ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
̃
NGUYÊN HOÀI PHƢƠNG
B¶o ®¶m quyÒn c«ng d©n trong ho¹t ®éng xÐt xö
c¸c vô ¸n h«n nh©n vµ gia ®×nh - Qua thùc tiÔn
Tßa ¸n nh©n d©n thµnh phè Hµ Néi
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG MINH TUẤN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
1.2.
Những vấn đề cơ bản trong hoạt động xét xử các vụ án hôn
nhân và gia đình..........................................................................................17
1.2.1.
Khái niệm xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình......................................17
1.2.2.
Trình tự xét xử vụ án hôn nhân và gia đình tại TAND cấp thành phố
trực thuộc trung ƣơng..................................................................................19
1.3.
Nhƣ̃ng vấn đềlýluâṇ chung vềb ảo đảm quyền công dân trong
hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình..................................22
1.3.1.
Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền công dân trong hoạt động
xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình........................................................22
1.3.2.
Nội dung bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét xử các vụ án
hôn nhân và gia đình....................................................................................24
1.3.3.
2.2.
Những ƣu điểm về bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét
xử các vụ án hôn nhân và gia đình của TAND thành phố Hà Nội
2.2.1.
44
Tình hình giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của TAND
thành phố Hà Nội 44
2.2.2.
Công tác chỉ đạo, triển khai tổ chức và kiểm tra.........................................52
2.2.3.
Những kết quả đạt đƣợc về bảo đảm quyền công dân trong hoạt
động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình của TAND thành phố
Hà Nội 55
2.3.
Những hạn chế về bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét
xử các vụ án hôn nhân và gia đình của TAND thành phố Hà Nội
2.4.
74
Yêu cầu cải cách tƣ pháp.............................................................................88
3.2.
Giải pháp tăng cƣờng bảo đảm quyền công dân trong hoạt động
xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình
89
3.2.1.
Giải pháp chung............................................................................................89
3.2.2.
Giải pháp riêng............................................................................................101
3.3.
Kiến nghị với cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền nhằm tạo điều
kiện bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét xử các vụ án
hôn nhân và gia đình................................................................................108
KẾT LUẬN.................................................................................................................111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................113
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN
Quyền công dân là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản của bất cứ
quốc gia nào. Quyền công dân phải đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật của
mà bất cứ quốc gia nào cũng phải thực hiện.
Xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
là chủ trƣơng lớn của Đảng và Nhà nƣớc ta, điều đó đã đƣợc thể chế tại
Hiến pháp nƣớc CHXHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2013):
“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân” [2518,
Điều 2].
Một trong những tiêu chí rất quan trọng của Nhà nƣớc pháp quyền là bảo đảm
cao nhất quyền công dân trong mọi hoạt động của Nhà nƣớc trong đó có hoạt động
xét xử của Tòa án. Trong những năm qua, cùng với những thành tựu to lớn trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN, Việt
Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng trong việc bảo đảm quyền công dân
trên tất cả mọi mặt nói chung và bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét xử của
Tòa án trong đó có hoạt động xét xử án hôn nhân và gia đình.
Thực tế hoạt động xét xử của ngành TAND trong những năm gần đây đã cho
thấy các vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình ngày càng phức tạp, do vậy việc
nhận thức và vận dụng pháp luật để giải quyết loại tranh chấp này cũng nhƣ đảm bảo
quyền công dân trong hoạt động xét xử cũng gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, với
sự cố gắng của các Thẩm phán và cán bộ ngành Tòa án, việc áp dụng pháp luật về
hôn nhân và gia đình cũng nhƣ pháp luật về tố tụng dân sự và đảm bảo quyền công
dân trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình đã đạt đƣợc
những kết quả đáng khích lệ góp phần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn bất hòa
trong quan hệ hôn nhân, bảo vệ đƣợc các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
đƣơng sự, đồng thời góp phần làm ổn định chính trị, trật tự an
1
2
nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc thì vấn đề bảo đảm quyền công dân
trong hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình của TAND Thành phố Hà Nội
còn nhiều bất cập gây ảnh hƣởng đến uy tín cũng nhƣ chất lƣợng xét xử của TAND
Thành phố Hà Nội.
