Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình từ thực tiễn huyện thanh oai, thành phố hà nội - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ ĐÔNG

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 8 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Am Hiểu

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm
bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận
trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN YĂN

ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.................36
2.1.

Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Oai và cơ cấu tổ chức của Tòa án

nhân dân huyện Thanh Oai...........................................................................................................36
2.2.

Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm

của kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn nhân, gia đình huyện Thanh Oai....................37
2.3.

Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong áp dụng các quy định pháp luật về
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn
nhân, gia

đình huyện Thanh Oai ..................................................................................................................49


2.4.

Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn

của Kiểm sát viên trong TTDS cũng như trong các vụ án hôn nhân gia đình .............................52

KẾT LUẬN....................................................................................................................63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................65
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

và gia đình nói riêng luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học và những người làm công tác
thực tiễn. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đều có

quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc

giải quyết các vụ việc dân sự. Thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung và kiểm
sát việc giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình nói riêng của Viện kiểm sát cũng đạt được kết quả nhất định, góp
phần giải quyết các vụ án nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật; qua đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp
của các đương sự.

Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng trong tố tụng dân sự nói chung cũng như trong quá
trình giải quyết vụ án hôn nhân gia đình nói riêng. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong tố
tụng dân sự kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay đã trải qua hơn 60 năm. Bước sang thế
kỳ thứ XXI, tiến trình cải cách tổ chức và hoạt động của VKSND trong đó có Kiểm sát viên trong lĩnh vực dân sự
đã được tiến hành ngày càng sâu rộng.

Ngày 12/3/2014, Ban chấp hành trung ương đã ban hành kết luận số 92 - KL/TW của Bộ chính trị về việc
tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị khoá IX và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 và điều chỉnh một số nội dung về quan điểm và nhiệm vụ cải các tư pháp nêu trong Nghị quyết số 49-

NQ/TW của Bộ chính trị như sau: bổ sung nội dung “kiểm soát” vào quan điểm 2.1 của Nghị quyết số 49-NQ/TW
và viết lại “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhàn
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa các
cơ quan trong việc thực hiện các hoạt động tư pháp. Về tổ chức Viện kiểm sát “ tiếp tục thực hiện chủ trương tổ
chức toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính” [9].
Như vậy, kết luận trên đã chỉ rõ nhiều nội dung cụ thể về cải cách tư pháp đòi hỏi phải được thể chế hóa,
tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát (VKS) nói chung cũng như vị trí,
nhiệm vụ, quyền hạn của VKS nói riêng trong tố tụng dân sự.


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

3


Những vấn đề lý luận và thực tiễn, các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình theo yêu cầu cải cách tư pháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình từ thực tiễn
Huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội; việc tổ chức thực hiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát
viên trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình trên thực tế và những quy định của pháp luật có liên quan
đến các vấn đề nêu trên. Phạm vi nghiên cứu thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong
giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình từ thực tiễn Huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, thời điểm lấy số liệu
từ năm 2013 đến nay.
5. phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước pháp luật; đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về đổi mới tổ chức hoạt động của VKS trong
điều kiện cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày
2/6/2005 của Bộ Chính trị và những thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học
Mác - Lênin; các khoa học chuyên ngành khác đặc biệt là khoa học về Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, chú
trọng đến phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ về lý luận cũng như thực trạng pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát
viên trong tố tụng dân sự nói chung và nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn
nhân và gia đình từ thực tiễn Huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội nói riêng, từ đó góp phần tiếp tục đổi mới




_ * A _ _

_

r

A

_ _ _



J

.1. Khái niệm nhiệm vụ, quyên hạn của Kiêm sát viên trong giải quyêt các vụ án hôn nhân và gia
đình
Hiến pháp năm 2013, BLTTDS 2015, Luật Tổ chức VKSNDTC đã khẳng định Kiểm sát viên là người
tiến hành tố tụng trong VKSND, thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự; tham
gia phiên toà xét xử vụ án dân sự (trong đó có các vụ án hôn nhân và gia đình), phiên họp giải quyết việc dân sự.
Mục đích của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là nhằm bảo đảm cho các hành vi
xử sự của các chủ thể tiến hành, tham gia tố tụng và văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự được
thực hiện theo quy định của pháp luật. Nội dung hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
là việc sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định để kịp thời phát hiện và loại bỏ vi phạm,
tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm cho pháp luật được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của

