TIỂU LUẬN tác ĐỘNG của các vấn đề TOÀN cầu đến VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

1

SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC
VẤN ĐỀ TOÀN CẦU ĐẾN VIỆT NAM HIỆN NAY

Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan. Nhận thức đúng đắn bản chất,
nguyên nhân, sự tác động của toàn cầu hoá kinh tế và những vấn đề mang tính toàn
cầu hiện nay đối với nước ta có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định đường
lối, chủ chương, chính sách và giải pháp để phát để phát huy nội lực, chủ động hội
nhập kinh tế thế giới và khu vực tham gia giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu
nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Toàn cầu hoá hiện nay trước hết và thực chất là toàn cầu hoá kinh tế, là sự
nối tiếp của quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế, xã hội thế giới đã diễn ra từ
nhiều thập kỷ trước, nó phát triển dồn dập trong hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ
XX, và sẽ tiếp tục phát triển ở giai đoạn cao của thế kỷ XXI. Do vậy, toàn cầu
hoá kinh tế là một xu thế tất yếu khách quan của lịch sử. Nó không tuỳ thuộc
vào ý muốn chủ quan của bất cứ một tập đoàn, một quốc gia hay một liên minh
nào. Đã là xu thế khách quan nó không loại trừ bất cứ một ai muốn tham gia hay
không muốn tham gia. Tất cả đều bị cuốn hút vào quá trình đó trên mọi lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…Quốc gia nào tham gia đã đành, quốc gia
khác không tham gia hoặc bị gạt ra ngoài lề toàn cầu hoá cũng không thể nói là
không chịu ảnh hưởng và bị chi phối gì bởi cơn lốc toàn cầu hoá.
Là xu thế khách quan bởi toàn cầu hoá kinh tế có tác động nhân quả đối
với sự vận động của phương thức sản xuất, là một quá trình xã hội hoá ngày
càng rộng lớn, ngày càng sâu sắc sự phát triển của lực lượng sản xuất và của
quan hệ sản xuất cùng với tác động biện chứng giữa hai mặt này ở phạm vi toàn
cầu. Cho nên, không thể nói rằng toàn cầu hoá chỉ diễn ra do yêu cầu xã hội hoá
ngày càng cao của lực lượng sản xuất mà không gắn gì đến sự vận động khách
quan của quan hệ sản xuất. Chính do yêu cầu phát triển lớn mạnh của lực lượng
sản xuất trong phạm vi toàn cầu mà đòi hỏi một cách tất yếu khách quan là trên

những tạo điều kiện cho các nước đang phát triển có thể huy động dược những
nguồn đầu tư nước ngoài như vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý để phát
triển kinh tế, xã hội. Đồng thời trong quá trình đó còn sử dụng những nguồn lực


3
trong nước có hiệu quả hơn, trong đó có nguồn lực lao động. Do đó, nó mở ra khả
năng cho các nước đang phát triển như Việt Nam, rút kinh nghiệm trong việc tham
gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế để thúc đẩy nhanh chóng cơ cấu kinh
tế, xã hội. Toàn cầu hoá kinh tế còn tại cơ hội cho Việt Nam hội nhập vào các tổ
chức kinh tế toàn cầu và khu vực, được hưởng những ưu đãi về thuế quan, hàng
hoá, có thể tiếp cận được thị trường…
Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng có những mặt trái của nó. Việt nam tham
gia quá trình toàn cầu hoá buộc phải mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá
thương mại…chấp nhận việc cạnh tranh quốc tế, đặt nước ta trước những thử
thách nghiêm trọng và cái giá phải trả cũng không phải là nhỏ nếu như chiến
lược phát triển, chính sách, bước đi không phù hợp. Rõ ràng, trong cuộc cạnh
tranh toàn cầu theo những luật chơi mới do các nước tư bản phát triển sắp đặt,
thì các nước đang phát triển đang ở vào thế bất lợi. Tuy nói bình đẳng trong luật
chơi nhưng không bao giờ có sự bình đẳng về năng lực vốn, công nghệ cùng với
vị thế từng quốc gia, do có sự bất bình đẳng rất lớn trong việc tiếp cận các cơ
hội, tiếp thị thị trường thế giới. Nó sẽ gia tăng thêm sự phân hoá giàu nghèo giữa
các nước gay gắt, các doanh nghiệp trong nước dễ bị phá sản, các nước chậm
phát triển có nguy cơ tụt hậu…
Tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đối với
đời sống chính trị - xã hội thế giới.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh,
với trình độ ngày càng cao trong thế kỷ XXI. Bước tiến phi thường của cuộc
cách mạng này đánh dấu đỉnh cao mới của sự phát triển trí tuệ loài người, tác
động sâu sắc đối với cuộc sống của các dân tộc trên thế giới. Tác động của cuộc