Trong bối cảnh Thành phố Hà Nội đang tiếp tục thực hiện Chƣơng trình cải
cách Tƣ pháp theo Nghị quyết số 48/NQ – TW ngày 24/05/2005 của Ban chấp hành
Trung Ƣơng về chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, định hƣớng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ – TW ngày 02/6/2005
của Ban chấp hành Trung Ƣơng về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 và
thực hiện các Nghị quyết, chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố thì tăng
cƣờng bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét xử nói chung và trong hoạt động
xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình nói riêng là yêu cầu bức thiết.
Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Bảo đảm quyền công dân trong
hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình - Qua thực tiễn TAND thành
phố Hà Nội ” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình ở Việt Nam
đã đƣợc các nhà nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể gồm một số các đề
tài của các tác giả nhƣ: Hoàng Văn Hạnh “Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết
án hôn nhân và gia đình của TAND ở tỉnh Thái Nguyên” Luận văn thạc sỹ luật học,
năm 2006; “Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn của Tòa án
nhân dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế” Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Đào Thị Mai
Hƣờng năm 2010; “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam” Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Văn Cừ năm 2005; Vũ Thanh Tuấn
“Một số vấn đề khi giải quyết việc hôn nhân và gia đình” Tạp chí Tòa án số 14 tháng
7/2007; Thủy Nguyên “Áp dụng Luật hôn nhân, gia đình khi giải quyết vụ án có yếu
tố nước ngoài” Tạp chí Tòa án số 17 năm 2005; Đỗ Văn Chỉnh, Ly hôn có yếu tố
Nhiệm vụ của luận văn:
-
Làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền công dân, về hoạt động xét xử các vụ
án hôn nhân và gia đình, bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét xử các vụ án
hôn nhân và gia đình.
-
Phân tích thực trạng hoạt động bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét
xử các vụ án hôn nhân và gia đình, phân tích nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
của bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình
tại TAND thành phố Hà Nội;
4
-
Từ đó đƣa ra một số yêu cầu tăng cƣờng bảo đảm quyền công dân trong
hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình ở Việt Nam; đƣa ra một số giải
pháp chung và riêng, một số kiến nghị nhằm tăng cƣờng bảo đảm quyền công dân
trong hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình.
Ý nghĩa luận văn:
-
Có ý nghĩa thực tiễn góp phần tăng cƣờng bảo đảm quyền công dân trong
Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể là phân
tích, đối chiếu, so sánh, thống kê và tổng hợp; phƣơng pháp phân tích quy phạm cũng
đƣợc tác giả vận dụng để phân tích, bình luận nội dung của một số chế định.
5
6. Điểm mới của luận văn
Luận văn đề cập khá toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của bảo đảm
quyền công dân trong hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình tại TAND
thành phố Hà Nội trong bối cảnh thành phố Hà Nội đang tiếp tục phát huy hiệu quả
của chƣơng trình cải cách tƣ pháp theo Nghị quyết số 48/NQ – TW và Nghị quyết số
49/NQ- TW. Với những kết quả mà luận văn đạt đƣợc, tác giả hy vọng sẽ góp một
phần nhỏ vào việc bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét xử các vụ án hôn
nhân và gia đình của Việt Nam nói chung và của TAND thành phố Hà Nội nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét xử
các vụ án hôn nhân và gia đình.
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền công dân trong hoạt động xét xử các vụ
án hôn nhân và gia đình của TAND thành phố Hà Nội.
Chương 3: Yêu cầu, giải pháp và kiến nghị tăng cƣờng bảo đảm quyền công
dân trong hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN TRONG
Tới thời điểm hiện nay, tùy theo mỗi quốc gia, mỗi chế độ chính trị khác nhau
mà hệ thống các quyền công dân đƣợc thể hiện ở những mức độ khác nhau. Tuy
nhiên xã hội càng phát triển vấn đề quyền công dân càng đƣợc coi trọng và bảo vệ.
Đặc biệt với các nƣớc hiện nay đang tiến hành xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền và xã
hội công dân, thì vấn đề bảo đảm quyền công dân rất đƣợc coi trọng.
Tại Việt Nam, vấn đề quyền công dân lần đầu tiên đƣợc ghi nhận một cách cụ
thể nhất tại Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của Nhà nƣớc ta đã đƣợc
Quốc hội thông qua. Với Hiến pháp năm 1946, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam,
những ngƣời dân nô lệ trƣớc đây thực sự trở thành ngƣời chủ của đất nƣớc, đƣợc
bảo đảm các quyền tự do, dân chủ trên nhiều phƣơng diện. Hiến pháp năm 1946, lần
đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân Việt Nam đƣợc bảo đảm các quyền tự do,
dân chủ. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam quyền bình đẳng của công dân trƣớc
pháp luật đƣợc ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nƣớc. Và cũng là lần đầu tiên
trong lịch sử dân tộc, phụ nữ đƣợc ngang quyền với nam giới về mọi phƣơng diện.
Kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1946 về quyền tự do dân chủ và
tự do cá nhân của công dân, Hiến pháp năm 1959 đã có những bƣớc phát triển mới
trong việc quy định cụ thể hơn các quyền công dân đồng thời bổ sung thêm một số
quyền công dân mới. Các quyền của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân
trong Hiến pháp 1959 bao gồm: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp,
tự do lập hội, tự do biểu tình, quyền tự do tín ngƣỡng, quyền bất khả xâm phạm về
thân thể, quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, quyền tự do đi lại cƣ trú. Hiến pháp
1959 đã ghi nhận những thành tựu mới của Nhà nƣớc dân chủ nhân dân trong việc
hình thành và phát triển quan hệ lao động mới. Đạo luật cơ bản của Nhà nƣớc không
những quy định lao động là cơ sở phát triển kinh tế của đất nƣớc, cơ sở nâng cao đời
sống văn hóa của nhân dân mà còn quy định đó là nghĩa vụ và danh dự của công dân
(Điều 21 và Điều 32). Bằng quan điểm đó Hiến pháp 1959 đã xác định một quan
điểm mới về lao động, với quan điểm này nhân dân Việt Nam vốn dĩ cần cù, sáng tạo
phát triển, thêm tƣ chất đạo đức tốt đẹp của mình, coi lao động không những là
nguồn gốc của cải xã hội, mà còn là nhu cầu của đời sống tinh thần của
thông qua tại kỳ họp thứ 6, gồm 11 chƣơng, 120 điều có hiệu lực từ ngày
01/01/2014, giảm 01 chƣơng và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp
9
năm 2013 đã quy định bao quát hầu hết các quyền cơ bản về chính trị, dân sự, kinh
tế, xã hội, văn hóa của con ngƣời. Nếu nhƣ Hiến pháp năm 1992 quy định quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân đƣợc tại chƣơng V thì ở Hiến pháp năm 2013 chƣơng
về quyền con ngƣời, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chƣơng II, chỉ xếp
sau chƣơng về chế độ chính trị. Đây không phải là sự ngẫu nhiên hoặc cơ học mà
đây là một điểm mới, thể hiện tầm quan trọng của quyền con ngƣời trong Hiến pháp.
Hiến pháp đã làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân và trách nhiệm
của Nhà nƣớc trong việc bảo đảm thực hiện quyền con ngƣời, quyền công dân; thể
hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nƣớc ta.
Về tên chƣơng cũng có sự thay đổi, nếu nhƣ ở Hiến pháp năm 1992 là
"Quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân", đến Hiến pháp năm 2013 chƣơng này có tên
là "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân". Qua đó để khẳng định
quyền con ngƣời đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo vệ theo Công
ƣớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. So với Hiến pháp năm 1992 thì Hiến
pháp năm 2013 quy định rõ quyền con ngƣời, quyền công dân chỉ sẽ hạn chế trong
một số trƣờng hợp nhất định, tránh tình trạng xâm phạm quyền con ngƣời, quyền
công dân. Ngoài một số nội dung cơ bản trên, Hiến pháp năm 2013 quy định về
quyền con ngƣời, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân đã quy định rõ ràng, cụ thể và
bổ sung đầy đủ hơn so với Hiến pháp năm 1992 nhƣ gộp các Điều 65, 66, 67 và bổ
sung thêm một số nội dung thành Điều 37 Hiến pháp năm 2013; tách Điều 53 Hiến
pháp năm 1992 quy định về công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nƣớc trƣng cầu ý
dân thành Điều 29 Hiến pháp năm 2013: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có
quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”
Về cách thức thể hiện, Hiến pháp năm 2013 có sự đổi mới quan trọng theo
"Quyền" theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, là: "1. Điều mà pháp luật
hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi (quyền công dân,
quyền bầu cử và quyền ứng cử); 2. Những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm
(nói tổng quát. Có chức có quyền. lạm dụng quyền” [51, tr.815].
