Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình từ thực tiễn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ ĐÔNG

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 8 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Am Hiểu

HÀ NỘI – 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
NHIỆM VỤ QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN KHI GIẢI QUYẾT CÁC VỤ
ÁN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH .......................................................................................... 7
1.1. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn nhân
và gia đình .........................................................................................................................................7
1.2. Đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết các tranh chấp
hôn nhân, gia đình ............................................................................................................. 10

TAND

: Tòa án nhân dân

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

VKS

: Viện kiểm sát

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, xung quanh vấn đề vị trí, vai trò của Viện
kiểm sát nhân dân và vị trí pháp lý của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự nói chung và trong giải quyết các vụ án Hôn nhân và gia
đình nói riêng luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học và
những người làm công tác thực tiễn. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ
luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đều có quy định về nhiệm
vụ quyền hạn của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khi
kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự. Thực tiễn công tác kiểm sát việc giải
quyết các vụ việc dân sự nói chung và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hôn

dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 thì Kiểm sát viên tham
gia kiểm sát việc tuân theo pháp luật hầu hết các vụ việc dân sự nhưng tại Điều
21 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 hạn chế phạm vi tham gia phiên
toà của VKS đối với vụ án dân sự.
So với BLTTDS 2004, sửa đổi 2011 thì BLTTDS năm 2015 quy định
phạm vi VKS tham gia phiên tòa đã mở rộng hơn: Viện kiểm sát tham gia các
phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án
do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công,
lợi ích công cộng...; Viện kiểm sát tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm. Thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2015 cho thấy các quy định
của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên còn có vướng mắc, bất
cập; chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án còn có mặt hạn
chế, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật.
2


Từ những lý do nêu trên, Là một cán bộ đang công tác trong ngành kiểm
sát (Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai), qua nghiên các quy định của pháp
luật tố tụng dân sự và thực tiễn tại địa phương, tác giả đã lựa chọn đề tài: "Nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hôn
nhân và gia đình từ thực tiễn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội" để làm
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự nói chung và nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên là vấn đề không chỉ được ngành
Kiểm sát mà còn được cả xã hội quan tâm. Do yêu cầu và đòi hỏi khách quan
nêu trên, đã có nhiều bài viết trên các luận văn thạc sĩ, tạp chí chuyên ngành,
sách chuyên khảo, chuyên đề tổng kết rút kinh nghiệm của các ngành Kiểm sát,

3.2. Nhiệm vụ
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong
giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình.
- Làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án
hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ, đặc biệt là theo quy định của pháp luật tố tụng
dân sự hiện hành từ đó xác định những hiệu quả, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm thực
hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn
nhân và gia đình trong thời gian tới, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết các
vụ án dân sự của Tòa án có căn cứ, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của Nhà nước, tổ chức, xã hội và công dân.

4


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn, các quy định của pháp luật và thực
tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án
hôn nhân và gia đình theo yêu cầu cải cách tư pháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn
nhân và gia đình từ thực tiễn Huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội; việc tổ chức
thực hiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải
quyết các vụ án hôn nhân và gia đình trên thực tế và những quy định của pháp luật
có liên quan đến các vấn đề nêu trên. Phạm vi nghiên cứu thực tiễn thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn nhân và
gia đình từ thực tiễn Huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, thời điểm lấy số liệu từ
năm 2013 đến nay.

dụng cho việc nghiên cứu, giảng dạy cho các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về nhiệm
vụ quyền hạn của kiểm sát viên khi giải quyết các vụ án Hôn nhân gia đình
Chương 2: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật và bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm
sát viên trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình từ thực tiễn Huyện
Thanh Oai, thành phố Hà Nội.
6