triển việc nghiên cứu, triển khai, ứng dụng; nó có giá trị chiến lược ở tầm cao
của một quốc gia; là sản phẩm được đổi mới nhanh chóng, thúc đẩy năng lực
cạnh tranh và hợp tác quốc tế trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Xu thế này
phát triển trong vài thập kỷ lại đây và nó chi phối các hoạt động kinh tế, xã hội
đến thế kỷ XXI. Các nước phát triển, nhất là các siêu cường công nghệ cạnh
tranh nhau tăng nhanh tỷ trọng các sản phẩm công nghệ cao nhằm chiếm lĩnh lợi
thế trên thị trường thế giới. Quan điểm của Đảng ta về vấn đề khoa học công
nghệ là nhanh chóng ứng dụng thành tựu mới của khoa học công nghệ vào đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đầu tư nghiên cứu phát triển khoa


5
học công nghệ. Trong văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Đẩy
mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, tạo bước đột
phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực của
nền kinh tế. Tăng nhanh năng lực khoa học và công nghệ nội sinh đi đôi với
tăng cường tiếp thu, làm chủ, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ”.1
Trong các sản phẩm công nghệ cao, trước hết phải kể đến công nghệ
thông tin. Công nghệ thông tin có vai trò quan trọng hàng đầu trong thời đại hiện
nay.Vai trò đặc biệt đó bắt đầu từ chức năng cơ bản của công nghệ thông tin là
thu thập, xử lý, lưu trữ, truyền tải, truy cập, phân phối thông tin bằng các
phương tiện máy móc tự động hoá tinh vi, cực nhanh, cực chính xác. Nhờ các
phương tiện hiện đại của công nghệ thông tin như mạng internet, mạng viễn
thông toàn cầu, các mạng cáp quang dày đặc xuyên đại dương, các trạm chuyển
mạch, kết nối các siêu lộ thông tin…mà xuất hiện khả năng liên kết gia đình,
công ty, xí nghiệp, quốc gia, quốc tế thành một mạng lưới thống nhất. Thông
qua hệ thống này, nhiều sự kiện xảy ra trên thế giới tác động nhanh chóng và
trực tiếp đến hành vi ứng xử của mỗi cá nhân, đến sự lựa chọn chính sách - giải
pháp phát triển của một khu vực, một quốc gia. Mạng lưới thông tin toàn cầu
đang đẩy nhanh tốc độ vận động của các quá trình kinh tế - chính trị - xã hội quân sự - văn hoá…đang đóng vai trò là công cụ, là phương thức hoạt động

mở rộng thương mại không phải lúc nào cũng đồng nhất với có việc làm nhiều
hơn và tiền công cao hơn. Sự phân hoá giàu nghèo, không an toàn việc làm và
thu nhập không chỉ diễn ra ở các nước chậm phát triển, mà còn ở ngay cả những
nước phát triển. Tại các nước công nghiệp phát triển (OECD), tỷ lệ người thất
nghiệp không giảm, vẫn ở mức 7%, Liên minh châu Âu EU là 11%. Ở các nước
Nhật, Mỹ, Na Uy, có khoảng 35 triệu người thất nghiệp trong đó thanh niên có
một triệu người không có việc làm.
Khoảng cách về thu nhập giữa người giàu và người nghèo tiếp tục mở
rộng. Năm 1960, 20% dân số giàu nhất thế giới có mức thu nhập gấp 50 lần so
với dân số nghèo nhất thế giới, đến năm1997 tỷ lệ này là 70 lần khoảng cách về
thu nhập cũng tiếp tục gia tăng giữa các quốc gia và trong lòng mỗi quốc gia.
Các nền kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Âu và SNG, tình trạng phân hoá giàu
nghèo đang ở mức báo động. Tại Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia có hơn một nửa số hộ
có bố hoặc mẹ nuôi con một mình có thu nhập dưới mức nghèo khổ. Đối nghịch
với tình cảnh này là sự tập trung của cải vào trong tay những người đặc biệt giàu
có, giá trị ròng của 200 người giàu nhất thế giới đã tăng lên: 1.000 tỷ USD chỉ


