I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN èNH HềA
áP DụNG PHáP LUậT TRONG HOạT ĐộNG
XéT Xử CáC Vụ áN HÔN NHÂN Và GIA
ĐìNH - QUA THựC TIễN TỉNH PHú THọ
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2020
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN èNH HềA
áP DụNG PHáP LUậT TRONG HOạT ĐộNG
XéT Xử CáC Vụ áN HÔN NHÂN Và GIA ĐìNH
- QUA THựC TIễN TỉNH PHú THọ
Chuyờn ngnh: Lớ lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 8380101.01
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TS HONG TH KIM QU
H NI - 2020
xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình............................................ 7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật............................................... 7
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử
các vụ án Hôn nhân và gia đình......................................................... 14
1.2.
Quy trình và nội dung áp dụng pháp luật trong hoạt động
xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình.......................................... 17
1.2.1. Quy trình và nội dung áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuẩn
bị xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân........18
1.2.2. Quy trình và nội dung áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử
các vụ án Hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân....................... 23
1.3.
Các yếu tố tác động đến chất lƣợng, hiệu quả áp dụng pháp
luật trong hoạt động xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình......34
1.3.1. Yếu tố pháp luật..................................................................................34
1.3.2. Ý thức pháp luật của cán bộ áp dụng pháp luật trong hoạt động
xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình.....................................................34
1.3.3. Yếu tố đạo đức nghề nghiệp của của cán bộ áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình..........................34
1.3.4. Yếu tố ý thức pháp luật của người dân...............................................35
1.3.5. Các yếu tố tác động khác về kiểm tra, giám sát, áp dụng công
nghệ, kỹ thuật, tài chính, chế độ tiền lương, xử lý vi phạm
hoạt động xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình tại tỉnh Phú Thọ
60
Kết luận chƣơng 2........................................................................................ 67
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG, HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC
VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI TỈNH PHÚ THỌ 68
3.1.
Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật trong hoạt
động xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình
3.2.
68
Thực hiện các chƣơng trình bồi dƣỡng, tập huấn nghiệp vụ,
xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ Toà án về áp dụng
pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án Hôn nhân và gia
đình tại tỉnh Phú Thọ
71
3.3.
Nâng cao chất lƣợng bản án, quyết định của Tòa án...................74
3.4.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADPL:
Áp dụng pháp luật
BLDS:
Bộ luật dân sự
BLTTDS:
Bộ luật tố tụng dân sự
HĐXX:
Hội đồng xét xử
HN&GĐ:
Hôn nhân và gia đình
HTND:
Hội thẩm nhân dân
PBGDPL:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm trở lại đây, tình hình kinh tế - xã hội không ngừng
biến động, từ những biến động ấy dẫn đến các mối quan hệ trong xã hội cũng
biến đổi theo, quan hệ giữa con người với con người trong đó có quan hệ Hôn
nhân và gia đình (HN&GĐ) cũng bị tác động mạnh mẽ. Ngoài những ảnh
hưởng tích cực thì có một mặt mà quan hệ HN&GĐ bị tác động theo chiều
hướng xấu nghĩa là tình trạng ly hôn đang ngày một gia tăng. Theo số liệu
thống kê năm 2018 thì trong cả nước, số lượng các vụ án về HN&GĐ mà Toà
án phải thụ lý giải quyết khoảng 262.906 vụ việc, tăng khoảng 2.830 vụ so với
cùng kì năm trước [36].
Khái niệm “gia đình” đã được hình thành từ rất lâu, và nó phát triển
theo sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển của
loài người. Khi viết về gia đình, về hôn nhân và tình yêu nam nữ, Ăngghen
tán thành quan điểm của Moóc gan cho rằng: “Gia đình là một yếu tố năng
động; nó không nao giờ đứng nguyên ở một chỗ, mà chuyển từ một hình thức
thấp lên một hình thức cao, khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên
một giai đoạn cao” [14, tr.59].