5


6


Như vậy, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình là những công việc cụ
thể do pháp luật quy định đối với kiểm sát viên trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng các vụ án
hôn nhân, gia đình (từ khi Tòa án thụ lý, chuẩn bị xét xử đến phiên tòa) nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của Tòa án và những người tham gia tố tụng.
Còn về khái niệm "quyền hạn" được hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ cho phép [45]. Dưới góc độ

pháp lý, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt

động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật
[41, tr. 651].
Quyền hạn thông thường sẽ gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ thể. Trong khoa học pháp lý, quyền
hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ
chức đó. Quyền hạn của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong

phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó. Đối với quyền của chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật
dân sự phải xuất phát từ sự thỏa thuận giữa các bên hoặc do pháp luật quy định.
Quyền hạn và nhiệm vụ là hai khái niệm khác nhau, song lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhiệm vụ
của Kiểm sát viên là việc phải thực hiện các chức năng tố tụng mà BLTTDS quy định, nếu không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nhiệm vụ thì tùy theo tính chất và mức độ giải quyết vụ việc dân sự sẽ không chính xác.
Tuy nhiên, khái niệm quyền hạn và nhiệm vụ đặt trong một điều kiện với một chủ thể xác định thì quyền hạn và
nhiệm vụ là tương đối thống nhất. Pháp luật quy định nhiệm vụ của Kiểm sát viên phải thực hiện những công việc
gì, đồng nghĩa là pháp luật trao cho Kiểm sát viên những quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ đó. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Kiểm sát viên nói chung được quy định trong Luật tổ chức VKS và Pháp lệnh Kiểm sát viên. Còn trong
tố tụng dân sự, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên được quy định cụ thể trong BLTTDS và các văn bản pháp
luật tố tụng dân sự có liên quan.
Như vậy, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự nói chung và trong giải quyết các vụ án hôn

tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá trình tố tụng dân sự.
Khi tham gia phiên tòa, phiên họp kiểm sát viên đại diện cho VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
VKSND được pháp luật tố tụng dân sự quy định. Đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, người tham
gia tố tụng. Vấn đề này được thể hiện rõ nét nhất tại phiên tòa mà chủ thể tiến hành là kiểm sát viên. Trong tố

8


tụng dân sự, VKS là chủ thể đặc biệt. Khi thực hiện chức năng giám sát hoạt động giải quyết vụ việc dân sự tại
phiên tòa, phiên họp trong phạm vi quyền hạn của mình, kiểm sát viên phải tiến hành theo trình tự, thủ tục mà
pháp luật quy định.
Thứ ba, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên được thực hiện thông qua chính hoạt động của Viện
trưởng VKS (trong một số vụ án, Viện trưởng VKS cũng tham gia với tư cách là Kiểm sát viên). Đứng đầu VKS
là Viện trưởng VKS. Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, Viện trưởng VKS có nhiều nhiệm vụ, quyền
hạn như: tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự;
quyết định phân công kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng, tham gia
phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; kiểm tra hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng của kiểm sát viên; quyết định thay đổi kiểm sát viên; kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định. Kiểm sát viên là một trong những người tiến hành tố tụng tham gia bảo
đảm tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết việc dân sự theo quy định của BLTTDS. Trong tố tụng dân sự,
kiểm sát viên khi được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự có
nhiệm vụ, quyền hạn như: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, giải quyết việc
dân sự của Tòa án. Đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự tân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về thủ tục, cũng
như nội dung; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng như: nguyên đơn, bị đơn, ngườ
i làm chứng, người phiên dịch...
1.3. Cơ sở xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự
Trong tố tụng dân sự, để xác định được nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên cần dựa vào những yếu tố
như: vị trí, vai trò của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát; tính chất của vụ việc dân sự; việc thực quyền tự định đoạt
của đương sự và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự; thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án.

các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng
tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi;Việc phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm: Sau khi
những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá

10


trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc
giải quyết vụ án. (Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).
1.3.2. Việc thực quyền tự định đoạt của đương sự và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự
ảnh hưởng đến quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
Khác với pháp luật tố tụng hình sự giải quyết quan hệ giữa một bên là Nhà nước, đại diện cho lợi ích
công và một bên là người phạm tội do đó, trong đó, VKS với vai trò đại diện Nhà nước ra cáo trạng buộc tội đối
với bị cáo. Pháp luật tố tụng dân sự giải quyết những tranh chấp các lợi ích tư giữa các đương sự. Mục đích trực
tiếp của pháp luật tố tụng dân sự là bảo vệ lợi ích tư của các đương sự nên một trong những nguyên tắc cơ bản của
pháp luật tố tụng dân sự là trao quyền tự quyết cho đương sự - chủ thể của các lợi ích. Các chủ thể tiến hành tố

tụng chỉ thực hiện các nhiệm vụ làm sáng tỏ vụ việc để giải quyết trên cơ sở pháp luật chứ không thay mặt cho
đương sự quyết định những lợi ích của chính họ. Do đó, trong tố tụng dân sự quyền tự định đoạt của đương sự
luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Việc tham gia tố tụng của Kiểm sát viên nhằm bảo đảm việc giải quyết
vụ việc dân sự của Tòa án được chính xác, khách quan, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
nhưng không được hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự. Mọi cá nhân có quyền tự mình lựa chọn những
phương thức giải quyết tranh chấp dân sự miễn sao không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Những biện pháp giải
quyết tranh chấp thay thế như hòa giải, thương lượng, trọng tài đều được khuyến khích. Trong trường hợp không
thỏa mãn với những giải pháp đó, các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự để