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
NHIỆM VỤ QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN KHI GIẢI QUYẾT
CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
1.1. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết
các vụ án hôn nhân và gia đình
Hiến pháp năm 2013, BLTTDS 2015, Luật Tổ chức VKSNDTC đã
khẳng định Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng trong VKSND, thực hiện
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự; tham gia phiên
toà xét xử vụ án dân sự (trong đó có các vụ án hôn nhân và gia đình), phiên họp
giải quyết việc dân sự. Mục đích của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự là nhằm bảo đảm cho các hành vi xử sự của các chủ thể tiến
hành, tham gia tố tụng và văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự
được thực hiện theo quy định của pháp luật. Nội dung hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là việc sử dụng các biện pháp, quyền
năng pháp lý do BLTTDS quy định để kịp thời phát hiện và loại bỏ vi phạm,
tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng,

việc giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình nói riêng là những yêu cầu cụ thể do
Nhà nước đặt ra và được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND,
BLTTDS, Pháp lệnh Kiểm sát viên và các văn bản pháp luật khác mà Kiểm sát
viên phải thực hiện bằng những hình thức, biện pháp nhất định trong quá trình
giải quyết vụ việc dân sự, cụ thể là:
- Bảo đảm việc giải quyết các vụ án dân sự ở Tòa án các cấp nhanh
chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời.
- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án có căn cứ và đúng
pháp luật.

8


- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật được đưa ra thi hành đúng pháp luật, kịp thời.
Như vậy, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn
nhân gia đình là những công việc cụ thể do pháp luật quy định đối với kiểm sát
viên trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng các vụ án hôn nhân,
gia đình (từ khi Tòa án thụ lý, chuẩn bị xét xử đến phiên tòa) nhằm kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng.
Còn về khái niệm "quyền hạn" được hiểu là quyền theo cương vị, chức
vụ cho phép [45]. Dưới góc độ pháp lý, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và
chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo
quy định của pháp luật [41, tr. 651].
Quyền hạn thông thường sẽ gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ
thể. Trong khoa học pháp lý, quyền hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức
trong bộ máy nhà nước hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó.
Quyền hạn của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định
giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó. Đối với

hiến định được hiểu là việc thường xuyên, nhất quán tuân thủ và chấp hành
các quy định của Hiến pháp, của các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp
luật khác của tất cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, của những
người có chức vụ, quyền hạn, của công dân.
Để đảm bảo việc kiểm sát các vụ án hôn nhân gia đình khách quan, công
bằng, đúng pháp luật thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Kiểm sát
viên phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối
với việc giải quyết vụ việc dân sự nên việc chỉ thực hiện những nhiệm vụ, quyền
hạn do pháp luật quy định.

10


Khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động giải quyết vụ án hôn nhân, gia đình của Tòa án nhân dân (TAND), Kiểm
sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát thông báo, quyết định và các văn bản
có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án; kiểm sát việc chuyển
giao các loại văn bản có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án;
kiểm sát việc chuyển giao các loại văn bản trên của Tòa án có đúng quy định
của BLTTDS hay không...
Thứ hai, nhiệm vụ, quyền hạn bảo đảm cho Kiểm sát viên thực hiện
tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người
tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình, góp
phần bảo đảm tính đúng đắn, khách quan của bản án, quyết định của Tòa án.
Là người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có những
quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định (quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị)
với vị trí pháp lý hoàn toàn khác với vị trí của các chủ thể tham gia tố tụng
để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá
trình tố tụng dân sự.
Khi tham gia phiên tòa, phiên họp kiểm sát viên đại diện cho VKSND

chứng, người phiên dịch...
1.3. Cơ sở xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong tố
tụng dân sự
Trong tố tụng dân sự, để xác định được nhiệm vụ, quyền hạn của
Kiểm sát viên cần dựa vào những yếu tố như: vị trí, vai trò của Kiểm sát viên
và Viện kiểm sát; tính chất của vụ việc dân sự; việc thực quyền tự định đoạt
của đương sự và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự; thực tiễn hoạt
động xét xử của Tòa án.

