Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh) - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THANH SƠN
BIỆN PHÁP TƢ PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở các số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TSKH LÊ VĂN CẢM HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN


dùng chất kích thích mạnh khác 18
1.2. Khái niệm, các đặc điểm cơ bản của biện pháp bắt buộc chữa
bệnh trong luật hình sự 19
1.2.1. Khái niệm biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự 19
1.2.2. Các đặc điểm cơ bản của biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự 21
1.3. Sơ lƣợc các quy định về biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong lịch
sử lập pháp hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến
trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 của nƣớc ta 27
1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến trước khi ban hành Bộ
luật hình sự năm 1985 27
1.3.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta 28
1.4. Các quy định có liên quan về biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong
pháp luật hình sự của một số nƣớc trên thế giới 29
Chƣơng 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH. PHÂN
BIỆT BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH VỚI CÁC CHẾ
TÀI PHÁP LÝ HÌNH SỰ VÀ PHI HÌNH SỰ KHÁC 32
2.1. Khái quát quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về
năng lực trách nhiệm hình sự 32
2.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về biện pháp
bắt buộc chữa bệnh 41
2.3. Phân biệt biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong pháp luật hình sự
với các chế tài pháp pháp lý hình sự và phi hình sự khác 53
2.3.1. Với hình phạt 54
2.3.2. Với chế tài hành chính 58


STT: Số thứ tự
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TTLT: Thông tư liên tịch
THA: Thi hành án
TNHS: Trách nhiệm hình sự
VKS: Viện kiểm sát
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt
Nam hiện nay, một trong những mục tiêu đề ra và được thể hiện xuyên suốt trong
quá trình lập pháp nói chung và lập pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng đó
là chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, trừng trị, giáo dục,
cảm hoá người phạm tội, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội trong đó
giáo dục, phòng ngừa tội phạm là chủ yếu. Việc nghiên cứu để đưa ra các cơ chế

Trong bối cảnh các bài viết nghiên cứu có liên quan đến BPBBCB trong luật
hình sự Việt Nam là không nhiều và còn thiếu tính đồng bộ, trong đó đa số chỉ đề
cập một cách khái quát hoặc chỉ phân tích một vài khía cạnh của vấn đề, các cơ
quan chức năng dường như bỏ quên công tác tổng hợp, thống kê tình hình áp dụng
BPBBCB. Mặt khác, trong quá trình thu thập các số liệu có liên quan đến đề tài, khi
tác giả liên hệ với các cơ quan chức năng để được tiếp cận và thu thập số liệu thì
nhận được trả lời: i) Tòa án, Viện kiểm sát: đây là các số liệu không nằm trong chỉ
tiêu thống kê của ngành nên không thể có để cung cấp; ii) Phân viện giám định pháp
y tâm thần phía nam (Biên Hòa - Đồng Nai): đây là các số liệu hạn chế cung cấp
(Phân viện chỉ cung cấp cho các cơ quan chức năng có liên quan khi có yêu cầu)
còn đối với cá nhân như tác giả thì không được cung cấp. Chính vì những lí do đó
mà tác giả đã gặp không ít những khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài, đặc biệt
là trong việc tìm hiểu thực tiễn áp dụng. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả không
tìm thấy một tài liệu hay ấn phẩm nào nghiên cứu chuyên sâu của các nhà nghiên
cứu cũng như học giả Việt Nam về vấn đề "Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
trong luật hình sự Việt Nam". Nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, học giả Việt
Nam có liên quan đến BPBBCB trong luật hình sự Việt Nam chỉ là những nghiên
cứu dưới góc độ diễn giải, bình luận một cách khái quát đối với BPBBCB trong
công trình nghiên cứu chung về các biện pháp tư pháp theo luật hình sự Việt Nam
như: “Thực trạng quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp. Thực
tiễn áp dụng và một số đề xuất” [52] hoặc chỉ nhắc lại các quy định của pháp luật

3
đối với chế định về BPBBCB trong Bộ luật hình sự Việt Nam như: “Biện pháp tư
pháp trong Luật hình sự Việt Nam và vấn đề bảo vệ quyền con người” [24]. Hay chỉ
phân tích một vài khía cạnh về biện pháp này, chẳng hạn “Bàn về áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh” [41] hay “Về bắt buộc chữa bệnh và những thiếu xót cần
khắc phục” [18]. Việc nghiên cứu BPBBCB trong luật hình sự Việt Nam một cách
tổng thể dưới gốc độ quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 và thực tiễn
áp dụng biện pháp này của các cơ quan tố tụng trong những năm gần đây trên một

