Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lai Châu - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÒ THỊ THOA

KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP
VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ............................................. 9
1.1 Khái niệm, căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn........................................ 9
1.2. Cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn ................ 14
1.3. Khái niệm, đặc điểm kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự ....................................................................................... 16
1.4. Vai trò, ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn và kiểm sát việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn ........................................................................................ 24
1.5. Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về kiểm sát việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015......... 27
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN ................................................................................................ 36


Bộ luật Hình sự

BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

BPNC

Biện pháp ngăn chặn

CQĐT

Cơ quan điều tra

ĐTV

Điều tra viên

KSV

Kiểm sát viên

TA

Tòa án

TAND

Tòa án nhân dân



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biện pháp ngăn chặn là một trong những chế định quan trọng của
BLTTHS. Các biện pháp ngăn chặn bao gồm: giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, bắt (bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả
tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu
cầu dẫn độ), tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để đảm
bảo, tạm hoãn xuất cảnh. Đây là các biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với
người bị tình nghi, người bị buộc tội nhằm mục đích ngăn chặn những hành vi
nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi trốn tránh
pháp luật, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; giúp các cơ
quan tiến hành tố tụng phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời, nghiêm minh
người phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi
giải quyết các vụ án hình sự, góp phần áp dụng pháp luật đúng đắn, không để lọt
người phạm tội và không làm oan người vô tội.
Việc áp dụng BPNC thể hiện sự cưỡng chế mạnh mẽ, thái độ kiên quyết
của Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và kẻ phạm tội, khi
áp dụng BPNC, nhất là các biện pháp như bắt, tạm giữ, tạm giam sẽ ảnh hưởng
trực tiếp và mạnh mẽ đến các quyền con người, nếu áp dụng các biện pháp ngăn
chặn không đúng sẽ dẫn đến oan sai, xâm phạm nghiêm trọng đến các quyền con
người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ngược lại, nếu không áp dụng
các BPNC đối với người phạm tội dẫn đến việc bỏ trốn, tiếp tục gây án làm thiệt
hại đến quyền con người và lợi ích của công dân, cộng đồng xã hội, gây khó
khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án, làm giảm sút uy tín, hiệu quả
hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây ra sự hoài nghi của quần chúng
nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Trong Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực

trọng trách năng nề trong tiến trình thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện đại, hiệu quả, nhân văn.
2


Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và thực hiện các quy định của
BLTTHS về BPNC, về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát việc áp
dụng biện pháp ngăn chặn vẫn còn những bất cập, khó khăn trong thực hiện. Các
yếu tố như cơ sở vật chất, con người cũng tác động, ảnh hưởng lớn đến việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong thực hành quyền công tố, kiểm sát
việc áp dụng BPNC trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Trước tình hình trên, việc nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về lý luận
cũng như thực tiễn các quy định của pháp luật về BPNC, về nhiệm vụ, quyền
hạn của VKSND trong kiểm sát việc áp dụng BPNC, nhằm tăng cường hiệu quả
công tác kiểm sát việc áp dụng BPNC, đề ra những giải pháp hợp lý, góp phần
hoàn thiện các quy định của BLTTHS về BPNC, đảm bảo cho pháp luật được áp
dụng nghiêm chỉnh và thống nhất, tăng cường pháp chế XHCN, bảo đảm quyền
con người, quyền công dân, đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm có hiệu
quả. Vì vậy, học viên chọn đề tài “Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lai Châu” làm đề
tài Luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Biện pháp ngăn chặn là một nội dung quan trọng của BLTTHS, áp dụng
BPNC là nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền
theo pháp luật, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Kiểm sát việc áp dụng
BPNC là chức năng, nhiệm vụ của VKSND được quy định trong Hiến pháp và
pháp luật. Dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, vấn đề này đã được nhiều
nhà khoa học pháp lý, nhiều tác giả nghiên cứu đề cập tới, có thể kể đến các
công trình như:
- Luận án tiến sĩ “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong

- “Hoàn thiện các quy định của BLTTHS theo yêu cầu cải cách tư pháp”
của TS. Phạm Mạnh Hùng đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 21/2007 [12],