7
trong vòng 4 năm (1994 – 1998), vào năm 1998 tài sản của 3 người giàu nhất
thế giới lớn hơn GNP của 48 quốc gia kém phát triển. Theo báo cáo của Chương
trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), toàn thế giới vẫn còn hơn 1,2 tỉ người
nghèo (thu nhập mỗi ngày không tới 1USD). Trong số 4,4 tỷ người ở các nước
đang phát triển, gần 3/5 sống thiếu các phương tiện vệ sinh cơ bản, gần 1/3 thiếu
nước, không có nhà ở và 1/5 không có dịch vụ y tế. Theo tổng kết của UNDP, từ
khi diễn ra quá trình toàn cầu hoá đến nay, trên thế giới có 10 nước giàu lên, 130
nước nghèo đi, trong đó có 60 nước GDP bình quân đầu người thấp hơn trước
khi tham gia toàn cầu. Còn theo báo cáo của ngân hàng thế giới, có nhiều nước
nghèo (với khoảng 2 tỷ dân) đã bị gạt ra ngoài rìa tiến trình toàn cầu hoá. Nhiều
nước đang nằm ở ngoài lề của nền kinh tế thế giới, và thường có thu nhập giảm

do hoá thương mại, song trên thực tế hàng hoá của các nước đang phát triển vẫn
khó thâm nhập vào thị trường các nước phát triển.
Tình trạng phân hoá giàu nghèo đang dẫn đến những căng thẳng và xung
đột xã hội làm cho ngày càng mất an ninh hơn, làn sóng chống toàn cầu hoá phát
triển rộng khắp ở mọi nơi. Giải quyết vấn đề trên phải có sự tham gia của các
quốc gia, của cả cộng đồng thế giới, không chỉ trong từng quốc gia hay từng khu
vực, đây cũng là một thách thức lớn đối với nước ta.
Sự xâm nhập, tác động chi phối lẫn nhau giữa các nền văn hoá ngày càng
gia tăng trên phạm vi toàn cầu.
Cùng với tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, thông qua các phương tiện thông
tin, xuất bản các ấn phẩm văn hoá, hoạt động giao lưu văn hoá, trong những thập
kỷ gần đây sự giao thoa các giá trị văn hoá giữa các dân tộc trên thế giới ngày
càng tăng, tạo điều kiện hiện đại hoá, làm phong phú thêm nền văn hoá dân tộc.
Điều đáng lo ngại hiện nay là quá trình giao giao lưu văn hoá và các sản
phẩm văn hoá đang bị mất cân bằng, bất bình đẳng bởi sự khống chế, thao túng của
các nước giàu (đặc biệt là Mỹ), luồng giao lưu văn hoá từ các nước giàu xuất khẩu
vào những nước nghèo, thách thức việc duy trì và phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc, đây là mặt trái của sự xâm nhập các nền văn hoá trên toàn cầu.
Nhiều sản phẩm văn hoá trở thành hàng hoá, kim ngạch buôn bán các sản
phẩm văn hoá tăng khoảng 3 lần từ năm 1980 đến năm 1990 (từ 67 tỷ USD lên
200 tỷ USD) và tiếp tục tăng trong những năm gần đây. Mỹ xuất khẩu ra thế


9
giới không chỉ là máy bay, máy tính, mà còn là những sản phẩm của ngành công
nghiệp giải trí, phim ảnh, các chương trình truyền hình…Chỉ tính riêng năm
1997, Hollywood đã thu được 30 tỷ USD nhờ xuất khẩu phim ảnh…Phương tiện
truyền tải và kinh doanh những hàng hoá này là thành tựu của công nghệ thông tin
mới (vệ tinh, Internet…), sự phát triển của công nghiệp truyền thông đa phương
diện đã góp phần thúc đẩy nhanh và mạnh sự giao lưu văn hoá trên toàn cầu.