12


1.3.1. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát trong tố tụng
dân sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm
sát nhân dân (VKSND) kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng dân sự. Pháp
luật tố tụng dân sự quy đinh về sự tham gia của Viện kiểm sát trong các vụ án
dân sự tại phiên Tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Sự tham gia của Viện kiểm sát đóng
vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực thi đúng pháp luật của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND; nhiệm vụ, quyền hạn
của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo
quy định của pháp luật được quy định tại Điều 4 và Điều 27 của Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Theo quy định của pháp luật hiện hành,
VKSND không thực hành quyền công tố, không khởi tố vụ án dân sự, không
chủ trì thực hiện bất kỳ một giai đoạn tố tụng dân sự nào như TAND (cụ thể: thụ
lý vụ án, lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, hòa giải, ra các quyết định tạm đình
chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án, trưng cầu giám định…), mà chỉ kiểm sát hoạt
động tư pháp trong tố tụng dân sự, thể hiện rõ được cơ chế phân công, phối hợp,

luật tố tụng dân sự 2015).
1.3.2. Việc thực quyền tự định đoạt của đương sự và việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ của đương sự ảnh hưởng đến quy định của pháp luật về
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
Khác với pháp luật tố tụng hình sự giải quyết quan hệ giữa một bên là
Nhà nước, đại diện cho lợi ích công và một bên là người phạm tội do đó, trong
đó, VKS với vai trò đại diện Nhà nước ra cáo trạng buộc tội đối với bị cáo.
Pháp luật tố tụng dân sự giải quyết những tranh chấp các lợi ích tư giữa các
đương sự. Mục đích trực tiếp của pháp luật tố tụng dân sự là bảo vệ lợi ích tư

14


của các đương sự nên một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng
dân sự là trao quyền tự quyết cho đương sự - chủ thể của các lợi ích. Các chủ
thể tiến hành tố tụng chỉ thực hiện các nhiệm vụ làm sáng tỏ vụ việc để giải
quyết trên cơ sở pháp luật chứ không thay mặt cho đương sự quyết định những
lợi ích của chính họ. Do đó, trong tố tụng dân sự quyền tự định đoạt của đương
sự luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Việc tham gia tố tụng của Kiểm
sát viên nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được chính
xác, khách quan, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
nhưng không được hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự. Mọi cá nhân có
quyền tự mình lựa chọn những phương thức giải quyết tranh chấp dân sự miễn
sao không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Những biện pháp giải quyết tranh
chấp thay thế như hòa giải, thương lượng, trọng tài đều được khuyến khích.
Trong trường hợp không thỏa mãn với những giải pháp đó, các chủ thể có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. Trong suốt quá trình tố tụng kể từ khi khởi kiện
đến trước khi kết thúc phiên tòa, các đương sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút
yêu cầu của mình. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền tranh tụng, việc thực hiện

có nhược điểm về thể chất, tâm thần... luôn bị thua thiệt khi tham gia tố tụng)
nên sự tham gia vào quá trình tố tụng dân sự của VKS vẫn cần thiết trong giai
đoạn hiện nay. Hơn nữa, về nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân
sự là thuộc về các đương sự nhưng trong điều kiện thực tiễn Việt Nam, khi mà
trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn để tự chứng
minh bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án thì họ phải yêu cầu Tòa án thu
thập chứng cứ. Do đó, để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động xét xử,
Kiểm sát viên cần tham gia phiên tòa để kiểm sát chặt chẽ hoạt động xét xử của
Tòa án.

16


1.4. Khái quát nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong TTDS
qua các thời kỳ
1.4.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1959
Ngay từ sau Cách mạng tháng Tám, để xây dựng và củng cố chính quyền
cách mạng non trẻ, Nhà nước VNDCCH đã ban hành hàng loạt văn bản pháp
luật quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Pháp luật trong
giai đoạn này quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của công tố viên (kiểm
sát viên ngày nay) và công tố viện (Viện kiểm sát ngày nay) trong tố tụng dân sự
như sau:
Cuộc cải cách tư pháp ở nước ta lần thứ nhất: Sắc lệnh số 13 ngày
24/1/1946 về tổ chức Tòa và các ngạch thẩm phán theo quy định thẩm phán
được chia thành hai ngạch: sơ cấp và nhị cấp (trong đó, Thẩm phán ở ngạch đệ
nhị cấp được chia thành hai loại: thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội). Viện
kiểm sát (Công tố viện) lúc đó được ra đời ở Tòa thượng thẩm và chịu sự lãnh
đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Cơ quan công tố không được thành lập ở tòa đệ
nhị mà chỉ có cán bộ làm công tác biện lý. Trong giai đoạn này, Thẩm phán
buộc tội đã hợp thành một bộ phận độc lập và chịu sự lãnh đạo của Chưởng lý.