Tuy nhiên, dù với cách giải thích thứ hai, "quyền" vẫn là những gì "mà pháp
luật hoặc xã hội công nhận cho đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi", là khả năng
xử sự nhất định của cá nhân, tổ chức đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi từ cộng
đồng xung quanh. "Công dân" theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, là "người dân,
trong mối quan hệ về mặt quyền lợi và nghĩa vụ với Nhà nước" [51, tr.207].
11
Khi con ngƣời đƣợc coi là công dân, quyền công dân chính là quyền con
ngƣời trong một xã hội cụ thể, trong một chế độ xã hội - chính trị cụ thể.
Nhƣ vậy trên bình diện phân tích về ngữ nghĩa của câu từ chúng ta có thể hiểu
quyền công dân là những quyền của những con ngƣời đƣợc hiến pháp và pháp luật
của một quốc gia nhất định ghi nhận và bảo vệ.
Về khái niệm quyền công dân C. Mác cho rằng: "Quyền công dân là những
quyền chính trị, những quyền cá nhân con người, với tư cách là thành viên "xã hội
công dân" [1, tr.14].
Tại Việt Nam hiện vẫn tồn tại một số khái niệm khác nhau về quyền công dân
nhƣ theo tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc:
Quyền công dân - đó là sự thể chế hóa về mặt Nhà nƣớc bằng pháp
luật địa vị con ngƣời trong khuôn khổ Nhà nƣớc, là sự thừa nhận, trong
chừng mực mà Nhà nƣớc chấp nhận, địa vị con ngƣời của cá nhân trong
Nhà nƣớc [2027, tr.75].
Tiến sỹ Vũ Công Giao cho rằng: "Quyền công dân là tập hợp
những quyền tự nhiên đƣợc pháp luật của một nƣớc quy định, mà tất cả
những ngƣời có chung quốc tịch của nƣớc đó đƣợc hƣởng một cách bình
nƣớc ghi nhận (dƣới dạng là các quyền và nghĩa vụ cụ thể) và bảo đảm thực hiện
trong một Nhà nƣớc cụ thể. Nội hàm của khái niệm “quyền con ngƣời” rộng hơn
khái niệm “quyền công dân”, hay nói cách khác, “quyền công dân” là một bộ phận
của “quyền con ngƣời”. So với khái niệm quyền con ngƣời, khái niệm quyền công
dân mang tính xác định hơn, gắn liền với mỗi quốc gia, đƣợc pháp luật của mỗi quốc
gia quy định. Và do gắn với đặc thù của mỗi quốc gia mà nội dung, số lƣợng, chất
lƣợng của quyền công dân ở mỗi quốc gia thƣờng không giống nhau. Tuy nhiên,
không có sự đối lập giữa quyền con ngƣời và quyền công dân trong quy định của các
nƣớc.
Trong mỗi quốc gia, quyền công dân trong nội dung là sự thể hiện cụ thể của
quyền con ngƣời, khó có thể phân định một cách thật sự rạch ròi quyền con ngƣời,
quyền công dân theo quan điểm quyền con ngƣời là quyền tự nhiên, quyền công dân
là do pháp luật quy định; hay quyền con ngƣời là do luật quốc tế quy định, quyền
công dân là do pháp luật quốc gia quy định. Việc nhận thức giá trị và bản chất của
quyền con ngƣời có vai trò quyết định trực tiếp trong việc xây dựng các quy chế
pháp lý về quyền công dân trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Việc ghi nhận
và bảo đảm thực hiện các quyền công dân chính là đã thực hiện nội dung cơ bản của
quyền con ngƣời.
13
Trong văn kiện quốc tế đặc biệt quan trọng là Tuyên ngôn thế giới về quyền
con ngƣời và các Công ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời, theo đó, quyền con ngƣời
là nhân phẩm, các nhu cầu (về vật chất và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ của
con ngƣời đƣợc thể chế hoá trong các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật
quốc gia. Còn quyền công dân phản ánh, thể hiện là quyền con ngƣời, là những giá
trị gắn liền với một Nhà nƣớc nhất định và đƣợc Nhà nƣớc đó bảo đảm thực hiện
bằng pháp luật dựa trên mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với
một Nhà nƣớc cụ thể.
tại ở mức độ hạn chế. Một số quyền, nghĩa vụ mà họ sẽ không đƣợc hƣởng nhƣ:
quyền tham gia quản lý Nhà nƣớc và xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, tham gia nghĩa
vụ quân sự và xây dựng quốc phòng toàn dân... Dựa trên những điều kiện cụ thể của
mình mà Nhà nƣớc quy định cho công dân những quyền và phải thực hiện những
nghĩa vụ nhất định. Nhƣng bất luận thế nào thì các quyền và nghĩa vụ này cũng nói
lên một điều rằng, quyền công dân cũng nhƣ quyền con ngƣời đã đƣợc ghi nhận và
bảo đảm nhƣ thế nào, tiến bộ hay lạc hậu.
