Chấm dứt hợp đồng theo pháp luật Thương mại Việt Nam hiện nay - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ANH TUẤN

CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Quý Trọng

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính
theo quy định của Khoa Đào tạo sau Đại học - Học viện Khoa học xã hội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Sau Đại học xem xét để tôi có thể
bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 03 năm 2018
NGƯỜI CAM ĐOAN
Tác giả

Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG THƯƠNG
MẠI ...........................................................................................................................28
2.1. Các quy định của pháp luật về việc chấm dứt hợp đồng thương mại ................28
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về chấm dứt hợp đồng thương mại ......................52
Chương 3. NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI .............................................................69
3.1. Những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng thương
mại .............................................................................................................................69
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh việc chấm dứt hợp đồng
thương mại ................................................................................................................71
KẾT LUẬN ...............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................80


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS

:

Bộ luật Dân sự

CP

:

Chính phủ

LTM


trình thực hiện các chuỗi hoạt động nêu trên, các doanh nghiệp đều phải thường
xuyên giao kết, thực hiện các hợp đồng thương mại với đối tác của mình. Việc xác
lập, thực hiện được nhiều hay ít hợp đồng có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Từ đó, các giao dịch thương mại góp phần thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế đất nước.
Hiện nay, mỗi doanh nghiệp đều đã ý thức được tầm quan trọng của việc
soạn thảo, giao kết, thực hiện hợp đồng đối với sự phát triển của doanh nghiệp mình
nhằm hạn chế tối đa các tranh chấp có thể phát sinh từ hợp đồng. Để tạo hành lang
pháp lý cho các doanh nghiệp có cơ sở pháp lý và an tâm hơn trong quá trình thực
hiện hoạt động kinh doanh, Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005
và mới đây là Bộ luật dân sự năm 2015, thay thế cho Bộ luật dân sự năm 2005 đã
dành rất nhiều các quy định cụ thể để quy định chặt chẽ về các trường hợp giao kết,
thực hiện và chấm dứt hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng.
Tuy nhiên, hầu hết các bên của hợp đồng thương mại đều chỉ quan tâm tới
khâu giao kết và xây dựng các điều khoản cơ bản về việc thực hiện hợp đồng mà ít
chú trọng tới các thỏa thuận liên quan tới việc chấm dứt hợp đồng, dẫn tới một số
trường hợp các bên không thống nhất được việc quyền và nghĩa vụ giữa các bên
trong hợp đồng còn hay đã chấm dứt và làm nảy sinh các tranh chấp liên quan từ
việc chấm dứt hợp đồng.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, nhằm làm rõ các quy
định của pháp luật thương mại về các trường hợp chấm dứt hợp đồng, hậu quả của
chấm dứt hợp đồng với các bên giao kết, tác giả lựa chọn đề tài: “Chấm dứt hợp
1


đồng theo pháp luật Thương mại Việt Nam hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Là một chế định lớn, quan trọng cho nên hợp đồng nói chung và hợp đồng
thương mại nói riêng luôn là một đề tài được các nhà nghiên cứu quan tâm và làm

có công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ đề cập tới các trường hợp chấm dứt hợp
đồng và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng thương mại theo quy định của
pháp luật. Bởi vậy, nhằm khắc phục những thiếu sót nêu trên, trên tham khảo các ý
kiến, quan điểm nghiên cứu trong các công trình kể trên, với mong muốn phân tích
làm rõ các quy định của pháp luật luật và đề xuất giải pháp thực hiện pháp luật hiện
hành về vấn đề chấm dứt hợp đồng, tác giả lựa chọn đề tài “Chấm dứt hợp đồng
theo pháp Luật Thương mại Việt Nam hiện nay” để làm đề tài nghiên cứu của
mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn không đi sâu vào phân tích các quy định của pháp luật về hợp đồng
thương mại nói chung mà chỉ tập trung phân tích, đánh giá các quy định của pháp
luật thương mại hiện hành về các trường hợp chấm dứt hợp đồng và hậu quả pháp
lý của việc chấm dứt hợp đồng thương mại; Từ đó đề xuất các giải pháp để nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng thương mại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn đề ra nhiệm vụ nghiên cứu gồm:
- Nghiên cứu khái quát một số vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại và
chấm dứt hợp đồng thương mại.
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về các trường hợp chấm dứt
hợp đồng thương mại, hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng thương mại và
thực tế thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề này.
- Trên cơ sở những đánh giá, so sánh, phân tích về các quy định của pháp
luật hiên hành và Dự thảo sửa đổi Luật Thương mại năm 2005, tác giả đề xuất một
số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng và nâng cao hiệu quả thực

3


hiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng trong thực tiễn hoạt động của các chủ thể kinh


