Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, án treo theo pháp luật thi hành án hình sự việt nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

THI HÀNH HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ, ÁN
TREO THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS, TS. NGUYỄN NGỌC ANH

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số
liệu, tư liệu được sử dụng trong Luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng;
những phát hiện đưa ra trong Luận văn là kết quả nghiên cứu của chính tác
giả Luận văn.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ THU HIỀN


MỤC LỤC


Án treo:

AT

Bộ luật hình sự:

BLHS

Bộ luật tố tụng hình sự:

BLTTHS

Cải tạo không giam giữ:

CTKGG

Thi hành án hình sự:

THAHS

Tố tụng hình sự:

TTHS

Ủy ban nhân dân:

UBND

Viện kiểm sát:

tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong thi
hành hình phạt CTKGG, AT; quyền, nghĩa vụ của người đang chấp hành án và
trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan trong thi
hành hình phạt CTKGG, AT; rút ngắn thời gian thử thách của AT; việc giảm,
1


miễn thời hạn chấp hành án phạt CTKGG và miễn chấp hành thời hạn cấm cư
trú, quản chế còn lại ...) phân công cụ thể nhiệm vụ cho cơ quan, tổ chức giám
sát, giáo dục người được hưởng AT, thi hành hình phạt CTKGG; tăng cường
công tác phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan và gia đình trong việc
giúp đỡ, giáo dục người chấp hành án; ... Nhờ đó, công tác thi hành hình phạt
CTKGG, AT ngày càng đi vào nề nếp và đã đạt được những kết quả nhất định,
góp phần bảo đảm thi hành pháp luật được nghiêm minh, phục vụ có hiệu quả
công tác phòng, chống các loại tội phạm, giữ vững an ninh, trật tự.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc thi hành hình phạt CTKGG, AT còn bộc lộ
sơ hở, thiếu sót, bất cập, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu phòng, chống tội
phạm và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án như việc
thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với công tác giám sát, quản lý, giáo
dục người chấp hành AT, CTKGG của các cơ quan có thẩm quyền chưa hiệu
quả; sự phối hợp giữa các cơ quan Tòa án, Công an, Tư pháp, UBND cấp xã
chưa chặt chẽ nên không nắm được số lượng và tình hình giáo dục, cải tạo của
người thi hành hình phạt CTKGG, AT ở đơn vị, địa phương mình; biên chế,
kinh phí, phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giám sát, quản lý,
giáo dục người chấp hành án của chính quyền địa phương chưa được quy định
cụ thể, rất khó triển khai thực hiện; cán bộ theo dõi thi hành án ở cấp xã không
chuyên trách, trình độ, năng lực còn hạn chế, thường xuyên thay đổi, thiếu ổn
định về tổ chức... Mặt khác, mặc dù Luật THAHS đã được thông qua từ năm
2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011, nhưng cho tới nay còn nhiều quy
định liên quan đến thi hành hình phạt CTKGG, AT chưa có văn bản hướng

huấn chuyên sâu Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi
hành án phạt tù, NXB Lao động, Hà Nội;

3


- Đặng Thị Thanh (2009), Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong thi
hành án hình sự, Hội thảo quản lý thi hành án, các mô hình và kinh nghiệm
quốc tế do Bộ Tư pháp phối hợp với UNDP tổ chức, Hà Nội, tháng 5/2009;
- Vũ Hùng (2009), Vai trò, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
trong công tác kiểm sát thi hành án hình sự, Hội thảo quản lý thi hành án, các
mô hình và kinh nghiệm quốc tế do Bộ Tư pháp phối hợp với UNDP tổ chức,
Hà Nội, tháng 5/2009;
- GS, TS. Nguyễn Ngọc Anh (2011), Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật
thi hành án hình sự năm 2010 (Chủ biên), NXB Lao động, Hà Nội;
- GS, TS. Nguyễn Ngọc Anh (2012), Bình luận khoa học Luật thi hành
án hình sự, (Chủ biên), NXB Công an nhân dân, Hà Nội;
- GS, TS. Nguyễn Ngọc Anh, Đại tá, TS. Lê Văn Thư, ThS. Phạm Thị
Chung Thủy, CN. Công Phương Vũ (2012), Hỏi - đáp pháp luật về thi hành
án hình sự Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội;
- Nguyễn Minh Khuê (2016), Các hình phạt chính không tước tự do
trong luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện khoa học xã
hội, Hà Nội.
Tuy nhiên, do mục đích, cách thức tiếp cận vấn đề nghiên cứu của các
tác giả ở những góc độ khác nhau nên các công trình nêu trên mới chỉ dừng
lại ở mức độ tổng kết từng mặt công tác thuộc về quản lý nhà nước, tổ chức
và hoạt động công tác THAHS và đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn
tại, thiếu sót đối với mặt công tác đó dưới góc độ khoa học tội phạm học, giáo
dục học, tâm lý học. Việc xây dựng và đánh giá việc thi hành các quy định
của pháp luật về THAHS, bao gồm cả thi hành hình phạt CTKGG, AT chưa