Có thể nói, việc đặt ra khái niệm công dân có một ý nghĩa rất quan trọng. Điều này
thể hiện, nếu là công dân của một Nhà nƣớc thì ngƣời đó đƣợc hƣởng đầy đủ các quyền
và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà Nhà nƣớc đó quy định. Còn những ngƣời
không phải là công dân của nƣớc sở tại thì quyền và nghĩa vụ của họ bị hạn chế trong một
số lĩnh vực nhƣ: họ không có quyền tham gia quản lý Nhà nƣớc và xã hội; không có
quyền bầu cử; ứng cử; họ cũng không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây
dựng quốc phòng toàn dân,… Mặt khác, khái niệm công dân thể hiện mối quan hệ pháp lý
có tính chất đặc biệt, tồn tại trong cả trƣờng hợp công dân nƣớc đó đã ra nƣớc ngoài sinh
sống nhƣng vẫn còn mang quốc tịch. Việc sinh sống ở trong hay ngoài nƣớc sẽ không ảnh
hƣởng đến tƣ cách công dân khi họ vẫn mang quốc tịch nƣớc đó.
1.1.3. Phân loại quyền công dân
Tới thời điểm hiện nay, tùy theo mỗi quốc gia, mỗi chế độ chính trị khác nhau
mà hệ thống các quyền công dân đƣợc thể hiện ở những mức độ khác nhau nhƣng
tựu chung lại vẫn có những cách phân loại cơ bản sau:
Căn cứ vào nhu cầu bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con ngƣời thì quyền
công dân đƣợc chia thành 02 nhóm sau:
15
Nhóm quyền được bảo đảm những điều kiện xã hội để con người tồn tại bao
gồm: quyền có công ăn việc làm; quyền cƣ trú, đi lại; quyền bất khả xâm phạm về
Nhóm các quyền về dân sự bao gồm: Gồm các quyền nhƣ quyền tự do đi lại
cƣ trú trong nƣớc; quyền ra nƣớc ngoài và từ nƣớc ngoài về nƣớc; quyền bất khả
xâm phạm về thân thể, đƣợc pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và
nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền khiếu nại, tố cáo;...
Các quyền về kinh tế - xã hội: Gồm các quyền nhƣ quyền lao động ; quyền tự
do kinh doanh; quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế; quyền học tập;...
Mặc dù có nhiều các phân loại thành nhiều nhóm quyền dựa vào các căn cứ khác
nhau nhƣng sự phân định giữa các nhóm quyền này chỉ mang tính chất tƣơng đối.
1.2. Những vấn đề cơ bản trong hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và
gia đình
1.2.1. Khái niệm xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: "Gia đình là tập hợp những
người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi
dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau" [24, Điều 8].
Nhƣ vậy, gia đình có thể gồm vợ chồng, con cái, anh chị em, cha mẹ, ông
bà… cùng chung sống với nhau, có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dƣỡng.
Trong quá trình chung sống phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Hôn nhân
là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ,
hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nƣớc và xã hội.
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định việc kết hôn, để đƣợc công
nhận hôn nhân hợp pháp; việc đăng ký kết hôn phải tuân theo các quy định của pháp
luật và việc ly hôn cũng nhƣ giải quyết các quan hệ liên quan đến hôn nhân cũng
đƣợc tiến hành theo trình tự pháp luật nhất định, các bƣớc phải đƣợc tuân thủ theo
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2011) (sau đây gọi tắt là Bộ
luật Tố tụng dân sự 2004) khi giải quyết một vấn đề cụ thể thì đƣợc áp dụng theo
Luật Hôn nhân và gia đình. Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã quy định hai loại trình tự
thủ tục tố tụng hoàn toàn khác nhau, đó là trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hôn nhân
Mâu thuẫn gia đình;
+
Bị đánh đập, ngƣợc đãi;
+
Ngoại tình;
+
Bệnh tật, không có con;
+
Do nghiện ma túy, rƣợu chè, cờ bạc;
18