Hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Phú Thọ) - Pdf 29


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HÀ THANH LOAN
HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ,
TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Ngọc Quang

HÀ NỘI - 2014 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn

MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH
PHẠT TÙ, TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT
TÙ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
9
1.1.
Những khái niệm về hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình
chỉ chấp hành hình phạt tù
9
1.1.1.
Khái niệm và bản chất về hoãn chấp hành hình phạt tù
9
1.1.2.
Khái niệm và bản chất về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
13
1.1.3.
Mục đích và ý nghĩa của việc hoãn chấp hành hình phạt tù,
tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
15
1.2.
Mối quan hệ giữa thi hành án hình phạt tù với hoãn chấp hành
hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
17
1.2.1.
Mối quan hệ giữa thi hành án hình phạt tù với hoãn chấp hành
hình phạt tù

2.1.2.
Quy định của pháp luật hình sự về tạm đình chỉ chấp hành
hình phạt tù
33
2.2.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoãn chấp hành
hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
39
2.2.1.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoãn chấp hành
hình phạt tù
39
2.2.2.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tạm đình chỉ chấp
hành hình phạt tù
45
2.3.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù,
tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
50
2.3.1.
Tình hình hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành
hình phạt tù từ năm 2009 đến 2013 tại địa bàn tỉnh Phú Thọ
51
2.3.2.
Những hạn chế, tồn tại trong hoãn chấp hành hình phạt tù,
tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
59

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG

78

6 DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Thống kê người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt
tù từ năm 2009 - 2013
53
2.2
Thống kê người bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành
hình phạt tù từ năm 2009 - 2013
55 7
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thi hành án hình sự ở Việt Nam thì hình phạt tù có thời hạn là
một trong các hình phạt thể hiện rõ nhất chính sách hình sự và nguyên tắc của
Nhà nước đối với người phạm tội, đồng thời ngăn ngừa người phạm tội tiếp
tục phạm tội, động viên, khuyến khích người phạm tội chứng tỏ khả năng giáo
dục, cải tạo người phạm tội. Hình phạt tù có thời hạn là nhằm tách người

các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, hiện nay trên thực tế do hệ thống
cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự còn nhiều phân
tán, nhiều đầu mối, chưa tập trung quyền lực nên thiếu sự chỉ đạo điều hành,
kiểm tra thống nhất, quy chế phối hợp giữa các cơ quan còn chưa rõ ràng làm
giảm hiệu quả và hiệu lực quản lý. Do thiếu sự quy định trách nhiệm cụ thể,
thiếu sự kiểm tra, đôn đốc thường xuyên trong các cơ quan chức năng quản lý
Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự nên dẫn đến tình trạng quản lý
lỏng lẻo, nhiều đối tượng đã bị Tòa án kết án bằng bản án và quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không được thi hành. Trong thi hành
án hình sự việc nghiên cứu từng hình phạt cũng như các biện pháp tha miễn
cụ thể vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ, có hệ
thống và toàn diện. Pháp luật về thi hành án hình sự còn chưa kịp thời thể chế
hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước. Mặt khác, trong thực tiễn áp dụng, do
chưa có sự thống nhất trong việc áp dụng các biện pháp tha miễn trong luật
hình sự như hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
nên vẫn còn tình trạng áp dụng không đúng các quy định của chế định này, vi
phạm về nội dung, điều kiện, phạm vi áp dụng dẫn đến giảm hiệu quả trong
công tác thi hành án hình sự.
Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu một cách có hệ
thống, tìm hiểu sâu hơn những vấn đề lý luận cơ bản về hoãn chấp hành hình

9
phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Trên cơ sở đó tiến hành tổng kết
có đầy đủ hơn, đưa ra những kinh nghiệm thành công cũng như chưa thành
công của thực tiễn công tác hoãn chấp hành phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành
hình phạt tù, các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự hiện hành và
giải quyết những vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về hoãn chấp hành hình
phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù ở nước ta hiện nay có ý nghĩa cả
về mặt lý luận và thực tiễn.