nhiều quốc gia trên phạm vi toàn cầu.
Lợi dụng những vấn đề mang tính toàn cầu, các thế lực phản động, các
băng nhóm tội phạm gia tăng hoạt động tội phạm và khủng bố. Sự bất ổn về
cuộc sống, sự nhiễu loạn thông tin và những xáo trộn về chuẩn mực giá trị đạo
đức đang là vấn đề mang tính toàn cầu, đặt ra trước cộng đồng quốc tế những
thách thức mới cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa các quốc gia, các tổ
chức quốc tế, khu vực để ngăn chặn vì lợi ích chung của nhân loại.
Bước vào năm đầu của thế kỷ mới, loài người đã phải chứng kiến ngay
cuộc tập kích vào Trung tâm thương mại thế giới ở Niu Oóc và Lầu Năm Góc ở
Oasinhtơn ngày 11 - 9 - 2001. Sự kiện này đã làm chấn động cả thế giới và làm
bàng hoàng khắp hành tinh chúng ta. Đây là hành động khủng bố hết sức dã man
và tàn khốc, là sự tiếp tục ở mức độ cao những cuộc khủng bố diễn ra liên tiếp
diễn ra từ hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX, chắc chắn những thập kỷ tới, chủ
nghĩa khủng bố sẽ còn tiếp tục gây ra nhiều tai hoạ cho cả loài người. Đương
nhiên, không ai có thể chấp nhận cho hành động bạo lực điên rồ này.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 200 triệu người nghiện ma tuý. Ma tuý len
lỏi đến các vùng xa xôi, đến trường học và trẻ em, đe doạ môi trường an ninh ở
khắp nơi. Trong thập kỷ 90 mặc dù các quốc gia đã hợp tác phòng chống tội phạm
ma tuý, đã có nhiều chiến dịch lớn để phá huỷ các cánh đồng trồng thuốc phiện và
côca ở Tam giác vàng, ở Thái Lan, Mianma Lào, Ápgnittăng, Côlômbia…song
việc sản xuất thuốc phiện trên thế giới vẫn tăng gấp ba lần, việc chế biến côca tăng
gấp hai lần. Thuốc phiện, côca đang là nguồn lợi khổng lồ của các băng nhóm tội
phạm xuyên quốc gia. Buôn bán ma tuý bất hợp pháp trong thị trường ngầm thế
giới, có thời gian lớn hơn thị phần của thép hoặc ô tô, gần bằng thị phần của dầu
mỏ và hàng dệt may (Năm 1995 buôn bán ma tuý bất hợp pháp khoảng 4. 000 tỷ
USD, chiếm 8% thương mại thế giới).
2

ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, Nxb CTQG, H. tr. 213.


trong một thời điểm hiểm nghèo mà tai họa về cuộc khủng hoảng sinh thái toàn
cầu đang là một trong những hiểm họa của cả hành tinh chúng ta trong thiên


12
niên kỷ mới. Hành tinh của chúng ta, đó là không gian của sự sống và hoạt
động của con người, là trường lịch sử, là lĩnh vực những thành quả và những sai
lầm, những thắng lợi và những bi kịch.
Con người là một bộ phận của giới tự nhiên - bộ phận sinh sau đẻ muộn, ở
một trong thể thống nhất hữu cơ với tự nhiên. Phá vỡ sự thống nhất ấy tức là phá
vỡ quy luật khách quan, tạo ra sự mất cân bằng trong mối quan hệ biện chứng giữa
tự nhiên và con người. Đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen nói: Sự sản xuất ra đời
sống … biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên,
mặt khác là quan hệ xã hội sự đồng nhất giữa tự nhiên và con người cùng biểu hiện
ở chỗ là quan hệ hạn chế của con người với tự nhiên quyết định quan hệ hạn chế
của con người với nhau, và quan hệ hạn chế của con người với nhau, lại quyết định
quan hệ hạn chế của con người với tự nhiên.
Đã từ lâu, con người tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên, khai thác một
cách không thương tiếc từ tự nhiên tất cả các nguồn vật chất, sử dụng bừa bãi,
vô tội vạ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, do đó, đã dẫn đến tình trạng cạn kiệt
dần về số lượng và suy giảm nghiêm trọng về chất lượng. Nhất là khi phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh trong gần một thế kỷ nay, thì
thảm hoạ này càng treo lơ lửng, cận kề. Đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
cuộc khủng hoảng toàn cầu về vấn đề môi trường sinh thái.
Những tài nguyên không tái sinh như: dầu lửa, khí đốt, than đá…là những
nguồn năng lượng không phải là vô tận. Nếu sử dụng bừa bãi, lãng phí thì có lúc
sẽ cạn kiệt, không còn nữa. Trên thực tế, tốc độ công nghiệp hoá ngày càng tăng
cường nhanh chóng gần gấp ba lần kể từ giữa thế kỷ XX cho đến nay, và đã
được mở rộng đến nhiều vùng đất trên địa cầu, cứ với đà này thì dự trữ lượng
dầu lửa chỉ đủ cung cấp cho nhu cầu năng lượng trên thế giới trong vòng 43 năm