4


-“ Về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS
năm 2003” của PGS.TS Nguyễn Đức Thuận đăng trên Tạp chí Luật học số
07/2008 [26].
- “Một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát
hoạt động bắt, tạm giữ, tạm giam” của tác giả Dương Ngọc An đăng trên Tạp
chí Kiểm sát số 14/2012 [1].
- “Căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với
một số loại tội phạm, thu hẹp đối tượng có thẩm quyền quyết định áp dụng tạm
giam” của TS. Đỗ Văn Đương đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 19/2012 [7].
Các công trình Bình luận khoa học BLTTHS [13], các tài liệu, giáo trình
giảng dạy như Giáo trình Luật TTHS của các trường Đại học như: Đại học Luật
Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân, Đại
học kiểm sát Hà Nội [28,29].
Nhìn chung, các công trình trên đều nghiên cứu về các biện pháp ngăn
chặn nói chung hoặc nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến BPNC, trong đó có
nghiên cứu về kiểm sát việc áp dụng BPNC. Tuy nhiên chưa có công trình nào
nghiên cứu về kiểm sát việc áp dụng BPNC trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kết quả các công trình nghiên
cứu, các bài viết, đồng thời bằng kinh nghiệm thực tiễn và vốn hiểu biết của
mình, học viên trình bày trong Luận văn cơ sở lý luận, nội dung kiểm sát việc áp
dụng BPNC và thực tiễn công tác kiểm sát việc áp dụng BPNC ở địa bàn tỉnh
Lai Châu, đưa ra nhóm giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm
sát việc áp dụng BPNC ở địa phương mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

về kiểm sát việc áp dụng BPNC trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam hiện hành liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND
trong việc kiểm sát việc áp dụng các BPNC và thực tiễn áp dụng những quy định

6


này từ năm 2013 đến năm 2017 trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Luận văn không
nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát quân sự, cũng như một số
vấn đề khác có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở lý luận để tác giả nghiên cứu đề tài dựa vào phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước và pháp luật, tăng cường
pháp chế XHCN.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành luật hình sự, luật tố tụng hình sự kết hợp với các phương pháp
nghiên cứu truyền thống như: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, logic,
khảo sát thực tế, thống kê, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng của
VKSND và các cơ quan tiến hành tố tụng khác trong việc áp dụng BPNC để luận
giải, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, thực tiễn để hoàn thành Luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp và hoàn thiện cơ sở lý luận,
quan điểm pháp lý thống nhất về BPNC, có ý nghĩa quan trọng đối với công tác
kiểm sát việc áp dụng BPNC, thực hiện đúng đắn pháp luật tố tụng hình sự về

VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm, căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn
1.1.1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một
vấn đề cụ thể”. Ngăn chặn là “chặn lại từ đầu, không để cho gây tác hại” [4].
Trong giới luật học của Việt Nam, có rất nhiều ý kiến về BPNC.

Theo tác giả Nguyễn Duy Lãm thì: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp
có tính chất cưỡng chế do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối
với bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhằm phòng ngừa,
ngăn chặn hành vi cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án, bảo
đảm thực hiện đúng đắn các nhiệm vụ của tố tụng hình sự” [14, Tr.37]. Theo
đó các BPNC là các biện pháp có tính cưỡng chế đối với người phạm tội,
nhằm ngăn ngừa các hành vi gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử. Tuy nhiên, theo học viên thì ý kiến này chưa nêu đủ các đối
tượng và cơ quan có thẩm quyền áp dụng BPNC cũng như mục đích áp dụng.
Theo tác giả Bình Nguyên thì: “Những biện pháp ngăn chặn được quy
định trong hoạt động tố tụng hình sự là những biện pháp do luật định được thực
hiện khi xét thấy cần thiết nhằm ngăn chặn người phạm tội đang có hành vi thực
hiện tội phạm hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm, loại trừ việc bị can, bị cáo gây
khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và ngăn ngừa bị can, bị cáo, người bị
kết án trốn tránh để bảo đảm cho việc thi hành án được thực hiện”[16, Tr.98].
Theo học viên thì khái niệm này đã nêu rõ được mục đích và sự cần thiết của các
BPNC, nhằm phân biệt với các biện pháp cưỡng chế khác như: khám xét người,