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999: Trong nội dung này, tác giả hướng tới việc
nghiên cứu các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về BPBBCB trong Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này trong
việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Qua việc làm rõ những nội dung trên, tác giả mong muốn hoạt động nghiên
cứu của mình sẽ góp phần làm rõ quy định có liên quan đến BPBBCB trong Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999. Đồng thời luận văn này cũng trình bày một số quy
định có liên quan đến BPBBCB của một vài nước, điều này sẽ giúp cho chúng ta có
thể đánh giá ưu, nhược điểm của các quy định về BPBBCB trong Bộ luật hình sự
hiện hành và học hỏi kinh nghiệm của các nước từ đó giúp cho hoạt động áp dụng
BPBBCB đạt hiệu quả mong muốn.
4. Phạm vi nghiên cứu
Ở một luận văn Thạc sĩ Luật, đề tài này sẽ nghiên cứu vấn đề về BPBBCB
theo quy định của pháp luật hình sự của Việt Nam. Tuy nhiên, đề tài chỉ nghiên cứu
vấn đề BPBBCB trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành. Nghĩa là đề tài giới hạn
phạm vi nghiên cứu trong khuôn khổ quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 về BPBBCB.
Trong giới hạn của đề tài, tác giả sẽ nghiên cứu quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam hiện hành về BPBBCB và thực tiễn áp dụng biện pháp này trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2007 đến 2012.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được nội dung và mục đích của việc nghiên cứu đề tài sử dụng chủ
yếu hai phương pháp là: phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp so sánh.

5
a. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Để diễn giải nội hàm của khái niệm
BPBBCB và để làm rõ các quy định có liên quan của pháp luật hình sự Việt Nam, tác
giả sử dụng phương pháp phân tích trong quá trình trình bày những nội dung này.
Phương pháp phân tích sẽ được sử dụng kết hợp cùng với phương pháp tổng hợp nhằm
giúp cho từng nội dung được trình bày trở nên logic và có căn cứ. Tác giả sẽ tổng hợp

Với mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sẽ được
bố cục thành ba phần gồm Lời nói đầu, phần nội dung gồm ba chương và Kết luận.
Cụ thể như sau:
Mở đầu
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa
bệnh theo Luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp góp phần nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh.
Kết luận
7
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM


phạm trong pháp luật hình sự
Khả năng của một người vào tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội họ nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và điều khiển
được hành vi đó thì được xem là có năng lực TNHS.
Do đó, có thể nói năng lực TNHS là năng lực của người có trạng thái sức
khỏe bình thường để hoàn toàn có khả năng nhận thức được tính chất thực tế
(tính nguy hiểm cho xã hội) và tính chất pháp lý (tính chất trái pháp luật hình sự)
của hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi ấy. Cũng cần lưu ý
rằng năng lực TNHS không đòi hỏi ở người thực hiện hành vi nhận thức được
tính chất pháp lý của hành vi, cụ thể như các trường hợp sai lầm về pháp luật thì
vẫn phải chịu TNHS. Trong trường hợp này chỉ đòi hỏi ở người thực hiện hành
vi nhận thức về tính thực tế và tính xã hội của hành vi. Năng lực TNHS là khả
năng nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi do mình thực hiện và khả năng điều
khiển hành vi đó theo những đòi hỏi và chuẩn mực của xã hội. Chỉ một người
nhận thức và điều khiển được hành vi của mình trong khi thực hiện tội phạm mới
bị coi là có lỗi và mới có khả năng tiếp thu những biện pháp tác động giáo dục
của xã hội và khi đó Nhà nước mới đặt ra vấn đề giáo dục, cải tạo họ. Một người
mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình trong khi thực hiện tội
phạm thì họ không có lỗi và không có khả năng cải tạo, giáo dục và không thể
trở thành chủ thể của tội phạm [49, tr.105].
Sống trong xã hội luôn luôn vận động và với cấu tạo sinh học đặc biệt vốn có
của con người đã có khuynh hướng hình thành và phát triển năng lực nói trên. Tuy
nhiên, trong thực tế cần phải trải qua quá trình hoạt động và dưới sự tác động nhất
định của giáo dục trong môi trường xã hội thì khả năng đó mới được hình thành một
cách đầy đủ. Đây cũng chính là một trong những lý do của việc quy định độ tuổi
chịu TNHS trong BLHS. Năng lực này có thể bị loại trừ hoàn toàn hay bị hạn chế