tấn lớp đất bề mặt của những vùng đất đang sử dụng, làm mất đi khoảng 21 triệu
tấn đất phì nhiêu. Rừng bị phá huỷ còn làm tăng thêm hàm lượng CO 2 trong khí
quyển – một trong những chất khí quan trọng nhất gây lên “ hiệu ứng nhà kính”,
làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.
Nước là nguồn sống của con người và mọi sinh vật. Nước không phải là
vô hạn, cho nên con người sử dụng nước cũng phải có hạn. Quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tiến hành từ trước tới
nay đã tác động xấu đến khối lượng và chất lượng nước trên toàn trái đất. Mặt
khác, một phần do dân số thế giới tăng quá nhanh nên nhu cầu về nước cũng
4

Tạp chí thông tin môi trường, số4, 1995, tr.1.


14
tăng lên quá lớn, nhất là nhu cầu phát triển nông nghiệp và công nghiệp, hầu như
mỗi thành phố trong thế giới đang phát triển. Sự kết hợp giữa dân số quá đông
với các bước đi công nghiệp hoá không thận trọng, với những công trình, xí
nghiệp thiếu cống rãnh hay thiết bị làm sạch chất thải, đã tiêu huỷ gần hết các
nguồn nước sạch nguyên sinh.
Một hiểm họa nữa của nạn ô nhiễm môi trường không khí là hiện tượng
“hiệu ứng nhà kính”. Trái đất của chúng ta là một hệ đóng, không có vật chất
nào thoát ra khỏi trái đất, trừ bức xạ của mặt rời. Ở đây, chỉ có các quá trình,
trong đó vật chất biến đổi từ dạng này sang dạng khác. Nếu như hệ đóng này
vận hành một cách bình thường thì quá trình biến đổi cuối cùng tất yếu phải tạo
ra một chu trình khép kín, trong đó vật chất trở lại trạng thái nguyên thuỷ của
nó, những nguồn mới sẽ trở thành những chất có ích bị bỏ phí đi và hệ sinh thái
lại hấp thu lấy để trở thành nguyên liệu sau này. Khi vận hành một cách tự nhiên
nó sẽ là chu trình tự duy trì hợp quy luật và rất có ích cho sự sống. Để sự sống trên
trái đất có thể duy trì và phát triển được một cách bình thường, cần phải có sự cân

các nước đang phát triển nên có người gọi đây là nạn dịch của người nghèo.
HIV thường đi liền với đói nghèo và tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma tuý, mại
dâm… và đại dịch SARS (viêm đường hô hấp cấp) khởi phát từ Trung Quốc đã
gây ra tác hại nghiêm trọng.
Tác động của toàn cầu hoá kinh tế và các vấn đề toàn cầu đến Việt
Nam hiện nay.
Những tác động tích cực của nó đến quá trình phát triển đất nước.
Tham vào những vấn đề mang tính toàn cầu giúp Việt Nam đẩy nhanh
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - rút ngắn khoảng cách phát
triển so với các nước trong khu vực và quốc tế. Từ một quốc gia nông nghiệp lạc
hậu, nghèo nàn Việt Nam đang trong quá trình thực hiện chiến lược công nghiệp hoá
hiện đại hoá rút ngắn, mà một trong những nội dung cơ bản của nó là đổi mới công
nghệ của nền sản xuất xã hội từ sử dụng lạo động thủ công là chính lên sử dụng lao
động với công nghệ tiên tiến, hiện đại. Tham gia vào giải quyết những vấn đề mang
tính toàn cầu là cơ hội để chúng ta thu hút vốn và đầu tư nước ngoài, tiếp thu công
nghệ tiên tiến hiện đại của thế giới. Có điều kiện thuận lợi để lựa chọn công nghệ
mới phù hợp, đồng thời tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của các nước trên thế giới, tạo