9


dẫn giải người làm chứng, kê biên tài sản,…tuy nhiên, cũng chưa nêu rõ chủ thể


công tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án. Như vậy, việc áp dụng
BPNC nhằm các mục đích sau đây:
Một là, ngăn ngừa tội phạm, bao gồm:
- Ngăn chặn không cho tội phạm đang được chuẩn bị xảy ra;
- Ngăn chặn không cho hành vi phạm tội đang được thực hiện tiếp tục
tiếp diễn;
- Ngăn ngừa người phạm tội có thể thực hiện tội phạm mới như trường
hợp bắt giữ người phạm tội đang đe dọa trả thù những người biết về sự việc
phạm tội của họ, nhằm mục đích ngăn không để cho người đó phạm tội mới với
hành vi trả thù.
Hai là, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
Các BPNC được áp dụng bảo đảm các điều kiện pháp lý cho hoạt động tố
tụng hình sự theo đúng các quy định của pháp luật (bảo đảm sự có mặt của bị
can, bị cáo, bị án trong hoạt động tố tụng khi cần thiết). Cũng như bảo đảm tính
chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng (bảo đảm bí mật điều tra, không
cho bị can, bị cáo có điều kiện thông cung)…
Tóm lại, mục đích của BPNC trong tố tụng hình sự là ngăn chặn tội phạm
và bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm thi hành án như Điều
109 BLTTHS 2015 (và Điều 79 BLTTHS 2003) đã quy định.
1.1.2. Về căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Các BPNC trong tố tụng hình sự do CQĐT, VKS, TA có thể áp dụng
trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành án.
Đối với một số BPNC được áp dụng trước giai đoạn điều tra hoặc để phục
vụ cho công tác điều tra ban đầu thì ngoài những người có thẩm quyền trong cơ
quan điều tra áp dụng còn có một số người không thuộc cơ quan điều tra áp dụng
như: Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương;
Người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu
biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng (Điều 81 BLTTHS


hiện tội phạm gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất
của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 07 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

12


- Khi một người đang thực hiện một tội phạm, tức là hành vi phạm tội của
người đó đã bắt đầu được thực hiện nhưng chưa kết thúc. Ngăn chặn tội phạm
trong trường hợp này là để ngăn cản không cho người phạm tội thực hiện đến
cùng hành vi phạm tội của mình.
Hai là, khi có căn cứ, chứng tỏ người phạm tội sẽ gây khó khăn cho hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành án. Kịp thời bắt giữ người
phạm tội có ý nghĩa rất lớn đối với việc điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi
hành án, nếu không kịp thời bắt giữ, người phạm tội có thể trốn, tiêu hủy, thay
đổi chứng cứ vụ án, xóa bỏ các dấu vết của vụ án,… và việc xác định sự thật của
vụ án sẽ khó khăn, phức tạp.
- Căn cứ này có thể áp dụng trước khi khởi tố vụ án, hay trong giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành án. Do vậy, đối tượng áp dụng khá
rộng, bao gồm:
+ Chưa khởi tố bị can, đây là căn cứ để giữ và bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 110 BLTTHS 2015
(điểm a, Khoản 1 Điều 81 BLTTHS 2003)
+ Khi người cùng thực hiện tội phạm, bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy
ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội
phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn, quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 110 BLTTHS 2015 (điểm b khoản 1 Điều 81 BLTTHS 2003).
+ Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, hoặc nơi làm
việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần
ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Căn cứ này cũng vận
dụng để áp dụng BPNC đối với những người “ngay sau khi thực hiện tội phạm thì

1.2.2. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn
Theo quy định của BLTTHS thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các
cấp có thể áp dụng các BPNC và quyết định áp dụng các BPNC của những
người này phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành, trừ các
biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt
người bị truy nã, tạm giữ, cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Trong
một số trường hợp khi tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu, việc áp dụng

14


biện pháp ngăn chặn, không chỉ có những người có thẩm quyền trong CQĐT mà
có thể những người thuộc các cơ quan quản lý Nhà nước như: Người chỉ huy đồn
biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay,
tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng(Điều 81 Bộ luật TTHS năm 2003) và bổ
sung thêm những người có thẩm quyền sau: Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ
huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội
biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên
phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội
biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục nghiệp vụ và
pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống
tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư
vùng(Điều 110 Bộ luật TTHS 2015). Trong trường hợp phạm tội quả tang, người
trốn truy nã thì người nào cũng có thẩm quyền áp dụng.
Như vậy, BLTTHS quy định chỉ có CQĐT có thẩm quyền áp dụng BPNC
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Tuy nhiên, trong giai đoạn tiền khởi tố hay
nói cách khác là trong giai đoạn khi phát hiện tội phạm để phục vụ cho công tác
điều tra hay giai đoạn điều tra ban đầu, người có thẩm quyền áp dụng thì rộng hơn,
không những người có thẩm quyền trong các CQĐT mà có cả một số người có

ngăn chặn, phát hiện, loại trừ vi phạm pháp luật trong việc áp dụng các BPNC.
Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo đảm mọi trường hợp bị áp dụng BPNC đều phải
có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai, bỏ lọt tội phạm, bảo đảm quyền con
người và các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng BPNC không bị pháp
luật hạn chế, tước bỏ được tôn trọng, bảo vệ.
Nói như vậy để thấy rằng hoạt động kiểm sát việc áp dụng các BPNC
trong tố tụng hình sự chính là một trong những nội dung quan trọng của công tác
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử vụ án hình sự, đây
là một công tác kiểm sát nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS đã được Hiến định, nhằm đảm bảo cho việc
áp dụng các BPNC của các cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ và đúng theo quy

