tham
gia với kết quả của những hộ không tham gia.


16

D = ATT + ε

(2.5)


17

quan trọng trong đánh giá tác động chính sách. "Mặc dù tác động của chương trình
chỉ có thể thực sự được đánh giá bằng cách so sánh các kết quả thực tế và phản
thực, trong khi tình huống phản thực là không thể quan sát được trong thực tế. Như
vậy, khó khăn trong đánh giá tác động là làm sao tạo ra được một nhóm đối chứng
thuyết phục và hợp lý cho đối tượng thụ hưởng do thiếu dữ liệu này" (Khandker và
cộng sự, 2010, trang 41). Về mặt lý thuyết, ta cần so sánh xem kết quả của cùng
một đối tượng vừa nhận can thiệp lại vừa không nhận can thiệp. Nhưng ta không thể
làm được điều này vì ở một thời điểm nào đó, một đối tượng chỉ có thể nhận can
thiệp hoặc không nhận can thiệp, không thể có tình huống một đối tượng lại vừa
nhận vừa không nhận can thiệp.
Theo công thức (2.5), để tính toán được tác động ATT = E(Yi | T=1) - E(Y0i |
T=1), ta phải tính được kết quả phản thực E(Y0i | T=1) và hơn nữa độ chính xác của
tác động phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác của phản thực E(Y0i | T=1). Vì vậy
với các nghiên cứu kinh tế, cần phải có cách thiết kế nghiên cứu hợp lý để tính toán
gần đúng nhất "kết quả phản thực".

Để xây dựng tình huống phản thực, người ta hay sử dụng 2 phương pháp (thường là
sai lầm) sau: So sánh giữa có và không tham gia hoặc so sánh giữa trước và sau khi
có can thiệp.
(a) - Tình huống phản thực giả: So sánh giữa có tham gia và không tham gia
Trong Hình 2.2, gọi Y4 là kết quả của người tham gia và Y3 kết quả của người
không tham gia ở thời điểm sau khi có can thiệp, hiệu Y4 – Y3 sẽ cho biết tác động
của chính sách. Liệu đây có phải là ước tính chính xác về hiệu quả chương trình
không? Nếu chưa biết được vì sao một số hộ gia đình tham gia trong khi những hộ
khác không tham gia chương trình thì kết quả trên có thể không chính xác. Nếu
không đủ thông tin, ta không thể biết được liệu Y3 có phải là kết quả phản thực
chính xác hay không (Khandker và cộng sự, 2010, trang 41).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status