năm 1999 và có những đề xuất, giải pháp để ngày càng hoàn thiện các chế
định trên. Ngoài ra còn phải kể đến các bài viết đăng trên các báo, tạp chí
chuyên ngành Luật như: "Việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự đối
với người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo Luật thi hành
án hình sự", của tác giả Đỗ Văn Chỉnh và Phạm Thị Thanh Mai đăng trên tạp
chí Tòa án nhân dân, số 07/2011… Đây là những công trình nghiên cứu toàn
diện cả về lĩnh vực thi hành án hình sự, trong đó có hoãn chấp hành hình phạt
tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, những nghiên cứu trên
chưa thể hiện tính chuyên sâu trong nghiên cứu về lĩnh vực hoãn chấp hành
hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Trong công cuộc xây dựng
Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, nhất là khi thực hiện chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, vấn đề nghiên cứu chuyên sâu về từng lĩnh
vực cần được làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn là cơ sở cho việc
hoàn thiện các quy định của pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm
đình chỉ chấp hành hình phạt tù góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác thi
hành án hình sự, đặc biệt trong việc thực hiện các biện pháp tha miễn trong
luật hình sự trên cơ sở thực hiện tốt nguyên tắc nhân đạo của Luật hình sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ
thống các quy định của luật hình sự về các điều kiện áp dụng biện pháp hoãn

11
chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cũng như công
tác, tổ chức thi hành các biện pháp này theo luật hình sự Việt Nam hiện nay,
thực tiễn áp dụng các chế định này tại địa bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó xác định
những bất cập, hạn chế. Trên cơ sở đó để đề xuất, kiến nghị giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ
chấp hành hình phạt tù, đồng thời đưa ra được các giải pháp góp phần hoàn
thiện các quy định của Pháp luật về các chế định này và thực hiện tốt nguyên
tắc nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam, chính sách khoan hồng của Nhà

hình sự Việt Nam, thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2009
đến 2013 trên cơ sở những quy định của Luật hình sự và các quy định pháp
luật khác về hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt
tù. Ngoài ra trên cơ sở các quy định của Luật hình sự được Quốc hội nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 21-12-1999, có
hiệu lực từ ngày 01-7-2000, được sửa đổi bổ sung năm 2009, chúng tôi đưa ra
những đánh giá về vấn đề công tác hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ
chấp hành hình phạt tù trong thời gian tới.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và
Nhà nước về thi hành án hình sự, về đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng
như các thành tựu khoa học khác như Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật
thi hành án hình sự và triết học, những luận điểm khoa học trong các công
trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một
số nhà khoa học trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
Luận văn còn sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về
mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, trong đó là các phương pháp nghiên cứu
như: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp
lịch sử cụ thể, phương pháp luật so sánh… Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài

13
còn dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước và những giải thích thống
nhất có tính chất chỉ đạo của công tác hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình
chỉ chấp hành hình phạt tù.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích, đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề về
thực trạng thi hành biện pháp hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp
hành hình phạt tù trong luật hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu của địa bàn
tỉnh Phú Thọ từ 2009 - 2013.

Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. 15
Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ,
TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ,
TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
1.1.1. Khái niệm và bản chất về hoãn chấp hành hình phạt tù
Về nguyên tắc, khi bản án có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan
Nhà nước, tổ chức, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng,
người bị kết án phải chấp hành nghiêm chỉnh theo đúng các quy định của
pháp luật về hình phạt. Đây là một nguyên tắc đã được ghi nhận trong Hiến
pháp, điều này thể hiện tầm quan trọng của vấn đề thi hành án nói chung và
thi hành bản án phạt tù có thời hạn nói riêng. Tuy nhiên vì những lý do nhất
định (đặc biệt) thuộc về nhân thân người bị kết án, hoàn cảnh, điều kiện gia
đình hoặc nhu cầu công vụ nên người bị kết án phạt tù chưa thể đi thi hành án
ngay được và người bị kết án có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù.
Nghiên cứu các quy phạm pháp luật hình sự ở nước ta về chế định
hoãn chấp hành hình phạt tù cho thấy kể từ khi thành lập nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam cho đến trước khi Bộ luật hình sự đầu tiên được
Quốc hội thông qua năm 1985, vấn đề hoãn chấp hành hình phạt tù chưa được
quy định trong một văn bản pháp luật hình sự nào. Vì vậy, trên thực tế, vấn đề
hoãn chấp hành hình phạt tù chưa được đề cập nghiên cứu ở giai đoạn này.
Lần đầu tiên, vấn đề hoãn chấp hành hình phạt tù được quy định tại Điều 69
Bộ luật hình sự năm 1985. Tại điều luật này đã quy định điều kiện để hoãn

điểm định làm việc gì đó sang thời điểm khác muộn hơn" [15, tr. 550]. Dưới
góc độ luật hình sự thì "hoãn" là tạm dừng, chưa phải chấp hành một quyết
định nào đó của cơ quan có thẩm quyền mà lẽ ra mình phải bị chấp hành.

17
Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì nhà làm luật đã sử dụng
thuật ngữ "Hoãn thi hành án phạt tù" để quy định về việc chuyển thi hành án
hình phạt tù cho người bị kết án sang thời điểm muộn hơn. Mặc dù trong điều
luật cụ thể thì các nhà làm luật vẫn sử dụng cụm từ "Hoãn chấp hành hình
phạt". Sau này, tại Bộ luật hình sự 1999 các nhà làm Luật đã sửa đổi thành
cụm từ " Hoãn chấp hành hình phạt tù". Thực tế nghiên cứu và áp dụng pháp
luật hình sự Việt Nam cho thấy, từ trước đến nay chưa hề xuất hiện một định
nghĩa pháp lý về hoãn chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên ở các mức độ khác
nhau, trong khoa học Luật hình sự Việt Nam cũng có những nghiên cứu và
cách hiểu khác nhau về khái niệm hoãn chấp hành hình phạt tù. Theo quan
điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng: "Hoãn chấp hành hình phạt tù
là việc chuyển thi hành hình phạt tù sang thời điểm muộn hơn" [34, tr. 313].
Cũng có quan điểm nhấn mạnh ý nghĩa và điều kiện áp dụng khi nêu
"Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của
Luật hình sự Việt Nam. Chế định này được áp dụng trong những trường hợp
người bị kết án bị bệnh nặng, là phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ, là người
lao động duy nhất trong gia đình hoặc nhu cầu công vụ"… [12, tr. 451]. Còn
theo quan điểm của TSKH.PGS. Lê Cảm: "Hoãn chấp hành hình phạt tù là
việc tạm dừng lại trong một thời hạn nhất định việc chấp hành hình phạt tù
của người bị kết án nếu người này chưa chấp hành hình phạt đó" [14, tr. 794].
Hay quan điểm của TS.Trịnh Tiến Việt:
Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Tòa án cho phép người
bị kết án chuyển việc thi hành án phạt tù sang thời điểm muộn hơn.
Nói một cách khác, đó là việc cho phép người bị kết án tiếp tục
sống và làm việc ngoài xã hội, chưa buộc người này phải vào trại

- Đối với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng và do nhu cầu công vụ -
có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù đến một năm.
Từ những phân tích nghiên cứu trên đây và tham khảo một số quan
điểm về hoãn chấp hành hình phạt tù, đồng thời, trên cơ sở thực tiễn công tác