16


định của pháp luật, loại trừ những vi phạm nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân.
Khi đề cập đến khái niệm của hoạt động kiểm sát việc áp dụng các BPNC
trong tố tụng hình sự, đến nay chưa có một tài liệu nào đưa ra khái niệm chính
thức, kể cả các tài liệu giảng dạy, học tập, nghiên cứu của ngành kiểm sát. Tuy
nhiên cũng có một số quan điểm đề cập đến vấn đề này như:
Tác giả Võ Khánh Vinh cho rằng “Kiểm sát hoạt động tư pháp chỉ bao
gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố xét xử và thi
hành án” [40, Tr.3]. Theo học viên, quan điểm này phù hợp với tinh thần và nội
dung của Luật tổ chức VKSND năm 2002.
Tác giả Nguyễn Thị Kiều Diễm, đưa ra khái niệm “vai trò của Viện KSND
đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố là
việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện KSND trong các
hoạt động áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan,
người có thẩm quyền theo pháp luật TTHS Việt Nam trong giai đoạn điều tra,

quy định rõ thẩm quyền của VKS khi tiến hành kiểm sát việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn của CQĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Khi thực hiện
thẩm quyền trên, nếu phát hiện việc áp dụng các BPNC của CQĐT không có căn
cứ và trái quy định của pháp luật thì VKS có quyền phê chuẩn, không phê chuẩn
hoặc hủy bỏ các quyết định của CQĐT, trách nhiệm của CQĐT là chấp hành các
quyết định của VKS kể cả trong trường hợp đồng ý hay không đồng ý, theo quy
định tại khoản 2 Điều 167 BLTTHS 2015 (Điều 114 BLTTHS 2003) quy định
nếu không đồng ý với các quyết định của VKS thì CQĐT cũng phải chấp hành
nhưng có quyền kiến nghị lên VKS cấp trên.
Theo quy định của pháp luật TTHS, VKS kiểm sát các trường hợp áp
dụng BPNC trong luật tố tụng hình sự, cụ thể như:
- Kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt:
Bắt người là một trong các biện pháp ngăn chặn có tính cưỡng chế cao đối
với người có dấu hiệu hoặc đã, đang thực hiện hành vi phạm tội để phục vụ cho
công tác xác minh điều tra. Trong mọi trường hợp VKS phải kiểm tra, giám sát

18


từng trường hợp bắt người của CQĐT. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào
VKS cũng ra quyết định phê chuẩn quyết định bắt của CQĐT mà chỉ trong
trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và bắt bị can để tạm
giam, còn các trường hợp bắt khác, Viện kiểm sát vẫn có thẩm quyền kiểm sát
nhưng qua công tác kiểm sát có thể ra quyết định hủy bỏ nếu đang có hiệu lực
hoặc kiến nghị cơ quan điều tra khắc phục vi phạm nếu việc bắt người không có
căn cứ và trái pháp luật.
Riêng đối với trường hợp áp dụng BPNC bắt người bị yêu cầu dẫn độ,
theo quy định BLTTHS 2015 thì thẩm quyền ra quyết định thuộc Tòa án.
- Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ:
Tạm giữ là biện pháp được CQĐT áp dụng sau khi bắt khẩn cấp (hoặc giữ

xem xét toàn bộ các tài liệu, đánh giá chứng cứ trong quá trình điều tra của
CQĐT để xét có tiếp tục gia hạn hay không gia hạn tạm giam đối với bị can.
Việc gia hạn tạm giam phải được thực hiện theo đúng các quy định của Điều 173
BLTTHS 2015 (Điều 120 BLTTHS 2003).
Đối với trường hợp BPNC tạm giam do Tòa án ra quyết định thì VKS
không phê chuẩn trước khi quyết định có hiệu lực thi hành nhưng VKS sẽ xem
xét căn cứ để ra quyết định áp dụng BPNC của Tòa án, VKS chỉ kiểm sát việc tổ
chức BPNC tạm giam theo quyết định của Tòa án đối với cơ quan thi hành quyết
định của Tòa án (Công an).
- Kiểm sát việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú:
Cấm đi khỏi nơi cư trú là BPNC có thể được áp dụng đối với bị can có nơi
cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ
quan tiến hành tố tụng. Thẩm quyền của VKS trong việc áp dụng BPNC này đối
với CQĐT là đồng ý hay ra quyết định hủy bỏ nếu việc áp dụng không có căn
cứ, trái pháp luật; còn đối với quyết định của Tòa án thì VKS chỉ xem xét căn cứ
để Tòa án ra quyết định.
- Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh:
Bảo lĩnh là BPNC để thay thế biện pháp tạm giam mà việc áp dụng hoàn
toàn do các cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá, “căn cứ vào tính chất, mức độ

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status