Nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố phan rang tháp chàm, tỉnh ninh thuận - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Nguyễn Ngọc Quý

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH CÁC
TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Nguyễn Ngọc Quý

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH CÁC
TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Phan Rang –
Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận thông qua các chủ thể phòng, chống tội phạm
..................................................................................................................... 44


Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA TÌNH
HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM
ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHAN RANG -THÁP CHÀM . 49
3.1. Dự báo tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm........................................ 49
3.2. Giải pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm
đoạt trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm ............................... 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ANTQ

An ninh Tổ quốc

BLHS

Bộ luật hình sự

TAND

Tòa án nhân dân

Bảng 2.6: Cơ cấu xét theo các bước thực hiện hành vi phạm tội.
Bảng 2.7: Cơ cấu xét theo độ tuổi của bị cáo.
Bảng 2.8: Cơ cấu xét theo giới tính của bị cáo.
Bảng 2.9: Cơ cấu xét theo dân tộc của bị cáo.
Bảng 2.10: Cơ cấu xét theo thời gian gây án.
Bảng 2.11: Cơ cấu xét theo địa điểm thực hiện hành vi phạm tội.
Bảng 2.12: Cơ cấu xét theo phương tiện gây án
Bảng 2.13: Cơ cấu xét theo công cụ gây án.


Bảng 2.14: Cơ cấu xét theo trình độ học vấn của bị cáo
Bảng 2.15: Cơ cấu xét theo nghề nghiệp của bị cáo
Bảng 2.16: Cơ cấu xét theo hoàn cảnh gia đình của bị cáo
Bảng 2.17: Cơ cấu xét theo tình trạng hôn nhân của bị cáo
Bảng 2.18: Cơ cấu xét theo đặc điểm tiền án, tiền sự của bị cáo
Bảng 2.19: Cơ cấu xét theo đặc điểm tái phạm, tái phạm nguy hiểm


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phan Rang - Tháp Chàm là thành phố ven biển, trung tâm hành chính,
kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Ninh Thuận, nơi giao nhau của 3 trục giao
thông chiến lược là Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam và Quốc lộ 27 đi thành
phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có các tuyến đường tỉnh khác như tỉnh lộ 702,
703 đều đạt tiêu chuẩn cấp IV, các tuyến đường huyện và liên xã được nâng
cấp và đảm bảo giao thông cơ giới thuận tiện quanh năm. Thành phố Phan
Rang - Tháp Chàm có 16 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 15 phường và 01
xã, với tổng diện tích khoảng 77,5 km2; dân số toàn thành phố khoảng trên
170 ngàn người với thành phần dân tộc chủ yếu là người Kinh chiếm đa số
(98%), người Chăm (1,03%), người Hoa (0,96%) và dân tộc khác.

các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố
Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh thuận” làm đề tài luận văn thạc sĩ mang
tính cấp thiết và phù hợp với tình hình hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- “Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sở
hữu” của PGS, TS Nguyễn Ngọc Anh đăng trên Tạp chí Công an nhân dân,
số 5, năm 2009.
- “Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của
Viện Nhà nước và Pháp luật, Nxb Công an nhân dân, năm 2000;
- “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam” của
PGS,TS Phạm Văn Tỉnh, Nxb Công an nhân dân, năm 2007;
- Giáo trình “Tội phạm học” của GS,TS Võ Khánh Vinh, Nxb Công an
nhân dân, tái bản năm 2011, 2013;
- Giáo trình “Tội phạm học” của trường đại học Luật Hà Nội, Nxb
Công an nhân dân, tái bản năm 2004, 2012;
2


- “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam” của
Nguyễn Văn Cảnh và Phạm Văn Tỉnh, do Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ
Công an ấn hành năm 2013;
- “Luật hình sự Việt Nam (phần chung và phần các tội phạm), giáo
trình sau đại học” của GS, TS Võ Khánh Vinh, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội;
- Các bài viết về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, về nhân thân
người phạm tội, về phòng ngừa tội phạm… được đăng tải trên các tạp chí
như: Nhà nước và Pháp luật; Cảnh sát nhân dân; Kiểm sát; Tòa án nhân dân;
Công an nhân dân …
Ở mức độ cụ thể và liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn, các công
trình khoa học sau đây cũng đã được tham khảo:
- Nguyễn Văn Phên (2016), Nguyên nhân và điều kiện của tình hình

- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và các biện
pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình các tội nói trên ở địa bàn thành
phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng nguyên nhân
và điều kiện của tình hình các tội XPSH CTCCĐ trên địa bàn thành phố Phan
Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Trên cơ sở các quan điểm khoa học được
nêu trong tội phạm học, luận văn nghiên cứu sự tương tác giữa những hiện
tượng, những yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống ở thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận và những đặc điểm tiêu cực của các chủ thể
(nhân thân người phạm tội) mà trong những điều điện, hoàn cảnh, tình huống
nhất định đã thực hiện những hành vi tạo thành tình hình các tội XPSH
CTCCĐ trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về chuyên ngành, đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ
chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm.
4


- Về tội danh, đề tài đề cập đến tình hình của các tội được quy định từ
Điều 133 đến Điều 140 của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009),
gồm: tội cướp tài sản (Điều 133), tội bắt cóc nhằm chiếm đọat tài sản (Điều
134), tội cưỡng đọat tài sản (Điều 135), tội cướp giật tài sản (Điều 136), tội
công nhiên chiếm đọat tài sản (Điều 137), tội trộm cắp tài sản (Điều 138), tội
lừa đảo chiếm đọat tài sản (Điều 139), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đọat tài
sản (Điều 140); đồng thời có đề cập đến các tội xâm phạm sở hữu có tính chất
chiếm đọat được quy định trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017), từ Điều 168 đến Điều 175.
- Về không gian, đề tài sử dụng số liệu thực tế trên địa bàn thành phố
Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, bao gồm các số liệu thống kê của

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được cơ cấu thành ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về nguyên nhân và điều kiện của tình
hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.
Chương 2. Thực trạng các nguyên nhân và điều kiện của tình hình các
tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Phan
Rang Tháp- Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình các tội
xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Phan RangTháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN
CỦA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều
kiện của tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.1.1. Khái niệm về tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm
đoạt
Tội phạm là một khái niệm được đề cập đến trong BLHS, theo đó: “Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm
phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã

khác nhau như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lén lút bí mật, lừa đảo … tùy
thuộc vào thủ đoạn chiếm đoạt mà hành vi chiếm đoạt cấu thành các tội khác
nhau trong các tội xâm phạm sở hữu được BLHS quy định.
Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp,
tức là kẻ phạm tội nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng
vì động cơ vụ lợi mà lấy tài sản của người khác, ở đây có thể thấy động cơ và
mục đích vụ lợi là dấu hiệu đặc trưng của hành vi chiếm đoạt.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm sau: Tội phạm xâm
phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong mặt khách quan của các Điều từ 133 đến 140 BLHS năm 1999
(sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các Điều từ 168 đến Điều 175 BLHS năm
8


2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý, xâm phạm vào quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ.
1.1.2. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội xâm
phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Khi tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nói chung, của
từng nhóm tội phạm và tội phạm cụ thể nói riêng, Tội phạm học đã nghiên
cứu nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm. Muốn ngăn chặn, loại trừ
tội phạm xảy ra thì trước hết phải làm sáng tỏ được lý do vì đâu mà tội phạm
phát sinh, tồn tại, vận động trong đời sống xã hội. Do đó các nhà tội phạm học
đã nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm để tìm ra những
nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm nói chung và các tội
XPSH CTCCĐ nói riêng.
Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “nguyên nhân” được định nghĩa là:
“Điều gây ra một kết quả hoặc làm xảy ra một việc, một hiện tượng” [49, tr.
12-17].
Triết học Mác – xít quan niệm cho rằng, nguyên nhân là phạm trù chỉ

động kinh tế, cơ chế quản lý …
Từ những khái quát nêu trên, có thể hiểu nguyên nhân và điều kiện của
tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là sự tác động qua
lại giữa các hiện tượng, qúa trình xã hội tiêu cực của môi trường sống với
các yếu tố tâm – sinh lý tiêu cực thuộc cá nhân con người, trong những tình
huống, hoàn cảnh nhất định làm phát sinh tình hình các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt.
Giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội XPSH CTCCĐ có
những phạm vi ảnh hưởng khác nhau. Trong thực tế, việc phân định rõ đâu là
nguyên nhân đâu là điều kiện của tình hình các tội XPSH CTCCĐ là việc khó
khăn và phức tạp. Điều kiện đưa đến tình hình các tội XPSH CTCCĐ cũng là
10