19
áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về hoãn chấp hành hình phạt
tù, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về hoãn chấp hành hình phạt tù như sau:
Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc tạm dừng lại trong một thời hạn nhất
định việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án nếu người này chưa
chấp hành hình phạt tù đó. Từ định nghĩa khoa học của khái niệm hoãn chấp
hành hình phạt tù nêu trên, có thể khẳng định bản chất pháp lý của chế định
này: Hoãn chấp hành hình phạt tù là một chế định nhân đạo của luật hình sự
Việt Nam và được thể hiện ở chỗ - Tòa án quyết định tạm dừng lại việc chấp
hành hình phạt tù đã được tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối
với người bị kết án (nhưng chưa chấp hành hình phạt đó) trong một thời gian
nhất định khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy
định [1, tr. 795].
1.1.2. Khái niệm và bản chất về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
Tương tự như "Hoãn chấp hành hình phạt tù", khái niệm "tạm đình chỉ
chấp hành hình phạt tù" từ trước đến nay cũng chưa được ghi nhận trong
Pháp luật hình sự thực định hiện hành. Nếu như chế định "hoãn chấp hành
hình phạt tù" lần đầu tiên được pháp luật ghi nhận tại Bộ luật hình sự 1985 thì
"Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù" lần đầu tiên được quy định tại Bộ luật
tố tụng hình sự 1988.
Theo Từ điển Tiếng việt, "tạm" có nghĩa là "làm việc gì chỉ trong một
thời gian nào đó, khi có điều kiện thì sẽ có thay đổi" [15, tr. 1099]. "Đình chỉ" có
nghĩa là "ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời gian" [15, tr. 412].
Dưới góc độ luật hình sự thì "tạm đình chỉ" là tạm dừng lại việc thực hiện một
quyết định nào đó của cơ quan có thẩm quyền mà lẽ ra mình phải bị chấp hành.

Tòa án cho phép người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam được
tạm dừng việc ở lại trại giam để chấp hành hình phạt. Chúng đều chỉ có thể được
áp dụng đối với người bị kết án trong mỗi trường hợp cụ thể tương ứng. Ba là,
người bị kết án khi được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được trả tự do nếu

21
không bị giam giữ về một tội phạm khác khi có những điều kiện cụ thể do Bộ
luật hình sự quy định. Điều này có nghĩa chế định này không thể được áp dụng
một cách tùy tiện mà chỉ có thể được áp dụng khi có các căn cứ nhất định.
Không chỉ chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mới có điều
kiện để áp dụng mà tất cả các chế định nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam
đều có những điều kiện riêng để áp dụng. Những điều kiện áp dụng đối với
từng chế định còn thể hiện sự phân hóa trong việc xử lý tội phạm và người
phạm tội. Điều này thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với người
phạm tội, bên cạnh mục đích trừng trị còn có mục đích giáo dục, ngăn ngừa
và cải tạo người phạm tội.
Về bản chất pháp lý của chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
có thể hiểu như sau:
Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là một chế định nhân
đạo của Luật hình sự Việt Nam và được thể hiện ở chỗ - Tòa án quyết
định dừng lại việc chấp hành hình phạt tù đã được tuyên trong bản án
kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án đang chấp hành
hình phạt đó trong một thời hạn nhất định khi có đầy đủ căn cứ và
những điều kiện được quy định trong pháp luật hình sự [1, tr. 796].
Từ những phân tích trên đây, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những điểm
hợp lý trong các khái niệm về chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và
những vấn đề đã được thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm nghiệm, có thể rút ra
định nghĩa khoa học về chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù như sau:
Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc tạm dừng lại trong một thời gian nhất
định việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án đang chấp hành hình phạt đó.

điều kiện chấp hành hình phạt và đạt được mục đích đặt ra của hình phạt.
Xuất phát từ tính chất nhân đạo, tôn trọng quyền con người của chính sách
hình sự nói chung và của chế định hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ
chấp hành hình phạt tù nói riêng, việc Tòa án cho người bị kết án hoãn chấp
hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có ý nghĩa chính trị -
xã hội, pháp lý rất quan trọng.