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là các vấn đề lý luận, pháp lý và
thực tiễn thi hành hình phạt CTKGG, AT theo quy định của pháp luật
THAHS Việt Nam.
5


- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Cụm từ viết tắt: “thi hành hình phạt CTKGG, AT” trong luận văn được
hiểu là CTKGG là hình phạt còn AT là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù
có điều kiện. Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ khoa học Luật hình sự, Luật
TTHS và Luật THAHS, phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn trong
một số vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành hình phạt CTKGG, AT trên quy
mô toàn quốc trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2017 (từ khi Luật
THAHS có hiệu lực thi hành) thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực
lượng Công an nhân dân.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước ta về phòng, chống tội phạm nói chung, về THAHS
nói riêng.
- Trong quá trình thực hiện luận văn, học viên đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu chuyên ngành Luật hình sự và TTHS cùng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể, bao gồm:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phương pháp này được học viên sử
dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn để phân tích các nguồn tài liệu đã
được công bố về những vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn, trên cơ sở đó
tổng hợp để rút ra những vấn đề lý luận và thực tiễn cần nghiên cứu.
+ Phương pháp phân tích: phương pháp phân tích được học viên sử
dụng để phân tích các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp, giúp học viên nắm rõ
được tất cả các khía cạnh của vấn đề nghiên cứu.

câu hỏi nhằm khai thác sâu những thông tin về hoạt động này ở Việt Nam
hiện nay. Thông tin thu thập được qua tư vấn chuyên gia là cơ sở quan trọng
để học viên nghiên cứu những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng và đưa ra
7


những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt CTKGG, AT ở
Việt Nam trong tình hình mới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: từ việc nghiên cứu khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của
hoạt động THAHS nói chung, thi hành hình phạt CTKGG, AT nói riêng, kết
quả nghiên cứu của luận văn làm sáng tỏ và phong phú thêm những vấn đề lý
luận, góp phần thống nhất nhận thức về tổ chức và hoạt động THAHS, thi
hành hình phạt CTKGG, AT ở nước ta.
- Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giải quyết
những khó khăn, vướng mắc, bất cập của THAHS, thi hành hình phạt
CTKGG, AT; đồng thời có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên
cứu, giảng dạy, học tập, hoạch định chính sách, sửa đổi, bổ sung các văn bản
quy phạm pháp luật, bố trí lực lượng, phương tiện và các điều kiện bảo đảm
khác trong công tác THAHS, thi hành hình phạt CTKGG, AT góp phần nâng
cao hiệu quả công tác THAHS.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về thi hành hình phạt cải
tạo không giam giữ, án treo.
Chương 2. Thực trạng về thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, án
treo theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam.
Chương 3. Các giải pháp nâng cao chất lượng thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ, án treo ở Việt Nam.


9


Trong khoa học luật TTHS, các nhà nghiên cứu lại chia quá trình TTHS
thành các giai đoạn tương ứng với chức năng đặc thù của cơ quan và người
tiến hành tố tụng, đó là: (1) Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; (2) Giai đoạn
điều tra vụ án; (3) Giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm; (4) Giai đoạn thi hành bản án và quyết định của Toà án.
Căn cứ vào cách phân loại nêu trên, thì hoạt động thi hành bản án và
quyết định của Toà án là một hoạt động độc lập, trong đó các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo luật định nhằm "hiện thực
hoá" nội dung bản án và quyết định của Toà án về từng vụ án hình sự cụ thể.
Vì thế, khi xem xét vị trí của hoạt động THAHS, không thể chỉ xem xét
ở bình diện pháp luật TTHS về thi hành bản án và quyết định của Toà án.
Luật TTHS chỉ điều chỉnh việc đưa bản án, quyết định hình sự của Toà án ra
thi hành và giải quyết một số vấn đề thuộc về thủ tục phát sinh trong quá trình
thi hành bản án và quyết định của Toà án. Còn các quan hệ phát sinh sau khi
bản án, quyết định hình sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nhiệm vụ thi
hành bản án của người bị kết án, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức
trong việc thi hành án, cũng như các quan hệ pháp lý khác nảy sinh trong quá
trình thi hành án lại được điều chỉnh bằng Luật THAHS và các văn bản quy
định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Vì những lý do đó, nên khi xem xét vị trí của hoạt động thi hành bản án
và quyết định của Toà án đã có nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà luật học,
các cán bộ làm công tác thực tiễn, cụ thể là:
Có ý kiến cho rằng: "Thi hành bản án và các quyết định của Toà án là
giai đoạn của tố tụng hình sự". Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động trong
quá trình thi hành bản án và quyết định của Toà án đều nằm trong phạm vi
điều chỉnh của luật TTHS. Thực chất THAHS là hoạt động tố tụng của Toà