Xét trên bình diện xã hội, ly hôn là tình trạng không mong muốn. Nếu
kết hôn là sự tự nguyện thì ly hôn đôi khi không phải là sự tự nguyện của cả
hai bên mà chỉ có một bên đơn phương xin ly hôn cũng vẫn được pháp luật
bảo vệ, Tòa án sẽ xem xét giải quyết. Ăngghen từng nói “Hôn nhân có thể bị
hủy bỏ tùy ý mỗi bên trong cặp vợ chồng ấy” [14, tr.59]. Hệ lụy của việc ly
hôn đầu tiên là nó phá vỡ một chính thể gia đình, sau đó nó sẽ có những tác
động đến tâm lý của con cái theo chiều hướng không tích cực. Ly hôn là một
biện pháp chấm dứt tình trạng mâu thuẫn trầm trọng
1
trong hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ nói riêng của ngành Tòa án luôn
2
luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học pháp lý
và họ đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao. Nó
giúp làm sáng tỏ mối liên hệ giữa lý luận với thực tiễn, làm sao để gắn lý luận
với thực tiễn và mang lại nhiều kết quả cho hoạt động xét xử các vụ án nói
chung và án HN&GĐ nói riêng.
Một số công trình khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu ở cấp độ
luận văn như:
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thu Hường (2014), ADPL trong
giải quyết án HNGĐ ở tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa
Luật - Đại học quốc gia Hà Nội.
Bài báo khoa học của tác giả Nguyễn Minh Hằng (2019), Công nhận hay
không công nhận quan hệ vợ chồng" (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4 (1));
Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật
HN&GĐ Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
Sách chuyên khảo dưới sự chủ biên của GS. TSKH. Đào Trí Úc (chủ
biên) (2002), Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Nxb
Khoa học Xã hội.
Tác giả Lưu Tiến Dũng với bài “Bàn về áp dụng pháp luật trong công
tác xét xử”, Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 5/2005.
Tác giả Thuỷ Nguyên với bài “Áp dụng luật hôn nhân gia đình khi giải
quyết vụ án có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Toà án nhân dân số 17 tháng 9/2005.
Một số bài viết của Giáo sư Hoàng Thị Kim Quế như: Quan niệm về
pháp luật - một vài suy nghĩ. Tạp chí NN và PL. Số 6 – 2006; Bàn về hiệu
+
-
Mục đích luận văn:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ADPL của TAND trong hoạt
+
động xét xử các vụ án HN&GĐ.
Nghiên cứu thực trạng ADPL của TAND trong hoạt động xét xử các
+
vụ án HN&GĐ ở tỉnh Phú Thọ.
Đề ra những giải pháp, kiến nghị để đảm bảo ADPL của TAND trong
+
hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ ở tỉnh Phú Thọ.
4. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng pháp luật của
+
TAND trong hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ.
Nghiên cứu, đánh giá những ưu điểm và hạn chế của hoạt động
+
Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn ADPL của
TAND trong hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ, làm rõ những đặc thù của
loại án này tại TAND ở tỉnh Phú Thọ.
-
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong quá trình
ADPL của TAND trong hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ, luận văn đề
xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao chất
lượng xét xử các vụ án HN&GĐ của TAND, đáp ứng nhu cầu công cuộc cải
cách Tư pháp hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
-
Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản là mới nhất về ADPL
trong hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ, về bản chất thì chính là ADPL
trong hoạt động xét xử của TAND trong hoạt động giải quyết án HN&GĐ
ở
tỉnh Phú Thọ.
-
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đáng kể cung cấp cơ sở lý
luận và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác giải quyết án
HN&GĐ, nhằm thực hiện thống nhất luật HN&GĐ, và góp phần nào đó để
giúp các cơ quan lập pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật để xây dựng Nhà
nước pháp quyền trong tình hình thực tế.
Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Kết hôn là
việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của
của luật HN&GĐ về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, Ly hôn
là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật của Tòa án [31].
Từ đó, có thể hiểu hôn nhân là sự gắn kết giữa một người nam và một
người nữ tạo thành mối quan hệ vợ chồng, tạo lập nên gia đình đó chính là “tế
bào” của xã hội.
Quan hệ này được pháp luật công nhận và bảo vệ dựa trên nguyên tắc
hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng, không trái với đạo đức xã hội, không trái
với các quy định của pháp luật. Hôn nhân được xác định bởi hai sự kiện pháp
lý đó là: kết hôn và chấm dứt hôn nhân (ly hôn).
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật chính là một hình thức thực hiện pháp luật. Do vậy,
trước tiên cần đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật là gì?
- Khái niệm và vai trò của thực hiện pháp luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Pháp luật XHCN là hệ
thống các quy phạm pháp luật (các quy tắc) có tính chất bắt buộc chung do
nhà nước XHCN ban hành (hoặc thừa nhận) theo một trình tự nhất định, và
7
bảo đảm bằng sức mạnh của mình, trong đó đặc biệt là sức mạnh cưỡng chế,
trực tiếp thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động; là công cụ có hiệu lực nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh [4].
Pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ là công cụ quản lý
xã hội cần thiết mà còn là vũ khí chính trị để chống lại thế lực thù địch. Pháp
luật XHCN được thể chế hoá từ đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản, là
những quá trình, cách thức làm cho các qui phạm pháp luật trở thành hành vi,
xử sự thực tế của các chủ thể pháp luật.
Vai trò của thực hiện pháp luật được thể hiện qua 4 hình thức như sau:
+
Tuân thủ pháp luật, còn gọi là tuân theo pháp luật, là một hình thức
thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành
nh ng hành vi mà pháp luật ngăn cấm.
Các chủ thể pháp luật phải có nghĩa vụ mang tính chất pháp lý là phải tuân
thủ pháp luật, không được thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm. Khi mà
nghĩa vụ ấy không được thực hiện thì họ chắc chắn sẽ bị xử lý bởi các chế tài
trong quy phạm pháp luật hoặc chịu hậu quả bằng một hình phạt cụ thể.
Ví dụ: Một người phạm tội “Trộm cắp tài sản” thì tùy từng trường hợp,
tùy mức độ vi phạm mà bị xử lý theo các quy định trong Bộ luật Hình sự hiện
hành. Các chế tài đó mang tính bắt buộc chung nghĩa là buộc các chủ thể phải
thực hiện từ đó mà việc tuân thủ pháp luật sẽ có tính răn đe cũng như giáo dục
phòng ngừa chung trong xã hội, từ đó mỗi chủ thể sẽ nhận thức được và sẽ
không vi phạm những điều mà pháp luật đã cấm. Tuy vậy, cũng có trường
hợp, cá nhân hay tổ chức tuy đã nhận biết được các quy định cấm của pháp
luật nhưng vẫn cố tình vi phạm do động cơ nào đó hoặc để đạt được mục đích
mà thấy rằng có lợi cho bản thân.
Cũng tương tự ví dụ vừa nêu, khi Pháp luật cấm hành vi “mua, bán trái
phép chất ma túy”. Do đó, Chủ thể “không được thực hiện hành vi mua, bán
9
chất ma túy” được xem là tuân thủ pháp luật. Và chủ thể thực hiện hành vi
thể này có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền đó, đây chính là đặc
điểm để so sánh giữa hình thức sử dụng pháp luật so với các hình thức thực
hiện pháp luật khác.
10
Ví dụ: Khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị B xâm phạm,
A có quyền khởi kiện B ra tòa án vì pháp luật trao cho A quyền được khởi kiện
B ra tòa án có thẩm quyền. Khi đó, A được xem là đang “sử dụng pháp luật”.