23
Về mặt thực tiễn, nếu Tòa án áp dụng đúng đắn và chính xác trong
thực tiễn các quy phạm của chế định hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình
chỉ chấp hành hình phạt tù sẽ đưa đến một loạt các lợi ích xã hội, đó là việc
tăng cường pháp chế và củng cố trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền
và tự do của con người, nâng cao uy tín của ngành Tòa án, tăng thêm lòng tin
của các tầng lớp nhân dân vào tính công minh và sức mạnh của pháp luật.
Về mặt chính trị - pháp lý: với chế định hoãn chấp hành hình phạt tù,
tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, một mặt góp phần đảm bảo cho việc
thực hiện nhất quán nguyên tắc công bằng, mặt khác phản ánh nguyên tắc
nhân đạo, tôn trọng quyền con người của Pháp luật hình sự. Vì pháp luật cần
thiết phải quy định các chế tài để nghiêm trị và răn đe người phạm tội nhưng
không thể thiếu tính nhân đạo; xã hội muốn có công bằng và nhân đạo phải là
một xã hội có hệ thống pháp luật vì con người; xã hội không thể ổn định và
phát triển được nếu như pháp luật không vì con người, nếu pháp luật không
mở lối cho người bị kết án có điều kiện để giáo dục cải tạo, hoàn lương thì vô
hình chung, pháp luật đã bị phản tác dụng.
1.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA THI HÀNH ÁN HÌNH PHẠT TÙ VỚI HOÃN
CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ, TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
1.2.1. Mối quan hệ giữa thi hành án hình phạt tù với hoãn chấp
hành hình phạt tù
Thi hành án phạt tù có thời hạn là buộc người bị kết án phạt tù có thời
hạn chấp hành hình phạt tại trại giam, trại tạm giam trong một thời hạn nhất

kết án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam được tạm dừng việc ở lại trại
giam để chấp hành hình phạt, đồng thời họ được trả tự do nếu không bị giam
giữ về một tội phạm khác khi có những điều kiện cụ thể do Bộ luật hình sự
quy định.
Tương tự như hoãn chấp hành hình phạt tù, có thể thấy sự khác nhau
giữa thi hành án hình phạt tù và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là về thời
hạn chấp hành hình phạt tù. Đối với thi hành án hình phạt tù thì ngay khi có

25
quyết định thi hành án hình phạt tù thì người bị kết án phải sống và làm việc
trong trại giam, trại tạm giam một thời gian nhất định đã được ghi trong bản
án của Tòa án, họ bị tước tự do cư trú và đi lại. Đối với tạm đình chỉ chấp
hành hình phạt tù thì người bị kết án đang chấp hành quyết định thi hành án
hình phạt tù một thời gian, khi có quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình
phạt tù thì người bị kết án được tạm dừng việc thi hành án phạt tù, được trả tự
do, được tiếp tục sinh sống và làm việc ngoài xã hội, chưa phải chấp hành
hình phạt tù còn lại trong một thời gian nhất định.
Mối quan hệ giữa thi hành án hình phạt tù và tạm đình chỉ chấp hành
hình phạt tù được thể hiện khi án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án có
quyết định thi hành án hình phạt tù và đang thi hành hình phạt tù tại trại giam,
trại tạm giam, nếu vì những lý do nhất định (đặc biệt) thuộc về nhân thân
người bị kết án và có đủ các điều kiện cụ thể mà Bộ luật hình sự quy định thì
có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù còn lại trong một thời gian
nhất định. Sau khi hết thời gian tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người bị
kết án phải tiếp tục thi hành án hình phạt tù thời gian còn lại chưa thi hành.
Trong thời gian tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù hoặc khi hết thời gian
tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người bị kết án có thể được miễn chấp
hành hình phạt và không phải thi hành hình phạt còn lại nếu có đủ các điều
kiện do pháp luật quy định.
1.3. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status