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về chấm dứt hợp đồng thương mại và pháp
luật về chấm dứt hợp đồng thương mại
Chương 2. Thực trạng pháp luật về chấm dứt hợp đồng thương mại
Chương 3. Những yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp
đồng thương mại

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hợp đồng thương mại và chấm dứt hợp đồng thương mại
1.1.1. Nhận diện hợp đồng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm hợp đồng thương mại
Chế định hợp đồng là một trong những nội dung nền tảng của luật dân sự,
được hình thành từ rất sớm và dần được hoàn thiện theo thời gian. Tuy nhiên, trong
lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra một thuật ngữ chính xác như thuật ngữ
“hợp đồng” đang được sử dụng trong pháp luật hiện hành của hầu hết các nước là
việc không dễ dàng. Các luật gia cho rằng thuật ngữ hợp đồng (contractus) được
hình thành từ động từ contrahere trong tiếng La-tinh, có nghĩa là “ràng buộc” và
xuất hiện lần đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỉ V – IV TCN [17]. Tuy nhiên mãi
đến thế kỉ thứ I SCN, người La Mã mới chính thức sử dụng thuật ngữ “contractus”
trong luật và quan hệ hợp đồng được pháp luật công nhận, được bảo vệ dưới thời
Hoàng đế Justinian [10, tr.81]. Sau này các nước phương Tây đã kế thừa và phát
triển quan niệm pháp lý từ thời La Mã và đã sử dụng chính thức thuật ngữ “hợp

Về lý luận, hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự.
Nhưng điều đáng tiếc nhất đó là pháp luật trong lĩnh vực thương mại hiện nay chưa
đưa ra được một khái niệm chung nhất về hợp đồng thương mại. Và ngay cả khái
niệm “hợp đồng thương mại” cũng là một khái niệm mà hiện nay chúng ta đang sử
dụng một cách tương đối bởi nếu nói một cách chính xác thì phải gọi nó là hợp
đồng trong thương mại hay hợp đồng trong hoạt động thương mại.
Trước đây, trong Điều 1 của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế được ban hành
ngày 25 tháng 9 năm 1989 của Hội đồng Nhà nước đã nhắc đến khái niệm “hợp
đồng kinh tế”. Theo quy định này thì hợp đồng kinh tế được định nghĩa là “sự thỏa
thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên kí kết về việc thực hiện công
việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học –
kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”. Quy
định này là một cơ sở để có thể phân định giữa hợp đồng kinh tế với các hợp đồng
khác, đặc biệt là hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng kinh tế không
được ghi nhận tại Luật Thương mại năm 1997 được Quốc hội thông qua ngày 10
7


tháng 5 năm 1997, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1998, mà thay vào đó thì
các nhà lập pháp lại hướng tới việc định nghĩa hoạt động thương mại, thông qua đó
để có quy định về hợp đồng thương mại – với tư cách là hình thức pháp lý cho các
giao dịch trong hoạt động thương mại. Và bởi vì các quy định về hoạt động thương
mại trong Luật Thương mại 1997 về hoạt động thương mại chỉ gói gọn trong ba loại
hoạt động: (1) mua bán hàng hóa; (2) cung ứng dịch vụ thương mại và (3) các hoạt
động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính
sách kinh tế - xã hội (khoản 2, Điều 5 Luật Thương mại 1997); điều này khiến cho
cách hiểu về hợp đồng thương mại cũng khá hẹp. Đồng thời, tinh thần của Luật
Thương mại 1997 về hoạt động thương mại cũng thể hiện sự không tương thích với
quy định của pháp luật quốc tế về hoạt động thương mại [6, tr. 460].

những hợp đồng trong từng lĩnh vực khác nhau như hợp đồng mua bán hàng hóa,
hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư hay hợp đồng dịch vụ… Mặc dù pháp luật thương
mại Việt Nam hiện nay chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về hợp đồng thương mại,
tuy nhiên hợp đồng thương mại là một trong các loại hành vi pháp lý cơ bản và
mang tính phổ biến trong giao dịch của đời sống xã hội, nhất là đối với các thương
nhân, và trước hết chúng ta phải thấy nó là một loại hợp đồng theo khái niệm hợp
đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015. Chỉ khác rằng, từ nhận thức đến ý
chí và đi đến hành động của thương nhân trong quá trình đàm phán, ký kết và thực
hiện hợp đồng thương mại là một quá trình mang tính logic và có giá trị to lớn để
đảm bảo rằng mục đích cao nhất trong hợp đồng thương mại là lợi nhuận tối ưu của
các bên sẽ được thực hiện trên thực tế.
Từ góc độ đó, tác giả đề xuất một cách hiểu về hợp đồng thương mại dựa
trên cách hiểu về hợp đồng hiện nay theo Bộ luật Dân sự 2015: “Hợp đồng thương
mại là sự thỏa thuận giữa các bên (trong đó có ít nhất một bên tham gia là thương
nhân) về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong
việc thực hiện các hoạt động thương mại”.
Cách định nghĩa này vừa phù hợp với định nghĩa của Bộ luật Dân sự 2015 về
hợp đồng, lại nêu lên được những đặc điểm riêng của hợp đồng thương mại so với
các loại hợp đồng khác đó là đặc điểm về chủ thể và đặc điểm về mục đích của hợp
đồng.
1.1.1.2.