16
ra bước nhảy vọt về trình độ công nghệ trong nỗ lực rút ngắn khoảng cách với các
nước đi trước.
Toàn cầu hoá kinh tế và những vấn đề mang tính toàn cầu đang thúc đẩy
tiến trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên quy mô toàn cầu, các nước đang phát
triển trong đó có Việt Nam có thể lợi dụng cơ hội này để tăng tốc quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của mình, xây dựng một cơ cấu kinh tế mới, tiến bộ, có
hiệu quả. Sự chuyển dịch nhanh, phù hợp cơ cấu kinh tế trong nước giúp chúng
ta chủ động tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Việt Nam có
những lợi thế rất lớn về nguồn nhân lực dồi dào có chất lượng, giá rẻ, vị trí địa
chính trị, địa kinh tế thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng…thu

nước. Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, Việt Nam có thể tiếp nhận vốn, kỹ
thuật, công nghệ, kinh nghiệm, để thực hiện các chính sách xã hội, đặc biệt là chính
sách xoá đói giảm nghèo, khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, sự phân
hoá giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu,
vùng xa. Tạo điều kiện cho mọi người dân được tiếp cận với một nền học vấn tiến
bộ, có cơ hội để thoát nghèo. Giải quyết tận gốc những bất ổn xã hội do nghèo đói và
phân hoá giàu nghèo mang lại.
Thông qua giao lưu và hợp tác văn hoá, khoa học, giáo dục, Việt nam có
điều kiện để tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc,
phát triển khoa học, giáo dục đưa đất nước phát triển nhanh, vững chắc.
Hợp tác quốc tế sẽ giúp Việt nam có được những công nghệ tiên tiến
để quản lý môi trường, giúp chúng ta có những nguồn vốn, kinh nghiệm để
phủ xanh đất trống, đồi trọc, tái tạo và phát triển vốn rừng, bảo vệ nguồn
nước, xử lý chất độc hại nhằm cải thiện môi trường sống của nhân dân, góp
phần cùng các quốc gia bảo vệ môi trường chung vì sự bình yên của cuộc
sống nhân loại.
Hợp tác quốc tế cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong bảo vệ
sức khoẻ cộng đồng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phòng chống dịch
bệnh, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới , các loại dịch bệnh mang tính toàn cầu như:
HIV/AIDS, SARS, lao, bại liệt, viêm gan B, C, viêm não Nhật Bản …Những
thành công của Việt nam trong những năm qua trong chống suy dinh dưỡng ở
trẻ em, kế hoạch hoá gia đình, thanh toán bại liệt, chống lại các dịch bệnh nguy


18
hiểm khác, ngoài nỗ lực của chúng ta còn có phần đóng góp không nhỏ của sự
hợp tác quốc tế.
Việc chống trả lại nạn khủng bố và tội phạm mang tính toàn cầu đòi hỏi
sự nỗ lực chung của mọi quốc gia trên thế giới. Hợp tác quốc tế giúp Việt Nam
thực hiện các chương trình quốc gia phòng chống tội phạm xuyên biên giới.