+
Áp dụng pháp luật, là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền
lực nhà nước, được thực hiện thông qua nh ng cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao
quyền, nhằm cá biệt hóa nh ng quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ
thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
Ví dụ: Khi A khởi kiện B ra tòa, Tòa án đó có trách nhiệm xem xét và
thụ lý đơn khởi kiện của A. Theo đó, Tòa án được xem là cơ quan “áp dụng
pháp luật”
Hiện nay, về góc độ học thuật thì các học giả Việt Nam có những quan
niệm về “áp dụng pháp luật” và có những cách tiếp cận khác nhau. Nhưng dù
có suy nghĩ như thế nào thì vẫn tồn tại một khái niệm chung thừa nhận rằng:
Áp dụng pháp luật là hình thức hoạt động mang tính tổ chức quyền lực của Nhà nước được thực hiện thông qua những cơ quan
nhà nước, cá nhân có thẩm quyền (được nhà nước trao quyền) theo
thủ tục, trình tự do pháp luật quy định nhằm cá biệt hoá những qui
phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, cơ
quan và tổ chức cụ thể [4, tr.283].
+
hành theo những quy trình được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự
(BLTTDS); hoặc việc xử phạt hành chính được điều chỉnh bởi những quy
phạm, thủ tục xử phạt hành chính. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
các bên có liên quan trong quá trình ADPL phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy
định về thủ tục luật định để đảm bảo quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức, đảm
bảo nguyên tắc pháp chế.
Trong từng trường hợp cụ thể, chủ thể áp dụng pháp luật phải thực hiện
hoạt động ADPL theo đúng những quy trình, thủ tục mà pháp luật đã quy
định. Tương ứng với từng lĩnh vực mà hoạt động ADPL có thể gây bất lợi
hoặc có lợi cho các đối tượng chịu sự điều chỉnh của luật. Từ đó, việc ADPL
phải thật chính xác đầy đủ để tránh tình trạng áp dụng không đúng quy định
của pháp luật dẫn đến hậu quả là làm thiệt hại cho đương sự, hoặc bản án bị
hủy, sửa nhiều lần.
12
+
ADPL là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã
hội. Bằng hoạt động ADPL, những quy phạm pháp luật chung được cá biệt
hóa, cụ thể hóa đối với những các nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể.
Trong từng trường hợp cụ thể xảy ra trong đời sống xã hội, những quy
phạm pháp luật nhất định được cá biệt hóa thông qua hoạt động ADPL. Mỗi
điều luật cụ thể đã dự liệu được sẵn tình huống này xảy ra trên thực tế, chủ thể
ADPL áp dụng một cách chính xác điều luật ấy ứng vào tình huống xảy ra
trong thực tế. Sau khi phân tích tình huống thực tế và xem xét các
quy định của pháp luật tương ứng phù hợp, các cơ quan nhà nước, cá nhân có
thẩm quyền sẽ đưa ra những “mệnh lệnh cá biệt” để đưa những quy phạm
sách pháp luật của Nhà nước. Các văn bản ADPL được ban hành chính là kết
quả của việc ADPL.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử
các vụ án Hôn nhân và gia đình
1.1.2.1. Khái niệm áp dụng pháp luật trong luật hoạt động xét xử các
vụ án Hôn nhân và gia đình
Hoạt động ADPL để xét xử các vụ án về HN&GĐ thực chất chính là
ADPL về HN&GĐ của TAND. Trước hết là nó một hoạt động ADPL, nên nó có
đầy đủ những đặc điểm chung của hoạt động ADPL nói chung, đồng thời có tính
đặc thù riêng của hoạt động ADPL về HN&GĐ do Tòa án áp dụng. Tòa án áp
dụng Luật HN&GĐ là ADPL nội dung, áp dụng BLTTDS là ADPL hình thức của
hoạt động giải quyết án HN&GĐ. Hoạt động đó bao gồm những bước đi theo
trình tự tố tụng chặt chẽ, là tiền đề quan trọng để quyết định chính xác các vấn đề
cần giải quyết đảm bảo hợp tình hợp lý, vừa phù hợp
ý
chí nguyện vọng của đương sự mà cũng phải đảm bảo đúng quy định của
pháp luật. ADPL về HN&GĐ của Tòa án là một hình thức ADPL do Tòa án
tiến hành, áp dụng quy phạm pháp luật để giải quyết các vụ án về HN&GĐ.
Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh
vực hôn nhân, gia đình, cụ thể là các quan hệ về nhân thân và quan hệ về tài
sản phát sinh giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân, giữa cha mẹ và các
con hoặc những thành viên khác trong gia đình. Như vậy, đối tượng điều
chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình là quan hệ về nhân thân và về tài sản
phát sinh giữa các thành viên trong gia đình:
14
-
ADPL trong xét xử án HN&GĐ được tiến hành theo một thủ tục chặt
chẽ do pháp luật tố tụng dân sự quy định nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp
của các bên đương sự.
-
ADPL trong xét xử án HN&GĐ là một hoạt động mang tính quyền
lực nhà nước, Nhà nước trao quyền cho Tòa án, Tòa án nhân danh Nhà nước
để lựa chọn các quy phạm pháp luật và ADPL trong xét xử án HN&GĐ.
-
ADPL trong xét xử án HN&GĐ là một hoạt động mang tính khoa học
15
và sáng tạo do Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực hiện. Chỉ có Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án HN&GĐ mới được áp dụng các quy
phạm pháp luật, sao cho phù hợp và khoa học để giải quyết vụ án HN&GĐ.
-
ADPL trong xét xử án HN&GĐ diễn ra trên phạm vi rộng với nhiều
vụ án đa dạng, phức tạp. Tuy cùng một loại án về HN&GĐ nhưng tính chất
từng vụ án cũng khác nhau, tình tiết, chứng cứ trong các vụ án cũng khác
nhau. ADPL của TAND trong giải quyết án HN&GĐ được thực hiện trong các
trường hợp sau:
Thứ nhất, khi cần truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi
phạm pháp luật về HN&GĐ hoặc áp dụng các biện pháp tác động khác. Ví dụ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tức là BTTDS năm 2015. Về nội
dung thì ngoài việc áp dụng Bộ luật dân sự (BLDS) hiện hành mà tùy từng vụ
án Tòa án áp dụng các luật nội dung có liên quan như Luật Hôn nhân và gia
đình, Luật đất đai... Theo quy định, khi đương sự nộp đơn đề nghị giải quyết
vụ án HN&GĐ đến TAND cấp có thẩm quyền, sau khi tiếp nhận đơn Tòa án
tiến hành phân loại và thụ lý giải quyết theo trình tự tố tụng, như điều tra thu
thập chứng cứ vụ án, lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng, ra các quyết định
hoặc ra bản án buộc các đương sự phải thực hiện.
1.2. Quy trình và nội dung áp dụng pháp luật trong hoạt động xét
xử các vụ án Hôn nhân và gia đình
Quá trình giải quyết một vụ án HN&GĐ bắt đầu từ khi Tòa án nhận
được khởi kiện của người khởi kiện và kết thúc khi Tòa án ra một phán quyết
bằng một quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ khi nhận được
đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn. Tòa
án phải tiến hành xem xét đơn khởi kiện và tiến hành các bước theo quy định
của BLTTDS. Từ khâu tiếp nhận đơn, xem xét đơn, thụ lý đơn, tiến hành thu
thập chứng cứ, thủ tục hòa giải và sau đó ra quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự hoặc ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Thủ tục hòa giải được tiến hành theo BLTTDS hiện hành. Các bên
đương sự được quyền trao đổi thỏa thuận với nhau về các vấn đề để giải quyết
17