các hiện tượng xã hội tiêu cực, nhưng khác với nguyên nhân ở chỗ nó không
làm phát sinh ra tội phạm mà nó chỉ tạo ra hoàn cảnh thuận lợi cho sự hình
thành, tồn tại và phát triển của tình hình các tội XPSH CTCCĐ. Trong thực
tiễn cũng như trong lý luận giữa nguyên nhân và điều kiện của tình trạng tội
phạm trong một số trường hợp đối với hiện tượng tội phạm này là nguyên
nhân nhưng đối với hiện tượng tội phạm khác nó lại là điều kiện.
Tóm lại, từ những phân tích khái quát trên đây có thể kết luận rằng:
Nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội XPSH CTCCĐ là hai phạm
trù khác nhau, giữ vai trò khác nhau trong việc sinh ra kết quả là tình hình các
tội XPSH CTCCĐ, sự phân biệt đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện chỉ
mang tính chất tương đối. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm lại luôn
đòi hỏi phải loại trừ cả hai, tức là loại trừ cả những yếu tố thuộc về nguyên
nhân và loại trừ cả những yếu tố thuộc về điều kiện phát sinh tình hình các tội
XPSH CTCCĐ.
1.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của
tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn

tội phạm đề ra các kế hoạch, các giải pháp, phương pháp nhằm tác động làm
hạn chế, hướng tới xóa bỏ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm XPSH
CTCCĐ.
Thứ hai, nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội
XPSH CTCCĐ góp phần cung cấp những thông tin hữu ích cho khoa học
quản lý, giáo dục người phạm tội và những phương pháp phân loại người
phạm tội để nghiên cứu những hình thức, phương pháp quản lý, giáo dục và
tái hòa nhập cộng đồng đối người đã thực hiện hành vi phạm tội nhằm tác
động đến hoạt động loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tình hình các tội
XPSH CTCCĐ ra khỏi đời sống xã hội.
Thứ ba, nghiên cứu làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình các
tội XPSH CTCCĐ còn nhằm phát hiện, làm rõ các sơ hở, thiếu sót trên các
12


lĩnh vực quản lý Nhà nước để kịp thời đề ra phương hướng, biện pháp khắc
phục góp phần phòng ngừa tình hình các tội XPSH CTCCĐ một cách khoa
học và hiệu quả.
Thứ tư, nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội
XPSH CTCCĐ có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định các chính sách
kinh tế, xã hội trước mắt và lâu dài, nhất là việc hoạch định các chính sách
pháp luật nói chung và chính sách hình sự nói riêng.
1.2. Phân loại nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội xâm
phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xây dựng hệ thống
nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm, vì đây là vấn đề hết sức đa
dạng và luôn biến động theo sự vận động của thực tiễn. Các tội XPSH
CTCCĐ phát sinh không phải do một nguyên nhân và điều kiện gây ra mà là
kết quả tác động của nhiều nguyên nhân và điều kiện khác nhau. Do đó, để
nhận thức chúng về mặt khoa học và về mặt thực tiễn cần phải phân loại

1.2.1.2. Những yếu tố tiêu cực thuộc môi trường nhà trường
Nhà trường không chỉ là nơi truyền thụ kiến thức cho người học mà nó
còn là môi trường để rèn luyện đạo đức, kiến thức pháp luật, kỹ năng sống và
giáo dục thế hệ trẻ trở thành những con người sống có hoài bão, lý tưởng tốt
đẹp… Nhà trường khi làm tốt nhiệm vụ của mình thì sẽ đào tạo được những
thế hệ trẻ tương lai có đủ tài, đức để giúp ích cho xã hội, cho đất nước. Ngược
lại, nếu trong môi trường nhà trường tồn tại nhiều nhân tố không lành mạnh
thì cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách
lệch lạc của cá nhân, hình thành những đặc điểm nhân thân xấu, từ đó khi gặp
tình huống tiêu cực họ dễ nảy sinh động cơ vi phạm pháp luật. Những nhân tố
không lành mạnh trong môi trường nhà trường có thể kể đến như: Kỷ luật, kỷ
14


