Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử á - Pdf 32

Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của tòa án nhân dân
các cấp - nhìn từ một địa phương
1. Thực tiễn xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Phú Thọ
Hoạt động giải quyết án hình sự của Tòa án nhân dân (TAND) là một giai đoạn trong toàn
bộ quá trình giải quyết án hình sự. Khác với hoạt động giải quyết các loại án khác như án
dân sự, kinh tế, lao động, hành chính với đặc điểm là hoạt động độc lập của Tòa án từ khi
nhận đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu làm phát sinh quan hệ tố tụng, Toà án là cơ quan chủ
động trong các hoạt động tố tụng dựa trên chứng cứ các bên đương sự xuất trình hoặc có
được do điều tra khi cần thiết để đưa ra quyết định trên cơ sở pháp luật, còn giải quyết án
hình sự của Toà án chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp sau điều tra, truy tố. Giải quyết án hình
sự của TAND bao gồm giai đoạn trước xét xử, trong xét xử và sau xét xử. Đặc trưng của
việc giải quyết án của Toà án là xét xử, hoạt động cụ thể nhất của xét xử là phiên toà hình
sự.
Áp dụng pháp luật (ADPL) trong hoạt động giải quyết án hình sự là hoạt động thường
xuyên của TAND trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình do Hiến pháp và
pháp luật quy định. ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án mang những
đặc điểm chung của hoạt động ADPL, bên cạnh đó, nó còn có những đặc điểm riêng. Quy
trình ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án được thực hiện theo quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng luật nội dung giải quyết vụ án hình sự phải là Bộ luật
Hình sự (BLHS). Việc ADPL trong hoạt động của Toà án luôn là mối quan tâm của xã hội,
đặc biệt là khi chúng ta đang tiến hành cải cách tư pháp nhằm thực hiện tốt nhất công cuộc
đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền.
Thực hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, công tác giải quyết án hình sự
của các TAND trong tỉnh Phú Thọ đã góp phần quan trọng vào việc phân hoá tội phạm với
một chính sách nhất quán và rõ ràng: nghiêm trị đối với những đối tượng chủ mưu, cầm
đầu, ngoan cố chống đối; khoan hồng đối với những đối tượng thật thà khai báo, ăn năn hối
cải, người bị lôi kéo, dụ dỗ. Những bản án, quyết định của Toà án đúng pháp luật có ý nghĩa
quan trọng trong việc đánh giá kết quả hoạt động của ngành.
Số vụ án hình sự sơ thẩm của toàn ngành TAND tỉnh Phú thọ đã thụ lý và giải quyết trong
5 năm (2004 - 2008) là 4093 vụ/6488 bị cáo. Trong đó: cấp tỉnh là 602 vụ/1248 bị cáo; cấp
huyện là 3491 vụ/5240 bị cáo.

thu tài sản hoặc tiền đã tham gia vào việc phạm tội hoặc do phạm tội mà có chưa đúng quy
định của pháp luật; việc áp dụng Bộ luật Dân sự để xác định bồi thường thiệt hại, cấp
dưỡng đối với người bị hại, hoặc đối với người bị hại có trách nhiệm nuôi dưỡng chưa chính
xác hoặc giải quyết chưa triệt để; việc ra lệnh tạm giam đối với các bị cáo đang tạm giam
sau khi nhận hồ sơ của VKSND còn có nhiều sai sót; việc thực hiện mẫu các văn bản tố
tụng không đúng theo quy định của pháp luật và mẫu của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn; việc trả hồ sơ cho VKSND để điều tra bổ sung không có
căn cứ để vụ án bị kéo dài; biên bản phiên toà không phản ánh đầy đủ nội dung diễn biến
của phiên toà; phiên toà xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng không đúng quy định của
pháp luật; cấp phúc thẩm sửa án của cấp sơ thẩm không có căn cứ hoặc căn cứ chưa phù
hợp.
Thông qua biên bản phiên toà - là tài liệu phản ánh diễn biến của phiên toà - cho thấy, có
những phiên toà mà việc xét hỏi và tranh luận theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/6/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới chưa tốt: xét hỏi còn phiến diện, không đầy đủ dẫn đến việc ra bản án quyết định hình
phạt không đúng quy định của pháp luật. Việc kiểm tra căn cước, lý lịch của bị cáo chưa
được thể hiện đầy đủ trong biên bản phiên toà. Ví dụ: kiểm tra như thế nào, kiểm tra những
vấn đề gì, kết quả kiểm tra tại chỗ có mâu thuẫn với hồ sơ không, trong biên bản phiên toà
không thể hiện. Thông qua biên bản phiên toà còn cho thấy nội dung đối đáp giữa đại diện
VKSND với luật sư chưa phản ánh đầy đủ so với yêu cầu tranh tụng tại phiên toà, nhiều
trường hợp đại diện VKSND không đối đáp hết các quan điểm của luật sư tranh tụng.
Những hạn chế trong hoạt động giải quyết án hình sự thuộc bốn nhóm vi phạm sau:
quyết định hình phạt quá nhẹ, áp dụng Điều 31, 60 của BLHS để cho cải tạo không giam
giữ, hưởng án treo không đúng. Ngược lại, có trường hợp quyết định hình phạt quá nặng;
xác định sai tội danh, áp dụng không đúng điều khoản của BLHS, trong đó có trường hợp áp
dụng không đúng quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đánh giá
chứng cứ, xác định tiền án, tiền sự, xử lý vật chứng, phân hoá vai trò trong đồng phạm, cá
thể hoá hình phạt, trả hồ sơ điều tra bổ sung không chính xác; coi nhẹ giải quyết phần dân
sự trong vụ án hình sự.