11


trong quá trình thi hành bản án và quyết định của Toà án cũng có đối tượng
điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng. Đó là các quan hệ xã hội cụ thể
nảy sinh trong quá trình thi hành, chấp hành bản án và quyết định của Toà án,
giữa một bên là Nhà nước mà đại diện là hệ thống cơ quan, tổ chức THAHS
và một bên là người bị kết án có nghĩa vụ phải chấp hành bản án, quyết định
của Toà án.
Để tổ chức thi hành các quy định của pháp luật về THAHS cần phải
xác định cách thức tác động hay nói khác, đó chính là phương pháp điều
chỉnh của pháp luật THAHS. Từ góc độ nghiên cứu này để xem xét thì thi
hành bản án và quyết định của Toà án còn có phương pháp điều chỉnh riêng
của mình - phương pháp quyền uy, mệnh lệnh. Mặt khác, theo nội dung quy
định tại Điều 1 BLTTHS năm 2003 thì việc quy định trình tự, thủ tục khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự... đều đi đến một mục đích cuối
cùng là: "Nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp
thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô
tội" [33]. Xem ở tiêu chí này thì các nhiệm vụ đặt ra của BLTTHS năm 2003
không do các cơ quan, tổ chức THAHS thực hiện. Việc xử lý tội phạm và
người phạm tội đã kết thúc khi bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật. Các cơ quan, tổ chức THAHS chỉ "hiện thực hoá" nội dung bản án
và quyết định của Toà án mà thôi. Hay nói cách khác là bước thực hiện tiếp
theo của hoạt động TTHS (điều tra, truy tố, xét xử). Lẽ đương nhiên, việc
thực hiện bản án và quyết định của Toà án (còn gọi THAHS) phải theo trình
tự, thủ tục luật định điều chỉnh. Theo quy định của Điều 27 BLTTHS năm
2003, các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định
của Toà án không phải là cơ quan tiến hành tố tụng mà là cơ quan hành chính
- tư pháp, điều này cũng đã được ghi nhận ở khoản 4 Điều 18 Luật Tổ chức
Chính phủ năm 2011. Cùng đó, các quy định ở Chương III về người tham gia



thực tế và các chủ thể phải chấp hành án. Đối với các cơ quan, cá nhân được
Nhà nước giao quyền, các tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện nhiệm
vụ của mình và phối hợp chặt chẽ với nhau để bản án được thực thi hiệu quả;
còn đối với người phải chấp hành án phải thực hiện nghiêm túc đầy đủ nghĩa
vụ của mình mà bản án đã tuyên một cách bắt buộc không được quyền lựa
chọn, nếu không sẽ chịu cưỡng chế của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
1.1.1.3. Ý nghĩa của thi hành án hình sự
THAHS là việc đưa các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật ra thi hành trên thực tế. Với quan niệm như vậy, THAHS là một
hoạt động độc lập nhằm thực hiện bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu
lực pháp luật. Vì vậy, THAHS có ý nghĩa quan trọng, cụ thể là:
Thứ nhất, nếu như Cơ quan điều tra, VKS, Toà án khi tiến hành các
hoạt động TTHS là nhằm hướng tới mục đích là phát hiện chính xác, nhanh
chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội, thì các cơ quan, tổ chức THAHS có trách
nhiệm bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
được thi hành kịp thời, triệt để, nghiêm minh, theo đúng các quy định của
pháp luật. Với ý nghĩa này, THAHS trước hết nhằm thực hiện nguyên tắc
công bằng và nguyên tắc không tránh khỏi hình phạt của luật hình sự.
Thứ hai, THAHS còn có ý nghĩa là việc thực hiện pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực THAHS chính là sự đòi hỏi
các cơ quan và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án phải thực hiện đúng,
nghiêm chỉnh, triệt để các quy định của pháp luật về THAHS. Nghiêm chỉnh
và triệt để tuân thủ các quy định của pháp luật về THAHS không những là
nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức THAHS (trại giam, trại tạm giam, UBND xã,
phường, thị trấn...) mà còn là trách nhiệm của tất cả những người bị Toà án
14