cương trong nhà trường không nghiêm, việc quản lý học sinh lỏng kẻo, nhất
là quản lý học sinh cá biệt, để các hiện tượng tiêu cực bên ngòai xâm nhập
vào nhà trường; một số thầy cô giáo chưa thực sự nêu gương sáng cho học
sinh noi theo, có lối sống, thái độ nghề nghiệp, quan niệm giá trị sai lệch,
chạy theo thành tích; coi nhẹ việc giáo dục đạo đức, pháp luật, kỹ năng sống
cho học sinh, chưa chú trọng việc giáo dục ý thức tôn trọng tài sản, tính mạng,
danh dự, nhân phẩm của người khác; sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình
chưa thường xuyên, lỏng lẻo … đây cũng chính là những nhân tố thúc đẩy
tình hình tội phạm XPSH CTCCĐ.
1.2.1.3. Những yếu tố tiêu cực thuộc môi trường nhóm (bạn bè, nơi làm
việc)
Môi trường bạn bè, nơi làm việc, cũng có ảnh hưởng vô cùng quan
trọng trong việc hình thành nhân cách, quan điểm, phương pháp nhận thức thế
giới của cá nhân. Đặc biệt là ở lứa tuổi thanh thiếu niên và đối với ban bè thân
thiết thường có những đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi và sở thích giống
nhau. Vì vậy nhóm bạn bè có ảnh hưởng rất lớn đến các quan điểm, nhận

mặt trái của kinh tế thị trường được xem là một trong những nguyên nhân làm
tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm XPSH CTCCĐ nói riêng
diễn biến phức tạp.
Thứ ba, do hội nhập kinh tế quốc tế làm xuất hiện những hành vi mới
có tính chiếm đoạt như sử dụng tần số viễn thông nhằm chiếm đoạt tài sản,
làm thẻ tín dụng giả để rút tiền hay lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản …
Thứ tư, những rủi ro mà con người chưa kiểm soát được như thiên tai,
dịch bệnh… làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của người dân, dễ
dẫn đến những hành vi trộm cắp, công nhiên chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ tài
sản trái phép…
Do hạn chế của Nhà nước trong các khâu quản lý trên các lĩnh vực:
16


Những yếu tố tiêu cực trong việc quản lý của Nhà nước trên các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội… là những nguyên nhân và điều kiện làm phát
sinh tội phạm. Đó là những yếu kém, khiếm khuyết trong quá trình quản lý xã
hội của Nhà nước, bao gồm:
Chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật còn tồn tại những bất cập.
Việc thực thi pháp luật chưa nghiêm đã tác động đến tâm lý nhiều đối
tượng khiến cho họ mạnh dạn hình thành ý định thực hiện hành vi phạm tội
khi bản thân chưa phát sinh nhu cầu bất chính.
Quản lý văn hóa chưa đáp ứng với yêu cầu, tình hình đặt ra. Quá trình
hội nhập quốc tế đã đem lại cho nhân dân ta đời sống văn hóa phong phú,
nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Tuy nhiên, cùng với
đó là tình trạng phổ biến, tiếp thu thiếu chọn lọc những sản phẩm văn hóa
không phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống dân tộc; suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong xã hội có chiều hướng gia tăng; các
giá trị văn hóa truyền thống bị xói mòn… Những yếu tố này đã góp phần hình
thành một bộ phận không nhỏ người dân có tư tưởng hám lợi, tham lam, ích

Tâm lý tự tin, dễ dãi đối với sự an toàn của bản thân, tâm lý thích phô
trương tài sản… điều này sẽ kích thích gia tăng hành vi phạm tội cướp, cướp
giật tài sản. Tâm lý mất cảnh giác, thiếu cẩn trọng, hớ hênh trong quá trình cất
giữ tài sản cũng làm một trong những nguyên nhân để trở thành nạn nhân của
tội phạm cướp, cướp giật, trộm cắp tài sản. Hoặc nạn nhân có những thói
quen về hành vi, thời gian lặp đi lặp lại nhiều lần thành quy luật khiến cho
người phạm tội chú ý, nảy sinh ý định phạm tội. Ngoài ra, một số người thuộc
nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật… cũng dễ trở
thành nạn nhân của tội phạm XPSH CTCCĐ.
1.2.1.6. Những nguyên nhân và điều kiện khách quan khác
Nhà nước chưa có cơ chế để khuyến khích nhân dân đấu tranh, tố giác
tội phạm, sợ phiền hà, mất thời gian khi ra làm chứng… dẫn đến thái độ thờ
ơ, thiếu quan tâm, sợ va chạm… tạo điều kiện cho cái xấu, tội phạm có cơ hội
thực hiện hành vi phạm tội.
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status