dân tộc mình, đất nước mình, cho giai cấp thống trị, và thực hiện “diễn biến hoà
bình” đối với cách mạng thế giới.
Những nguy cơ và thách thức tác động đến Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế và giải quyết những vấn đề toàn cầu
Tham gia vào những vấn đề mang tính toàn cầu là một quá trình vừa hợp
tác vừa đấu tranh giữa các nước. Các nước phải hợp tác với nhau trong quá trình
định ra các thể chế, các nguyên tắc trong quan hệ để giải quyết các vấn đề chung
và cam kết thực hiện, tuân thủ đúng những gì đã cam kết. Tuy nhiên, do lợi ích
của các nước, các nhóm nước, các nhóm xã hội trong một nước là không giống
nhau; do vậy, việc thực hiện cam kết đó không chỉ đơn thuần là hợp tác mà còn
là sự đấu tranh, nhiều khi không kém phần quyết liệt. Trên bình diện quốc tế,
cuộc đối đầu trên lĩnh vực tự do hoá thương mại giữa hai phe, các nước tư bản
phát triển G7 và các nước đang phát triển G77 (trong đó có Việt Nam), đang
diễn ra rất phức tạp. Các nước G7 do lợi thế cạnh tranh nắm chủ yếu nguồn vốn
và khoa học - công nghệ hiện đại muốn đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương
mại và mở rộng thị trường quốc tế, còn các nước G77 do trình độ phát triển kinh
tế còn thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế, muốn duy trì một mức
độ bảo hộ nhất định ở trong nước, muốn có nhiều hơn những ưu đãi về thị
trường và thuế quan ở các nước phát triển, vì thế họ ủng hộ tự do hoá từ từ, có
điều kiện. Cuộc đấu tranh này không chỉ đơn thuần là sự cạnh tranh về kinh tế
mà thật sự đã trở thành một cuộc đấu tranh chính trị của các nước đang phát
triển nhằm thiết lập một trật tự thế giới mới công bằng, bình đẳng hơn cho các
nước nghèo. Việt Nam tham gia cuộc đấu tranh này trong điều kiện chúng ta còn
nhiều khó khăn. Để bảo vệ lợi ích của Việt Nam khi gia nhập quốc tế và khu
vực, chúng ta phải nâng cao năng lực đấu tranh, tính thuyết phục trên các diễn
đàn quốc tế, kịp thời nhạy bén nắm bắt tình hình xử lý mau lẹ phù hợp.
Do nền kinh tế chậm phát triển, điểm xuất phát thấp, mặc dù chúng ta có
lợi thế về lao động nhưng lại hạn chế về trình độ kỹ năng lao động, vì vậy Việt
Nam gia nhập vào hệ thống phân công lao động quốc tế sẽ gặp phải nhiều bất
cập. Khó khăn này thể hiện ở chỗ năng lực tiếp nhận công nghệ mới thấp, chưa

khác sẽ bị thiệt thòi - tăng lên khoảng cách của chênh lệch giàu nghèo là điều khó
tránh khỏi, đòi hỏi những nỗ lực rất lớn của cả Nhà nước và nhân dân để giải quyết
công bằng xã hội. Tình trạng thừa lao động phổ thông, thiếu lao động chuyên môn


21
kỹ thuật cũng đang là thách thức đối với Việt Nam trong việc giải quyết tận gốc
nạn thất nghiệp và bán thất nghiệp trong quá trình hội nhập.
Cùng với mở của thị trường, giao lưu kinh tế, bùng nổ thông tin, lối sống
thực dụng chạy theo đồng tiền, các sản phẩm văn hoá đồi trụy có thể du nhập vào
nước ta, phá hoại đạo đức, thuần phong, mỹ tục và bản sắc văn hoá dân tộc. Lợi
dụng tình hình đó các thế lực thù địch trong và ngoài nước có thêm nhiều cơ hội để
thực hiện “diễn biến hoà bình”, trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá đối với nước ta.
Cùng với việc tăng lên của các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch,
những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu cũng có điều kiện xâm nhập và huỷ
hoại môi trường sống của Việt Nam như nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ và
trẻ em, buôn bán sử dụng ma tuý, căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, SARS, tệ
buôn lậu qua biên giới và nhiều lề thói đồi bại khác vốn xuất phát từ một vài
nơi nào đó trên thế giới mà lan tràn ra phạm vi toàn cầu, trong đó có Việt
Nam.
Toàn cầu hoá kinh tế và sự xuất hiện những vấn đề mang tính toàn cầu
là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế
này đang bị một số nước phát triển và các tập kinh tề xuyên quốc gia toàn
cầu hoá kinh tế và sự xuất hiện những vấn đề mang tính toàn cầu là một xu
thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị
một số nước phát triển và các tập kinh tề xuyên quốc gia chi phối, chứa
đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa hợp
tác, vừa đấu tranh. Quá trình này đem đến cho Việt Nam những cơ hội thuận
lợi lớn đồng thời cũng đứng trước những khó khăn thách thức nghiêm trọng
trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an

chắc an ninh - quốc phòng, phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong
quá trình hội nhập kinh tế, không thể không tính đến các vấn đề văn hoá, y tế, giáo
dục và các vấn đề xã hội khác. Đảm bảo hội nhập nhưng không đánh mất mình,
không bị chi phối bởi các thế lực cường quyền trên thế giới, giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc.
Hội nhập quốc tế, tham gia giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu phải
dựa trên cơ sở vững vàng về chính trị, ổn định về xã hội, không ngừng phát huy nội
6

ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐTQ Lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 112.


23
lực, phát triển nền kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của cả nền kinh tế đất
nước, của từng ngành và mỗi doanh nghiệp. Muốn hội nhập, muốn giải quyết tốt
những quan hệ bên ngoài trước hết phải xây dựng những tiền đề về chính trị,
kinh tế vững chắc từ bên trong: đó là sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, hệ thống
chính trị vững vàng, xã hội ổn định, toàn dân đồng tâm, hiệp lực xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tăng cường sức mạnh và tiềm lực kinh tế cả ở
tầm vĩ mô và vi mô, đảm bảo cho cả nền kinh tế, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp
đều được chuẩn bị tốt, có thể cạnh tranh thắng lợi trên thương trường quốc tế và
thị trường trong nước.
Trong quá trình hội nhập phải kiên trì giữ vững phương châm bình đẳng,
cùng có lợi, bảo vệ lợi ích quốc gia. Trong quan hệ quốc tế một mặt cần kiên
quyết bảo vệ lợi ích của dân tộc, mặt khác phải chấp nhận chia sẻ hợp lý lợi ích
với các đối tác, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, bình đẳng, cùng có lợi vì hoà bình và
phát triển.
Cùng với việc đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý tạo điều kiện
thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải liên
kết với nhau hình thành sức mạnh của các cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam

tạo tiềm lực kinh tế để Việt Nam đủ khả năng chủ động hội nhập, tham gia cùng
cộng đồng quốc tế giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu
Độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất để củng cố và duy trì độc
lập tự chủ về chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng , an ninh. Điều đó càng có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng với Việt Nam trong quá trình hội nhập, giải quyết các vấn
đề mang tính toàn cầu trước bối cảnh thế giới đầy phức tạp như hiện nay.
Độc lập, tự chủ về kinh tế trước hết là không bị lệ thuộc vào bên ngoài về
đường lối, chính sách phát triển kinh tế, vào những điều kiện kinh tế, chính trị
mà người khác áp đặt trong quan hệ song phương, đa phương hay trong tiếp
nhận viện trợ…mà những điều kiện ấy tổn hại đến lợi ích quốc gia.
Độc lập về kinh tế là vẫn giữ vững được ổn định và định hướng phát triển
khi có những chấn động của thị trường, của khủng hoảng kinh tế từ bên ngoài
hay trước sự bao vây, cấm vận của các nước thù địch.


25
Để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trước tác động của toàn cầu hoá
kinh tế và những vấn đề mang tính toàn cầu, Việt Nam cần thực hiện một số giải
pháp sau:
- Có đường lối, chính sách độc lập, tự chủ về phát triển kinh tế - xã hội,
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, không ngừng hoàn thiện pháp chế trong
quá trình cải cách và phát triển.
- Tăng cường tiềm lực của nền kinh tế, tăng quy mô tích luỹ để tái sản
xuất mở rộng…huy động tốt các nguồn lực cho phát triển, trong đó nguồn lực
nội sinh là quyết định, nguồn lực ngoại sinh là quan trọng.
- Tháo gỡ những bất cập về chính sách, tập trung đầu tư về vốn - công nghệ quản lý - thị trường, thúc đẩy sáng tạo khoa học - kỹ thuật và nghiên cứu phát triển các
ngành nghề, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, trong đó sức cạnh tranh của từng
doanh nghiệp sẽ tạo nên sức cạnh tranh chung của toàn bộ nền kinh tế.
- Giữ vững an ninh kinh tế như an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thực
phẩm, kết cấu hạ tầng, an toàn môi trường, an ninh tài chính…đảm bảo cho đất nước có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status