ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH NGỌC THÚY
VỊ TRÍ, VAI TRÒ
CỦA THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
(TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH)
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRỊNH QUỐC TOẢN
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
phán Tòa án cấp huyện..................................................................101
KẾT LUẬN..................................................................................................104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................106
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một xã hội có giai cấp, có Nhà nước thì tất yếu phải có những thiết chế để
bảo vệ. Hệ thống Tòa án Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam
không nằm ngoài các thiết chế đó. Tại Điều 126 của Hiến pháp Nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam quy định: “Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài
sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân
phẩm của công dân”.
Như vậy, Tòa án là cơ quan thực thi công lý của một chế độ nhà nước.
Chức năng của Tòa án là xét xử, giải quyết các quan hệ nảy sinh trong thực
tiễn xã hội, mà ở đó, các Thẩm phán chính là những người đại diện cho Tòa
án để thực hiện các chức năng nêu trên.
Thẩm phán có vị trí, vai trò rất quan trọng, họ có nhiệm vụ cùng với
các cơ quan chức năng có liên quan góp phần làm cho xã hội hoạt động theo
các quy định của pháp luật. Ở Việt Nam, một đất nước có bề dầy lịch sử đấu
tranh dành và giữ nước, với mười bốn lần bị giặc ngoại ban xâm lấn và mười
bốn lần kiên cường chiến thắng. Người Việt Nam kiên cường, chịu thương,
chịu khó, thường sống theo lề lối phong tục tập quán, giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc, trọng tình hơn trọng lý. Chính vì vậy, việc hướng cho mọi người Việt
Nam sống và làm việc theo quy định của pháp luật là một việc làm khó khăn
cho hệ thống bộ máy nhà nước, trong đó có vai trò của Thẩm phán. Điều này
cho thấy người Thẩm phán Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam muốn làm tốt
vai trò mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó là “Phụng công, thủ pháp,
chí công, vô tư” và “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”, đòi hỏi họ phải có
luật quy định quyền ban hành các quyết định công nhận, hướng dẫn, dẫn dắt và
quyết định các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,
2
cơ quan tổ chức. Tại phiên tòa, với vai trò là người điều khiển phiên tòa, hướng
dẫn cho những người tham gia tố tụng trong vụ án thực hiện quyền tranh tụng
đúng pháp luật. Đặc biệt trong các vụ án hình sự, vai trò của Thẩm phán xét xử
được thể hiện rõ nét nhất. Chính tại phiên tòa, nơi diễn ra tất cả các quy trình của
sự tranh tụng, Thẩm phán là người điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng để việc
tranh tụng diễn ra một cách tôn nghiêm, có trật tự, đi đúng vào trọng tâm của vụ
án. Để từ đó, các chứng cứ, các sự thật khách quan của vụ án đều được đưa ra
làm rõ tại phiên tòa. Trên cơ sở tranh tụng khách quan, hội đồng xét xử (HĐXX)
sẽ áp dụng pháp luật một cách đúng đắn để đưa ra một bản án với các quyết định
hợp tình, hợp lý nhất. Với các quyết định của mình, cùng với các cơ quan liên
quan, Thẩm phán đã góp phần định hướng cho xã hội phát triển.