VKSND, Công tố viên cũng chính thức được thay thế bằng Kiểm sát viên. Do
đây là Luật Tổ chức VKSND đầu tiên của nước VNDCCH nên hầu như chưa có
sự tách biệt giữa nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên với nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát. Viện kiểm sát được tổ chức theo nguyên tắc tập trung
thống nhất từ trung ương đến địa phương và không phụ thuộc vào cơ quan
quyền lực và cơ quan hành chính địa phương. Ngoài chức năng công tố,
VKSND còn được giao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ các Bộ
trở xuống; trong đó có cả hệ thống các TAND. Quyền hạn và nhiệm vụ của
VKSND trong tố tụng dân sự được quy định cụ thể tại các Điều 17, 18 và 19

18


Luật tổ chức VKSND năm 1960. Theo quy định tại các điều trên thì VKSNDTC
và các VKSND địa phương có quyền:
- Khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên
quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân;
- Kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của TAND cùng
cấp và cấp dưới một cấp;
- Kiểm sát việc chấp hành các bản án và các quyết định của TAND.
Khi VKSNDTC thấy các bản án hoặc các quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của TAND các cấp là sai lầm thì có quyền kháng nghị. Khi VKSND địa
phương thấy các bản án hoặc các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND
cấp mình hoặc cấp dưới là sai lầm thì báo cáo lên VKSNDTC để kháng nghị.
Tiếp đến, ngày 13/7/1981, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức VKSND, trong
đó tại Điều 3 và Điều 13 có quy định cụ thể các hình thức tham gia kiểm sát xét
xử của Tòa án như tham gia tố tụng tại phiên tòa; kháng nghị các bản án quyết
định của Tòa án và khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và
đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân sự quan trọng có
liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của

kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, tỉnh và khu vực, điều tra viên của
Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ
nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Kiểm sát viên làm nhiệm vụ do Viện trưởng cấp
mình phân công theo Quy chế kiểm sát viên.”
Chỉ đến khi Luật tổ chức VKSND 2002 ra đời thì vai trò, nhiệm vụ của
Kiểm sát viên mới có sự tách bạch rõ ràng. Vị trí vai trò; nhiệm vụ quyền hạn
của Kiểm sát viên được quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật tổ chức VKSND
2002 và Pháp lệnh về Kiểm sát viên VKSND 2002. Cụ thể, tại các Điều 12, 13,
14 Pháp lệnh về Kiểm sát viên VKSND 2002 quy định: ” Kiểm sát viên thực

20


hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc
thẩm quyền Viện kiểm sát cấp mình theo phân công của Viện trưởng và chịu
trách nhiệm trước Viện trưởng. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Kiểm sát viên
khi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp do pháp luật quy
định. Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên phải tuân theo pháp luật và chịu sự
chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình, sự lãnh đạo thống
nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Kiểm sát viên có quyền từ
chối nhiệm vụ được giao khi có căn cứ cho rằng việc đó là trái pháp luật; nếu
Viện trưởng vẫn quyết định thì Kiểm sát viên phải chấp hành, nhưng Viện
trưởng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình; trong trường hợp này
Kiểm sát viên có quyền báo cáo lên Viện trưởng cấp trên trực tiếp và không phải
chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó; Kiểm sát viên phải
từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do pháp luật tố
tụng quy định; Trong phạm vi công tác được giao, Kiểm sát viên có quyền ra
quyết định, kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu theo quy định của pháp luật, trừ
những việc thuộc thẩm quyền của Viện trưởng.”

quyết các vụ án Hôn nhân gia đình
Pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên khi giải quyết các
vụ án Hôn nhân gia đình được quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014
Theo Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy
định nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc giải quyết vụ án
hôn nhân và gia đình: “(4). Tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm
của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của
pháp luật. (6) Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu,

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status