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong suốt quá trình tố tụng kể từ khi khởi kiện đến trước khi kết


khó khăn để tự chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án thì họ phải yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ.
Do đó, để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động xét xử, Kiểm sát viên cần tham gia phiên tòa để kiểm sát chặt
chẽ hoạt động xét xử của Tòa án.
1.4. Khái quát nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong TTDS qua các thời kỳ
1.4.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1959
Ngay từ sau Cách mạng tháng Tám, để xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, Nhà nước
VNDCCH đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Pháp luật trong giai đoạn này quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của công tố viên (kiểm sát viên ngày nay)
và công tố viện (Viện kiểm sát ngày nay) trong tố tụng dân sự như sau:
Cuộc cải cách tư pháp ở nước ta lần thứ nhất: Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức Tòa và các ngạch
thẩm phán theo quy định thẩm phán được chia thành hai ngạch: sơ cấp và nhị cấp (trong đó, Thẩm phán ở ngạch

12


đệ nhị cấp được chia thành hai loại: thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội). Viện kiểm sát (Công tố viện) lúc đó
được ra đời ở Tòa thượng thẩm và chịu sự lãnh đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Cơ quan công tố không được
thành lập ở tòa đệ nhị mà chỉ có cán bộ làm công tác biện lý. Trong giai đoạn này, Thẩm phán buộc tội đã hợp
thành một bộ phận độc lập và chịu sự lãnh đạo của Chưởng lý. Khi tham gia phiên tòa, "Biện lý ngồi ghế Công tố
viên". Sắc lệnh số 7/SL ngày 15/01/1946 còn quy định: "Đứng buộc tội, tùy quyết nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
sẽ là nhân viên của Công tố viện do Chưởng lý Tòa thượng thẩm chỉ định". Theo quy định của Sắc lệnh số 51/SL
ngày 17/4/1946 thì Công tố viện tham gia tố tụng dân sự dưới hình thức, đó là tham gia tố tụng đối với những vụ
án dân sự với tư cách là người thi hành quyền công tố (Điều 22 Sắc lệnh) và khởi tố vụ án dân sự (đứng là Chánh
tố - Điều 41 Sắc lệnh). Như vậy, công tố viện bước đầu được hình thành và nằm trong hệ thống của cơ quan Tòa
án với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố Nhà nước.
Công cuộc cải cách tư pháp lần thứ hai: bắt đầu vào năm 1950, Công tố viện được đặt dưới sự điều khiển
của Ủy ban kháng chiến hành chính. Trong giai đoạn này, Công tố viện nằm trong cơ cấu của cơ quan hành pháp;
cũng từ đây, các đường lối phạm vi hoạt động, sự tham gia tố tụng của Công tố viện được mở rộng sang các vụ
việc dân sự.

định của Tòa án và khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp
khởi tố những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng
của nhân dân.
Nhìn chung, cho đến năm 1989 trở về trước nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên và VKSND trong
tố tụng dân sự không được quy định trong các văn bản pháp luật nào khác ngoài Luật tổ chức VKSND.
1.4.3. Giai đoạn từ năm 1989 đến trước năm 2004
Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và hai đạo Luật tổ chức VKSND (1981, 1992) ra đời tiếp tục kế thừa và
quy định mới về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên cũng như của VKSND đáp ứng nhu cầu thay đổi của xã
hội đặc biệt là quá trình cải cách tư pháp trong giai đoạn toàn Đảng toàn dân bước vào xây dựng nền kink tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là thời kỳ đổi mới,
trên cơ sở Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND, là sự ra đời của Pháp lệnh trình tự giải quyết các vụ án dân sự
(1989), pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kink tế (1994), pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
(1996)...