phải có sự quy định cụ thể của pháp luật.
Việc thực hiện Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ quy định
việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày
30/10/2000 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo ở các xã phường, thị trấn
trong tỉnh chưa được thống nhất. Thậm chí, đến nay còn có cán bộ địa phương (công an, tư
pháp) chưa biết đến hai nghị định này. Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn pháp lý của một
số cán bộ xã, phường, thị trấn còn yếu nên công tác phối hợp giữa Toà án với địa phương
trong một số trường hợp gặp khó khăn nhất định. Cũng trong các nghị định này, để thực
hiện quy định tại điểm a, Điều 10 của Nghị định 60 và 61 về việc lập sổ quản lý người bị phạt
tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ thì phải có văn bản hướng dẫn nhưng đến
nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, chưa có mẫu và các địa phương chưa được cấp các
loại sổ sách như quy định. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc giám sát, giáo
dục người phạt tù cho hưởng án treo và người bị phạt cải tạo không giam giữ còn gặp phải
vướng mắc, chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng giám sát, giáo dục người bị kết án theo
quy định của pháp luật.


Cùng thuộc lĩnh vực thi hành án hình sự, về công tác tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
hiện nay theo nội dung hướng dẫn của Thông tư liên ngành số 02/2006/TTLN của Bộ Công
an, TANDTC, VKSNDTC, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế. Tại Mục 8 Thông tư quy định trường hợp
người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù chết, thì gia đình họ hoặc chính quyền xã,
phường, thị trấn được giao quản lý người được tạm đình chỉ phải báo cáo Chánh án Toà án
đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án cấp tỉnh nơi người bị
kết án đang cư trú biết. Chánh án Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt
tù có trách nhiệm thông báo cho Toà án đã ra quyết định thi hành án để ra quyết định đình
chỉ chấp hành hình phạt tù (vì người bị kết án đã bị chết) và gửi quyết định này cho chính
quyền địa phương xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú, ban giám thị trại giam, trại
tạm giam nơi người bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Đến năm 2007, Hội
đồng thẩm phán TANDTC có Nghị quyết số 02-NQ/HĐTP ngày 02/10/2007 hướng dẫn thi
hành một số quy định trong phần thứ 5 của Bộ luật Tố tụng hình sự về “thi hành bản án và



2. Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử của tòa án các cấp
Trong thời gian tới, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần hoàn thiện pháp luật hình sự,
tố tụng hình sự; ban hành, sửa đổi, bổ sung, giải thích và hướng dẫn áp dụng pháp luật kịp
thời. Tiếp tục đổi mới hoạt động để nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật tạo
ra hệ thống pháp luật đồng bộ, mang tính khả thi cao, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Đây là
yêu cầu quan trọng làm cơ sở cho việc bảo đảm ADPL. Thêm nữa, công tác giải thích và
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật là vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Đây cũng là
công việc khó khăn và phức tạp, đòi hỏi nâng cao năng lực và trí tuệ ngang tầm với thực
tiễn của đời sống kinh tế - xã hội luôn biến động và phong phú. Ủy ban Thường vụ Quốc
hội cần tăng cường giải thích pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng thống
nhất pháp luật thông qua khảo sát, nghiên cứu tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy nâng cao
chất lượng của các văn bản giải thích, hướng dẫn góp phần bảo đảm sự thống nhất của
pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Luôn coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, kiểm tra giải quyết án hình sự của cấp sơ
thẩm; giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Toà án cấp huyện bị kháng nghị. Để bảo đảm chất lượng của hoạt động này, chủ yếu
phải thông qua công tác kiểm tra và giải quyết khiếu nại của phòng Kiểm tra giám đốc án
(những năm 2004-2008, TAND tỉnh Phú Thọ tiến hành giám đốc thẩm 31 vụ, tái thẩm 6 vụ,
đã kịp thời sửa chữa, khắc phục sai lầm trong ADPL của Toà án cấp huyện).
Tổng kết kinh nghiệm trong giải quyết án hình sự thực chất là tổng kết việc ADPL trong
hệ thống cơ quan Toà án theo những chủ đề nhất định và trong một thời gian nhất định như
nêu các bản án, quyết định đúng đắn, chính xác, có tính mẫu mực để toàn ngành học tập
và những bản án, quyết định đã ban hành chưa chính xác, chưa thoả đáng, còn có những
sai lầm trong xem xét, đánh giá chứng cứ, trong việc chọn quy phạm pháp luật để rút kinh
nghiệm. Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá thực chất về sự chính xác, phù hợp thực
tiễn của các quy phạm pháp luật sau khi được Nhà nước ban hành: những quy phạm pháp
luật nào phát huy tác dụng tốt; những quy phạm pháp luật nào còn mang tính chung chung,
trừu tượng khó thực hiện; những quy phạm pháp luật nào quy định quá cụ thể, cứng nhắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status