9
nếu tình trạng hoạt động của hệ thần kinh trung ương bị rối loạn do bệnh tật. Bởi
những lý do đó mà ngoài việc quy định độ tuổi phải chịu TNHS trong pháp luật

thể hiện thông qua khả năng được lựa chọn, quyết định và thực hiện hành vi của
mình trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Năng lực điều khiển hành vi của con
người trước hết được thể hiện ở chính năng lực của con người đó có khả năng lựa
chọn, cân nhắc, quyết định và thực hiện các biện pháp xử sự khi họ đứng trước
những biện pháp xử sự khác nhau trong đó có cả biện pháp xử sự hợp pháp hoặc
không hợp pháp và trong đó có cả biện pháp xử sự gây thiệt hại hoặc không gây
thiệt hại. Và trong trường hợp đó nếu người đó lựa chọn biện pháp xử sự gây thiệt
hại cho xã hội thì họ phải chịu TNHS về sự tự lựa chọn của mình. Do vậy, khả năng
điều khiển hành vi của người phạm tội có thể hiểu là khả năng cân nhắc, lựa chọn
và quyết định thực hiện hành vi. Và khả năng này xuất phát từ khả năng nhận thức
của người phạm tội.
Tuy nhiên, không phải ai khi được sinh ra, lớn lên và đạt đến một độ tuổi
nhất định cũng đều có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển được hành vi của
mình mà thực tế trong cuộc sống có một số trường hợp hai khả năng này có thể bị
loại trừ hoặc bị giảm sút do mắc các loại bệnh làm rối loạn hệ thần kinh trung ương.
Vì lý do đó mà trong khoa học Luật hình sự còn tồn tại tình trạng không có năng lực
TNHS và TNHS hạn chế.
1.1.1. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Như đã phân tích, người có trạng thái tâm sinh lý hoàn toàn bình thường sẽ
có năng lực TNHS khi đạt đến độ tuổi nhất định (tuổi chịu TNHS). Tuy nhiên, năng
lực này có thể sẽ không có hay có thể bị loại bỏ một phần hoặc toàn bộ do mắc một
số bệnh gây rối loạn hoạt động của não bộ. Vì vậy, có thể nói người không ở trong
tình trạng không có năng lực TNHS và TNHS hạn chế thì được xem là người có
năng lực TNHS. Trong thực tiễn áp dụng Luật hình sự việc kiểm tra điều kiện này
chỉ đặt ra đối với những trường hợp khi có căn cứ, chứng cứ nhất định để nghi ngờ
về hoạt động tâm thần của người có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.
Để xác định một người không có năng lực TNHS, thông thường có hai dấu
hiệu để xác định: thứ nhất, dấu hiệu y học (mắc bệnh); thứ hai, dấu hiệu tâm lý (mất
khả năng nhận thức hay khả năng điều khiển hành vi).



12
duy, cảm xúc và hành vi bao gồm những triệu chứng âm tính và dương tính, chúng
tác động và chi phối đến hành vi của người bệnh.

Triệu chứng dương tính thường gặp như: hoang tưởng, ảo giác,…

Triệu chứng âm tính thường gặp như: vô cảm, thu hẹp các mối quan hệ xã
hội, cảm xúc cùn mòn, giảm các thích thú và ngôn ngữ nghèo nàn, thu mình lại,…
Mức độ nặng nhất của bệnh tâm thần phân liệt làm cho người bệnh bị mất
hoàn toàn ý chí cũng như không thể kiểm soát được hành vi của mình. Do đó, việc
phạm tội trong trường hợp này, người đó hoàn toàn không có lỗi.
b) Bệnh động kinh
Động kinh (epilepsy; épilepsie) là một quá trình bệnh lý mạn tính đặc trưng
bằng sự xuất hiện của ít nhất hai cơn động kinh cách nhau 24 giờ. Bệnh động kinh
có các biểu hiện lâm sàng dưới đây:
- Về tư duy: trong hình thức, hay gặp tư duy lai dai, khó chuyển chủ đề (đặc
biệt ở những bệnh nhân bị bệnh lâu năm); trong nội dung, thường gặp các định kiến
và ý định muốn trả thù.
- Về hành vi tác phong: Trong các cơn động kinh bệnh nhân có nhiều
biểu hiện rối loạn hành vi tác phong (tùy vào loại cơn động kinh mà có những
biểu hiện đặc trưng).
- Người bệnh bị mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi
trong các trường hợp sau đây:
 Trong cơn động kinh tâm thần
 Cơn xung động động kinh
 Cơn rối loạn ý thức kiểu hoàn hôn (thường xảy ra sau cơn động
kinh toàn bộ cơn lớn)
 Sa sút trí tuệ do động kinh.
Do vậy, nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc các trường hợp bị