14


So với Luật Tổ chức VKSND 1960 trước đây thì tại Luật Tổ chức VKSND 1981 và nhất là Luật Tổ chức
VKSND 1992, vị trí vai trò, nhiệm vụ của Kiểm sát viên đã có sự thay đổi nhưng vẫn chưa rõ nét và rạch ròi như
hiện nay. Điều 7 Luật Tổ chức VKSND 1992 quy định: ” Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội
bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc
hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc
hội và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội; Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
địa phương, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên Viện
kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, tỉnh và khu vực, điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân do Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Kiểm sát viên làm nhiệm vụ do Viện
trưởng cấp mình phân công theo Quy chế kiểm sát viên.”
Chỉ đến khi Luật tổ chức VKSND 2002 ra đời thì vai trò, nhiệm vụ của Kiểm sát viên mới có sự tách bạch

5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án.
6. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.
7. Kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ
quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng.
8. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.”
1.5 Pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên khi giải quyết các vụ án Hôn nhân gia đình
Pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên khi giải quyết các vụ án Hôn nhân gia đình được
quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014
Theo Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm
sát viên khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình: “(4). Tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu
quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật. (6) Kiểm sát
hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm

16


minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; (8). Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc giải
quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc
khác theo quy định của pháp luật”.
Theo quy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công
thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
“1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
2. Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự.
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc
dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ
luật này.
4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc theo quy

nghị;
- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy
định của pháp luật;

- Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoãn thi hành bản án, quyết định của Tòa án để xem xét kháng nghị

theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án khi thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;

- Tiếp nhận, giải quyết đơn đề nghị, thông báo, kiến nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thủ tục đặc biệt;
- Kiến nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo thủ tục đặc biệt;
- Kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của
pháp luật; kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; yêu cầu, kiến nghị cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; kiến nghị cơ
quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật trong quản lý nhà
nước và thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị khác theo quy định của pháp luật;

18


-Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của
pháp luật.
Như vậy, có thể chia nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong kiểm sát giải quyết vụ án Hôn nhân gia
đình thành các hoạt động sau:
1.5.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện
Khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:
“Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản
nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ
mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại,

của, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự.
Để VKS có thể thực hiện hoạt động kiểm sát thụ lý, Điều 196 BLTTDS 2015 quy định: "Trong thời hạn 3

ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án" [30].
Theo quy định này, mọi trường hợp thụ lý vụ việc dân sự đều phải thông báo cho VKSND cùng cấp. Khi nhận
được thông báo thụ lý vụ việc dân sự của Tòa án, VKS vào sổ theo dõi, kiểm tra văn bản thông báo thụ lý vụ việc
dân sự của Tòa án về hình thức và nội dung có đúng quy định không? VKS sẽ nắm số lượng vụ việc được Tòa án
thụ lý, sau đó tùy thuộc vào nội dung thông báo thụ lý mà VKS có thể xem xét việc thụ lý ở các khía cạnh thẩm
quyền, thời hạn để xác định việc thụ lý có vi phạm pháp luật hay không. Hoạt động kiểm sát việc thụ lý sẽ có
thuận lợi hơn trước đây. Điều này thể hiện ở chỗ VKS không phải chủ động sang Tòa án để nắm số liệu mà chỉ
tiếp nhận thông báo thụ lý để theo dõi quá trình giải quyết vụ việc, theo đó thực hiện việc kiến nghị hoặc kháng
nghị khi có vi phạm.
Trong giai đoạn này, công tác kiểm sát thụ lý vụ việc dân sự gồm hai nội dung chính sau đây:
Thứ nhất, kiểm sát việc xác định thẩm quyền của Tòa án sau khi nhận đơn khởi kiện để góp phần phát

hiện và khắc phục kịp thời tình trạng Tòa án xác định không đúng thẩm quyền dẫn đến việc thụ lý sai hoặc từ chối
việc thụ lý dù đúng thẩm quyền, dẫn đến tình trạng đùn đẩy việc thụ lý vụ án dân sự giữa các Tòa án.
Thứ hai, kiểm sát việc tiến hành các thủ tục thụ lý theo đúng quy định của BLTTDS. Như vậy hoạt động
thụ lý của VKSND có ý nghĩa rất quan trọng, nếu làm tốt công tác kiểm sát ngay từ khi thụ lý vụ việc dân sự có

20


nhiều tác dụng như: góp phần đảm bảo cho quá trình thụ lý giải quyết vụ việc của Tòa án được chính xác ngay từ
đầu; tạo quan hệ tích cực chặt chẽ giữa VKS và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; đồng thời chủ
động phòng ngừa, góp phần đảm bảo cho quá trình thụ lý giải quyết vụ việc của Tòa án được chính xác ngay từ
đầu; tạo quan hệ tích cực chặt chẽ giữa VKS và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; đồng thời chủ
động phòng ngừa, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất các sai lầm có thể xảy ra ngay từ thời điểm bắt đầu các
hoạt động tố tụng dân sự. Do đó, việc phát hiện kịp thời việc thụ lý vụ việc sai còn tránh được tình trạng phải tiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status