chống và phòng ngừa tội phạm (phòng ngừa chung). Việc buộc người bị kết
án tù có thời hạn, tù chung thân vào chấp hành án tại trại giam trong từng
trường hợp cụ thể bao giờ cũng tác động đến tâm lý và hành động của các
thành viên khác trong xã hội.
Thứ năm, THAHS là một loại hoạt động áp dụng pháp luật. Hoạt động
này ngoài mục đích giáo dục người chấp hành án trở thành người có ích cho
xã hội, còn nhằm mục đích tổng kết, rút kinh nghiệm, bổ sung cho hoạt động
lập pháp, hành pháp và hoạt động nghiên cứu khoa học. Thực tiễn THAHS
thời gian qua cho thấy, để có thể đổi mới một cách cơ bản, đúng đắn nhằm
nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động THAHS, từng bước khắc phục những
tồn tại, thiếu sót trong hoạt động này cần có một hệ thống pháp luật về
THAHS có tính pháp lý cao, được xây dựng một cách khoa học, đồng bộ,
toàn diện, có tính khả thi và phù hợp với chính sách hình sự của Đảng và Nhà
nước ta. Thực tiễn THAHS sẽ là cơ sở, là nguồn tư liệu phong phú để nghiên
cứu, thực hiện các đòi hỏi này.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ, án treo
1.1.2.1. Khái niệm thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Theo Từ điển Luật học, CTKGG là việc buộc người phạm tội phải tự
cải tạo dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi họ làm
việc hoặc cư trú qua việc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định. Từ sau
năm 1945, CTKGG được quy định lần đầu tiên trong Luật Nghĩa vụ quân sự
được Quốc hội thông qua ngày 30/12/1981: “Người nào đang ở lứa tuổi làm
nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành đúng những quy định về đăng ký nghĩa
vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn
luyện thì tùy mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính,
16



án. Đến BLHS năm 2015 hình phạt CTKGG vẫn được quy định là một trong
07 hình phạt chính, so với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ
sung nhằm tăng cường tính giáo dục, cải tạo của hình phạt CTKGG, đảm bảo
tính công khai, minh bạch trong quá trình vận dụng pháp luật về hình phạt
này, theo đó so với Điều 31 BLHS năm 1999, Điều 36 BLHS năm 2015 quy
định về hình phạt CTKGG bổ sung các nội dung sau đây:
Thứ nhất, không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người
đang thực hiện nghĩa vụ quân sự: theo Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự năm
2015 thì thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ
trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân. Công dân phục vụ trong lực lượng
Cảnh sát biển và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân được coi là
thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ.
Thứ hai, trường hợp người bị phạt CTKGG không có việc làm hoặc bị
mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số
công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian CTKGG. Thời gian lao
động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05
ngày trong 01 tuần. Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối
với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người
bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
Thứ ba, người bị kết án CTKGG phải thực hiện những nghĩa vụ theo
quy định của Luật THAHS.
Như vậy, có thể thấy hình phạt CTKGG là một loại hình phạt chính, về
bản chất của hình phạt vẫn là sự hạn chế tự do thể hiện ở việc người bị kết án dù
được chấp hành án tại môi trường xã hội bình thường nhưng mọi việc làm của
họ đều bị theo dõi, giám sát và việc áp dụng hình phạt này có nội dung, điều kiện
và giới hạn áp dụng cụ thể riêng so với các hình phạt khác. Việc áp dụng hình
18


phạt này thể hiện quan điểm nhân đạo và chính sách hình sự của Đảng và Nhà

cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng. Bản
án xử treo sẽ tạm đình việc thi hành. Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên
án, tội nhân không bị tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới, thì
bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có. Nếu trong 5 năm ấy, tội nhân bị
kết án một lần nữa trước một tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành.”
[16]. BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 xác định AT là biện pháp miễn chấp
hành hình phạt tù có điều kiện. Khoản 1 Điều 60 BLHS năm 1999 quy định:
"Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội
và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình
phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một
năm đến năm năm" [30]. Để áp dụng đúng và thống nhất quy định tại Điều 60
BLHS năm 1999, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sau khi có ý
kiến thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã
ban hành Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật
Hình sự về án treo, trong đó khẳng định “Án treo là biện pháp miễn chấp
hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội
bị phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các
tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù”,
đồng thời quy định cụ thể về các trường hợp được xem xét cho hưởng AT,
các trường hợp không được xem xét cho hưởng AT, về thời gian thử thách….
Về cơ bản kế thừa quy định của BLHS năm 1999 về điều kiện áp dụng
AT và các quy định có liên quan đến AT, Điều 65 BLHS năm 2015 quy định về
AT có một số điểm sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau: (1) Bổ sung quy định về
trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định
của Luật THAHS của người được hưởng AT tại khoản 1 Điều 65 BLHS năm
20


2015; (2) Nhằm tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật và nâng cao hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status