khác và cho bản thân họ. Hậu quả của việc thực hiện hành vi bị quyết định và chi
phối bởi yếu tố bệnh lý làm cho ý thức bị suy giảm. Do đó trong trường hợp này đã
loại trừ yếu tố lỗi của người bệnh khi họ thực hiện hành vi.
d) Rối loạn hoang tưởng
Rối loạn hoang tưởng có tên quốc tế là Delusional Disorder là một dạng rối
loạn tâm thần làm cho người bệnh có những ý tưởng, phán đoán sai lầm, không phù

14
hợp với thực tế khách quan nhưng người bệnh cho là hoàn toàn chính xác, không
thể giải thích phê phán được và chỉ mất đi khi bệnh thuyên giảm.
Các triệu chứng đặc trưng của bệnh rối loạn hoang tưởng:
 Người bệnh có thái độ đa nghi luôn luôn ngờ vực, lo ngại quá đáng việc
bị người khác tấn công. Vì thế, luôn giữ một khoảng cách đối với người đang nói
chuyện với mình. Đôi khi khoảng cách đó được biểu hiện bằng sự khiêm tốn thái
quá, hoặc bằng một sự hung hăng.
 Độc đoán, không có khả năng tự đánh giá bản thân, không cởi mở tiếp
nhận quan điểm của người khác.
 Người bệnh thường đa nghi, kiêu ngạo chuyên quyền, không có tính
khoan dung, luôn coi thường người khác, coi mình là trung tâm.
Có thể chia rối loạn hoang tưởng thành các loại sau đây: hoang tưởng được
yêu, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại (truy hại),
Trên thực tế, trong các dạng rối loạn hoang tưởng trên đây thì rối loạn hoang
tưởng bị hại (truy hại) chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các bệnh nhân bị mắc chứng
bệnh rối loạn hoang tưởng. Do luôn trong trạng thái tâm lý có người âm mưu xác
hại hoặc chống lại mình nên đây là dạng rối loạn hoang tưởng dễ dẫn đến việc thực
hiện tội phạm của người bệnh. Việc sử dụng bạo lực đối với những người mà người
bệnh cho là đang có ý định chống lại mình là do có sự tác động của yếu tố bệnh tật
mang lại (ảnh hưởng của những khiếm khuyết về thần kinh). Do đó, người thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có lỗi.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh

hành vi của họ như thế nào, cũng như tình trạng bệnh tật của người đó vào tại thời
điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hay nói cách khác để xác định tình
trạng năng lực TNHS của người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải căn
cứ vào kết luận của cơ quan giám định pháp y tâm thần (để kiểm tra người đó có
mắc bệnh tâm thần hay không? Khi thực hiện hành vi có trong trạng thái mắc bệnh
không? Nếu có mắc bệnh thì bệnh đó ảnh hưởng đến năng lực nhận thức và năng
lực điều khiển hành vi của người đó như thế nào ?[30, tr.61].
Trong thực tế, thông thường một người bị mất khả năng nhận thức ý nghĩa xã

16
hội của hành vi thì cũng mất đi năng lực điều khiển hành vi. Tuy nhiên, cũng có khi
năng lực nhận thức còn tồn tại nhưng không có khả năng điều khiển hành vi, không
có khả năng kiềm chế việc thực hiện những hành vi trái với các chuẩn mực xã hội
do mắc bệnh. Song, cả hai tình trạng nêu trên cũng đều thuộc tình trạng không có
năng lực TNHS.
1.1.2 Năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế
Một người tuy bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác nhưng bệnh đó không
làm cho họ mất đi hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
của mình, có nghĩa là họ vẫn có khả năng đó tuy nhiên ở mức độ không được như
người bình thường khác, nghĩa là trạng thái bệnh của họ nằm trong khoảng giữa của
năng lực TNHS của người bình thường và người không có năng lực TNHS.
Như vậy, nếu do mắc bệnh và bệnh này làm cho năng lực nhận thức hoặc
năng lực điều khiển hành vi bị giảm sút nhưng không mất hoàn toàn, một người
thực hiện tội phạm trong tình trạng ấy thì được coi là có năng lực TNHS hạn chế,
nghĩa là khi phạm tội người đó có mắc bệnh mà bệnh ấy làm cho họ nhận thức một
cách không đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như hậu quả
của hành vi mà họ gây ra thì được xem là người mắc bệnh và bệnh này làm hạn chế
khả năng nhận thức. Tình trạng bệnh làm cho họ trong trạng thái nửa tỉnh, nửa mê
hoặc cũng có thể trong trạng thái nhận thức được đầy đủ hành vi của mình nhưng họ
không thể điều khiển được hành vi (như: muốn nói nhưng không thể nói được;