Từ khi được hình thành và phát triển đến nay, đội ngủ Thẩm phán nước ta
đã cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình, nổi bật nhất là trong xét
xử các vụ án hình sự. Họ đã góp phần xây dựng, ổn định trật tự chung của xã
hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XNCN. Bên cạnh đó, phải xác định rằng đội ngũ
Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) cấp quận, huyện có ảnh hưởng rất lớn đến
nhiệm vụ chính trị của hệ thống Tòa án nói riêng và của Bộ máy nhà nước nói
chung. Hiện nay, số lượng Thẩm phán TAND cấp quận, huyện là nhiều nhất so
với số lượng Thẩm phán cả nước và hàng năm, số lượng vụ án hình sự họ tham
gia làm chủ tọa phiên tòa là rất lớn. Mặt khác, cấp sơ thẩm là nơi tiếp cận đầu
tiên của một quá trình tố tụng nên có ảnh hưởng quan trọng đến những giai đoạn
tố tụng tiếp theo của một vụ án. Do đó, vị trí, vai trò của Thẩm phán TAND cấp
huyện trong xét xử các vụ án hình sự cũng là một nội dung rất quan trọng không
thể thiếu trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay như Nghị quyết số 49 của
Từ khi có chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã có
một số công trình nghiên cứu đề tài về cải cách tư pháp và năng lực của đội
ngũ thẩm phán. Cụ thể có thể kể đến một số công trình khoa học như: Cải
cách hệ thống tư pháp ở Việt Nam, đề tài cấp nhà nước độc lập, mã số: 92-98-
4
353 do ông Nguyễn văn Yểu làm Chủ nhiệm đề tài,1993; Người thẩm phán
nhân dân của Thông tin Khoa học pháp lý Viện Khoa học pháp lý, Bộ tư
pháp, 2002; Chuyên đề Cải cách tư pháp của Tạp chí Nghiên cứu lập pháp;
Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay do GS. TSKH
Đào Trí Úc chủ biên, Nhà xuáat bản Khoa học xã hội, 2002; Cải cách tư pháp
trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền do PGS.TSKH Lê Cảm, và
TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, Nxb ĐHQGHN, 2004; Thể chế tư pháp trong
Nhà nước pháp quyền của tập thể tác giả do PGS.TS.Nguyễn Đăng Dung chủ
biên. Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ
quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, luận án
tiến sỹ luật học, Đại học luật Hà Nội, 2003; Lê Thành Dương, Đổi mới tổ
chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay,
luận án tiến sĩ luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội,
2002; Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ thống Tòa án Việt Nam
theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền, luận án tiến sỹ của Đỗ Thị
Ngọc Tuyết, đã bảo vệ năm 2006 tại khoa Luật, ĐHQGHN. Đặc biệt là tháng
7/2009 với sự hỗ trợ của Chính phủ Ôxtrâylia, TANDTC đã cho ra mắt “Sổ
tay thẩm phán”. Sổ tay thẩm phán sẽ đóng góp cho quá trình hình thành nên
một hệ thống tư pháp hiệu quả, công bằng và minh bạch, tăng cường năng lực
thể chế của hệ thống tòa án thông qua việc nâng cao tính chuyên nghiệp của
Thẩm phán khi thực hiện các hoạt động tư pháp của mình. Sổ tay thẩm phán
cũng đóng góp vào sự độc lập của ngành Tòa án Việt Nam.
của Bộ máy nhà nước là đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp phục vụ cho sự
nghiệp phát triển đất nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các cơ sở lý luận về vị trí, vai trò của Thẩm
phán trong quá trình tố tụng xét xử các vụ án hình sự và thực tiễn xét xử để
6
tìm giải pháp tốt nhất nâng cao năng lực của đội ngũ Thẩm phán, từ đó nâng
cao vị thế của Thẩm phán, của hệ thống Tòa án đối với xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này trong phạm vi phân tích những chức năng, quyền
hạn và nhiệm vụ của Thẩm phán TAND cấp huyện trong quá trình xét xử các
vụ án hình sự, một trong những cách xử lý các hiện tượng nguy hiểm, đa dạng
và phức tạp nhất trong xã hội. Phân tích tìm ra những yếu tố nào tác động tích
cực, yếu tố nào tác động tiêu cực đến sự phát triển của hệ thống Tòa án nói
chung và nhất là đội ngũ Thẩm phán nói riêng, từ đó đề ra những tiêu chuẩn,
chuẩn mực để lựa chọn đề bạt Thẩm phán; những phương hướng giáo dục,
đào tạo trước khi và trong khi làm Thẩm phán. So sánh với cơ chế vận hành
hiện tại của hệ thống Tòa án có những đề xuất, kiến nghị những giải pháp
nhằm hoàn thiện nâng cao nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của Thẩm
phán, năng lực xét xử án hình sự của đội ngũ Thẩm phán TAND cấp quận,
huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu đề tài này góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, đổi
mới thượng tầng kiến trúc đề ngày càng phù hợp với cơ sở kinh tế hiện có,
làm tiền đề thúc đẩy kinh tế phát triển, đưa đất nước ngày càng tiến bộ để đủ
sức hội nhập quốc tế. Ý nghĩa cụ thể của cơ sở lý luận này không nằm ngoài
mục tiêu xây dựng đội ngũ Thẩm phán có đủ tầm, đủ tâm, đủ sức để đảm
Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lenin và
thực tiễn, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Thống
kê, phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh và điều tra điển hình để làm sáng
tỏ đề tài nghiên cứu.
8
6. Tính mới của luận văn
Nêu được những thực tiễn khách quan chính xác nhất tại địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong quá trình thực thi
nhiệm vụ của các Thẩm phán TAND cấp huyện. Những hạn chế này đúc kết
từ thực tiễn xác thực nhất được tham khảo từ các Thẩm phán có nhiều kinh
nghiệm trong xét xử. Đồng thời, luận văn cũng nêu lên được những kiến nghị
thiết thực nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và vị trí, vai trò của
Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
và cho hệ thống Tòa án nói chung, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư
pháp hiện nay.
7. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu sẽ có cái nhìn tổng quát chuyên sâu và thực tế nhất
về vị trí, vai trò của Thẩm phán, tình hình số lượng và chất lượng của Thẩm
phán xét xử án hình sự cấp quận, huyện tại thành phố hồ chí minh. Làm rõ
những nguyên nhân, khách quan lẫn chủ quan, làm hạn chế năng lực Thẩm
phán; rút ra được những yếu tố bất cập trong các quy định về chế độ chính
sách còn làm trì trệ hoạt động tố tụng. Từ đó nêu lên những kiến nghị thực tế
và có ý nghĩa để các cấp có thẩm quyền, các cơ quan có liên quan kịp thời
điều chỉnh các quy định liên quan đến hoạt động tố tụng của Tòa án (mà hiện
tại không còn phù hợp) để tạo điều kiện tốt nhất cho hệ thống Tòa án thực
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ
CỦA THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Địa vị pháp lý của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện
trong xét xử các vụ án hình sự
Khái niệm Thẩm phán
Quá trình tố tụng hình sự Việt Nam được chia thành nhiều giai đoạn
khác nhau, với nhiều cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau, mà trong đó vị trí,
vai trò của mỗi cơ quan là khác nhau. Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng được xác
lập quyền và nghĩa vụ thông qua các chủ thể khác nhau gọi là những người
tiến hành tố tụng.
Những người tiến hành tố tụng này có chức năng nhiệm vụ và quyền
hạn riêng nhưng đều có trách nhiệm là phát hiện nhanh chóng, chính xác và
xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không
làm oan người vô tội.
TAND là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng có vị trí và vai trò
quan trọng, là cơ quan cuối cùng kết thúc một quá trình tố tụng. Trong
TAND, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để thực thi nhiệm vụ
tố tụng của Tòa án.
Những người tiến hành tố tụng của Tòa án gồm có: Chánh án, Phó
Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký toà án.
Các quốc gia khác nhau thì cũng có các quy định khác nhau về quyền
hạn, chức năng, cách thức bổ nhiệm, kỷ luật, và đào tạo Thẩm phán. Thẩm
phán thực hiện việc xét xử một cách không thiên vị tại các phiên tòa công
khai. Thẩm phán nghe những người làm chứng và các bên trong vụ án trình
án, Hội thẩm. Trong các chức danh tư pháp thì Thẩm phán được xác định là
12
một chức danh tư pháp quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc thực
hiện quyền tư pháp. [38]
Theo Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán
là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử
những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Như vậy, chúng ta có thể rút ra khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán
là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp
lý của Thẩm phán khi tiến hành các hành vi tố tụng được pháp luật quy định.
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy, nội hàm địa vị pháp lý
của Thẩm phán trong tố tụng hình sự được phản ánh và thể hiện ở những
phương diện: Các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của Thẩm phán
trong tố tụng hình sự và các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn
của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Thẩm phán là một chức danh tư pháp quan trọng mang tính chuyên
nghiệp của Tòa án nói riêng và trong bộ máy nhà nước nói chung.
Hoạt động xét xử là yêu cầu khách quan, là một trong những chức năng
của nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước. Tuy nhiên, Thẩm
phán lại ra đời muộn hơn (chỉ vào cuối chế độ phong kiến, đầu chế độ tư bản
mới xuất hiện Thẩm phán).
Tính chuyên nghiệp của Thẩm phán trong hoạt động xét xử là một
trong những đặc tính quan trọng không những thể hiện trình độ cao về nghề
nghiệp của Thẩm phán mà còn khẳng định vị thế của Thẩm phán trong bộ
máy nhà nước và đối với xã hội. Ở nước ta, từ năm 2002, Pháp lệnh Thẩm
phán và Hội thẩm TAND đã ghi nhận Thẩm phán là một chức danh tư pháp
mà trước đó về mặt pháp lý Thẩm phán chỉ được coi là một chức vụ. Qui định
bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, bảo vệ tính
mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người dân. Mỗi phán quyết
của Thẩm phán có thể dẫn tới việc công dân, pháp nhân được hưởng quyền và
14
lợi ích hoặc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý nhất định. Đặc biệt là trong
lĩnh vực hình sự, phán quyết của Thẩm phán dẫn đến hậu quả pháp lý vô cùng
nghiêm trọng đối với người bị kết án. Sai lầm trong hoạt động xét xử của Thẩm
phán sẽ dẫn đến tình trạng xử oan, sai. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một
cá nhân mà có thể làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công
bằng của xã hội, vào pháp luật của Nhà nước ta. Với mọi người, Toà án không
chỉ là bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tượng của công lý, sự công bằng xã hội.
Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy vị trí trung tâm của Thẩm phán
trong hoạt động xét xử cũng như trong hoạt động tư pháp hình sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán là người đảm bảo sự
công bằng thông qua hoạt động xét xử và do vậy bảo vệ công bằng trong
hoạt động xét xử là yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động nghề nghiệp
của người Thẩm phán. Công bằng trong xét xử là công bằng đối với tất cả
mọi người bất kể người đó là ai, giữ cương vị gì, chức vụ gì đều phải xử lý
nghiêm minh theo đúng tội trạng và hậu quả của hành vi phạm tội. Công
bằng thể hiện ở việc không được thiên lệch, không được nhân nhượng về
bên nào; tất cả các đương sự, bị cáo không phân biệt thành phần xuất thân,
địa vị xã hội, thành phần kinh tế đều phải được bình đẳng như nhau trước
pháp luật; các hành vi, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Thẩm phán
nhìn nhận đánh giá một cách khách quan giữa hành vi phạm tội và trách
nhiệm trước pháp luật của tội phạm. Xác định tội danh đúng là tiền đề quan
trọng để cho việc quyết định hình phạt tương xứng, công bằng, phù hợp
pháp luật. Sự tương xứng ấy cũng khắc phục những mặc cảm, định kiến,
phán phải theo quy định của BLTTHS, bảo đảm mọi cá nhân, cơ quan, tổ
chức phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật.
- Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Thẩm phán trong
phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết
16
của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện
pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa.
- Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín
ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội
đều bị xử lý theo pháp luật.
- Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân. Không ai
bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của
Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người
phải theo quy định chặt chẽ của BLTTHS. Pháp luật nghiêm cấm mọi hình
thức truy bức, nhục hình.
- Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân.
Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, tài sản và Thẩm phán có nhiệm vụ đảm bảo các quyền
đó của công dân. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật.
Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng
như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm
phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì trong phạm vi chức năng của mình,
Thẩm phán phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định
của pháp luật.
như Tòa án, là người giữ vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp, là người
quyết định cuối cùng nhằm kết thúc chặng cuối cùng của các giai đoạn tố
tụng. Tuy nhiên, nếu chỉ một mình Thẩm phán thì không thể tiến hành tố
tụng, mà việc tiến hành tố tụng của Thẩm phán phải đặt trong mối quan hệ
với những người và cơ quan tiến hành tố tụng khác. Đó là mối quan hệ nội bộ
bên trong Tòa án và mối quan hệ bên ngoài (với các cơ quan tiến hành tố tụng
khác) trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
18
Mối quan hệ bên trong Tòa án
Đó là mối quan hệ với lãnh đạo, với các Thẩm phán khác, quan hệ với
Thư ký và các cán bộ khác của Toà án. Tùy theo với từng chủ thể khác nhau,
Thẩm phán có những vị trí, vai trò khác nhau.
Quan hệ với lãnh đạo Toà án: Trong mối quan hệ này, vừa thể hiện
tính chất của mối quan hệ hành chính, vừa thể hiện tính chất của mối quan
hệ tố tụng.
Chánh án, Phó Chánh án là những người lãnh đạo, quản lý mọi mặt
của cơ quan Toà án để đảm bảo hoạt động của Tòa án với vai trò là một cơ
quan xét xử của Nhà nước. Lãnh đạo điều hành hoạt động chung của cơ
quan, mà trong đó Thẩm phán là một thành viên của cơ quan, chịu sự chi
phối chung của hoạt động quản lý, điều hành đó. Thẩm phán phải chịu sự
phân công của lãnh đạo. Sự chấp hành này chỉ thể hiện trong mối quan hệ về
hành chính, không thể hiện trong lĩnh vực xét xử. Nghĩa là Thẩm phán được
độc lập về chuyên môn trong việc áp dụng pháp luật, mà Chánh án và Phó
Chánh án không được can thiệp vào. Đây là mối quan hệ hành chính giữa
lãnh đạo và Thẩm phán.
Mối quan hệ tố tụng giữa lãnh đạo và Thẩm phán chỉ thể hiện trong
một số phạm vi nhất định, được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như: Chánh