độ ảnh hưởng của bệnh khi họ thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, không phải
lúc nào và trong mọi trường hợp cũng đều có thể xác định được tỉ lệ ảnh hưởng của
tình trạng bệnh đối với khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, vì
trên thực tế Hội đồng giám định pháp y tâm thần thường chỉ có thể xác định có hay
không có mắc bệnh và nếu có thì bệnh đó có ảnh hưởng đến khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi hay không.
Một vấn đề nữa được đặt ra là việc thực hiện tội phạm trong tình trạng say do
dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, ở mức độ khác nhau, có ảnh hưởng đến
khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi hay không? Người đó có phải
chịu TNHS không ?

18
1.1.3. Năng lực trách nhiệm hình sự trong tình trạng say do dùng rượu
hay dùng chất kích thích mạnh khác
Trong thực tế cho thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng say bởi nhiều lý do
khác nhau, có thể say do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác như ma
túy, cồn, và tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
giữa các tình trạng say này cũng ở các mức độ khác nhau. Trong đó có những
trường hợp mất hoàn toàn khả năng, có những trường hợp chỉ mất một phần khả
năng do đó đã dẫn đến tình trạng điều khiển hành vi không chính xác. Theo quy
định của pháp luật hình sự hiện hành của nước ta thì những người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng say (say do dùng rượu hoặc dùng các chất
kích thích mạnh khác) vẫn phải chịu TNHS. Tuy nhiên, trong khoa học Luật hình sự
hiện nay vấn đề này vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Người say rượu vẫn coi là có năng lực TNHS
(mặc dù trong thực tế họ mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
tại thời điểm thực hiện tội phạm). Bởi vì khi tự đặt mình vào trong tình trạng say, họ
là người có năng lực TNHS, nhưng họ đã tự tước bỏ đi khả năng nhận thức và khả
năng điều khiển hành vi của mình, họ tự đặt mình vào trong tình trạng say đó. Chính
vì lý do đó mà họ được xem là người có lỗi đối với tình trạng say của mình nên cũng

Việc quy định BPBBCB xuất phát từ chính sách nhân đạo sâu sắc của Nhà nước,
đảm bảo quyền được điều trị về y tế của công dân, đặc biệt là khi họ mắc bệnh đến
mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì tự bản thân họ
không thể lựa chọn được biện pháp chữa bệnh và không có khả năng để chi trả cho
việc chữa bệnh. Đồng thời việc quy định biện pháp này cũng nhằm phòng ngừa khả
năng gây thiệt hại cho trật tự an toàn xã hội [24, tr.29].
Bộ luật hình sự hiện hành không nêu khái niệm thế nào là BPBBCB. Chính
vì nguyên nhân này mà dưới góc độ lý luận hiện nay còn nhiều quan điểm không
thống nhất xung quanh khái niệm về biện pháp tư pháp này, chẳng hạn:
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn thì: “Bắt buộc chữa
bệnh là buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hay đang chấp hành
hình phạt và đang mắc bệnh tới mức mất năng lực TNHS do mắc bệnh tâm thần
hoặc bệnh khác phải vào cơ sở điều trị chuyên khoa để chữa bệnh” [23, tr.12].

20
Tác giả Nguyễn Thị Ánh Hồng: “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là
biện pháp buộc người bị mắc bệnh tâm thần đến mức mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi phải vào một cơ sở điều trị chuyên khoa đề bắt buộc
chữa bệnh.” [24, tr.28].
Tác giả Đinh Văn Quế khi bình luận về biện pháp này thì cho rằng: “Bắt
buộc chữa là một biện pháp buộc người phạm tội phải chữa bệnh trong một cơ sở
chuyên khoa y tế do các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định tùy theo giai đoạn tố
tụng”

[34, tr.221; 37, tr.292].
Hay“ Bắt buộc chữa bệnh là biện pháp tư pháp được BLHS quy định, do Tòa
án hoặc Viện kiểm sát áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình” [ 46, tr.253].
Thiết nghĩ, các quan điểm trên về BPBBCB chưa bao quát hết nội hàm của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status