Đặc điểm của hợp đồng thương mại

9


Hợp đồng thương mại về mặt bản chất cũng là một loại hợp đồng nên nó
cũng cần đáp ứng những đặc điểm cơ bản của hợp đồng như: có sự bình đẳng,
không phân biệt đối xử giữa các bên; việc giao kết, thực hiện, chấm dứt hay hủy bỏ

- Thứ hai, đặc điểm về mục đích của hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của các giao dịch trong hoạt động
thương mại, mà đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động thương mại theo quy định của
Luật Thương mại 2005 là “mục đích sinh lợi”, chính vì thế một đặc điểm nổi bật
của hợp đồng thương mại đó là mục đích sinh lợi. Mục đích sinh lợi ở đây được ghi
nhận bằng lợi nhuận mà các bên có thể đạt được khi thực hiện hợp đồng không chỉ
về vật chất, tài sản mà còn bao gồm cả những lợi ích phi tài sản khác như uy tín,
thương hiệu doanh nghiệp hay niềm tin của khách hàng [6, tr.464].
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, có một bên chủ thể của hợp đồng lại
không có mục đích lợi nhuận khi tham gia hợp đồng. Pháp luật để điều chỉnh các
hợp đồng này sẽ do bên không có mục đích lợi nhuận lựa chọn, khi đó không phải
đương nhiên pháp luật thương mại được áp dụng mà còn phải do sự lựa chọn của
chủ thể tham gia hợp đồng. Quy định như vậy là do đối với các thương nhân khi họ
tham gia vào một hợp đồng thương mại với mục đích sinh lợi thì rõ ràng là họ đang
thực hiện một hoạt động thương mại, nên họ sẽ không thể có sự lựa chọn nào khác
ngoài việc chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại. Nhưng ngược lại, với bên
chủ thể tham gia hợp đồng không vì mục đích lợi nhuận thì hành vi của họ được coi
là một hành vi dân sự hơn là một hoạt động thương mại. Dựa trên thực tế rằng, các
quy định của pháp luật thương mại về hợp đồng thương mại thường “khắt khe” hơn
các quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng nói chung, thế nên để đảm bảo cho
quyền và lợi ích hợp pháp của bên chủ thể không vì mục đích lợi nhuận thì cho
phép họ là người chọn luật áp dụng. Chỉ khi họ chọn luật thương mại thì lúc đó
pháp luật thương mại mới điều chỉnh hợp đồng này.
- Thứ ba, đặc điểm về hình thức của hợp đồng thương mại
Trong Luật Thương mại 2005 không có một điều khoản riêng biệt nào quy
định về hình thức của hợp đồng thương mại mà quy định về hình thức hợp đồng
nằm rải rác trong quy định về từng loại hợp đồng thương mại cụ thể. Nhìn chung
hình thức của các loại hợp đồng thương mại do các bên lựa chọn trong ba hình thức:
(1) văn bản và các hình thức có giá trị tương đương văn bản như điện báo, telex,
fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác; (2) lời nói và (3) hành vi cụ thể. Quy

Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn; Hợp
đồng chấm dứt theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này; Trường hợp khác do
luật quy định”. Trước đó, Điều 385 BLDS đưa ra định nghĩa về hợp đồng là “sự
12


thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự”. Từ đó có thể hiểu thuật ngữ “chấm dứt hợp đồng” tại Điều 422 là thuật
ngữ được sử dụng để miêu tả sự ngừng lại việc thực hiện những quyền và nghĩa vụ
dân sự đã thỏa thuận hay nói cách khác đây là thuật ngữ dùng để miêu tả việc hiệu
lực của hợp đồng không còn.
Liên quan đến khái niệm chấm dứt hợp đồng, pháp luật của các quốc gia trên
thế giới có rất nhiều thuật ngữ pháp lý tương tự được sử dụng như “triệt tiêu hợp
đồng”, “chấm dứt hợp đồng”, “hủy bỏ hợp đồng” hay “hết hiệu lực hợp đồng”…
Trong đó hai thuật ngữ “chấm dứt hợp đồng” và “hủy bỏ hợp đồng” được sử dụng
phổ biến nhất để nói đến các trường hợp làm cho hợp đồng không còn hiệu lực. Tuy
nhiên, pháp luật của mỗi quốc gia lại có cách hiểu và cách quy định không giống
nhau về chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng. Ví dụ theo pháp luật hợp đồng của
Anh, chấm dứt hợp đồng bao gồm bốn trường hợp là hợp đồng đã được hoàn thành
(performance), hợp đồng không thể thực hiện được (frustration), vi phạm hợp đồng
(breach) và chấm dứt theo sự thỏa thuận của các bên (agreement) [31, tr.378]; pháp
luật hợp đồng của Mỹ thì chia chấm dứt hợp đồng thành năm trường hợp gồm: (i)
Chấm dứt do hoàn thành hợp đồng (discharge by performance), (ii) Chấm dứt hợp
đồng theo thỏa thuận (discharge by agreement), (iii) Chấm dứt do thay thế nghĩa vụ
(discharge by substitute contract), (iv) Chấm dứt hợp đồng theo bản kê nợ
(discharge by account stated) [31, tr.388]; Không giống như cách phân chia trong
pháp luật Anh và pháp luật Mỹ, Bộ luật Dân sự Pháp đã ghi nhận rất rõ các trường
hợp chấm dứt hợp đồng qua quy định về chấm dứt nghĩa vụ. Các trường hợp này
được liệt kê tại Điều 1234 và quy định cụ thể tại Chương V Thiên III quyển thứ ba.
Theo đó, hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau: (i) Do nghĩa vụ đã được

thông thường có thể được chấm dứt trên cơ sở của một trong 11 căn cứ được quy
định tại Điều 372 BLDS 2015. Việc chấm dứt hợp đồng chỉ dựa theo một trong 7
căn cứ tại Điều 422 BLDS 2015. Theo đó, phạm vi các căn cứ chấm dứt hợp đồng
bị thu hẹp hơn rất nhiều so với các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ nói chung. Điều
này có ý nghĩa nhằm hạn chế sự tùy tiện trong việc chấm dứt hợp đồng của các bên,
khuyến khích các bên lựa chọn phương án phù hợp hơn để tiếp tục thực hiện hợp
đồng, thay vì chấm dứt hợp đồng.
Thứ hai, về tính chất: việc chấm dứt hợp đồng có thể hiểu là một giai đoạn
của quá trình giao kết, thực hiện và kết thúc hợp đồng. Tuy nhiên, trong Luật
14


thương mại, việc chấm dứt hợp đồng còn được hiểu như là một trong những chế tài
mà bên bị vi phạm được quyền áp dụng đối với bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ ba, về hậu quả pháp lý: việc chấm dứt hợp đồng bản chất là làm dừng lại
hiệu lực của hợp đồng. Theo đó, các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể sẽ dừng
lại hoặc có thể không phát sinh hiệu lực tùy vào từng trường hợp chấm dứt.
Thứ tư, về mục đích: Việc chấm dứt hợp đồng nhằm nhiều mục đích khác
nhau. Nó có thể nhằm làm kết thúc một quan hệ nghĩa vụ do đã được hoàn thành,
nhưng việc chấm dứt đó cũng có thể nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên chủ thể hợp đồng do việc tiếp tục thực hiện hợp đồng rất có thể sẽ
gây thiệt hại cho các bên; Trong một số trường hợp, việc chấm dứt này còn có thể
do hợp đồng không thể tiếp tục thực hiện được nên buộc phải chấm dứt.
1.1.2.2. Phân loại chấm dứt hợp đồng
- Căn cứ vào ý chí của các bên đối với việc chấm dứt hợp đồng mà các
trường hợp chấm dứt hợp đồng được chia thành ba nhóm cơ bản:
+ Nhóm thứ nhất: Nhóm các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo ý chí của
cả hai bên đối tác. Đó là hai trường hợp sau:
Khi hợp đồng được hoàn thành: Việc thực hiện hợp đồng là thực hiện những

- Căn cứ vào sự vi phạm của bên đối tác: hợp đồng chấm dứt do có sự vi
phạm của bên đối tác và không có sự vi phạm của bên đối tác. Hầu hết các căn cứ
chấm dứt hợp đồng tại Điều 422 BLDS 2015 đều là các trường hợp chấm dứt hợp
đồng không có sự vi phạm của bên đối tác, trừ trường hợp hủy bỏ hợp đồng. Tuy
nhiên, trong quy định của Luật Thương mại năm 2005 thì hầu hết các trường hợp
chấm dứt hợp đồng được dự liệu trong Luật đều là các trường hợp chấm dứt do sự
vi phạm của đối tác (hủy bỏ hợp đồng; đình chỉ thực hiện hợp đồng). Đây được coi
là những chế tài mà bên bị vi phạm có thể sử dụng để áp dụng đối với bên vi phạm
nghĩa vụ do không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.
1.1.2.3. Ý nghĩa của việc chấm dứt hợp đồng thương mại
Thứ nhất, quy định về việc chấm dứt hợp đồng thương mại giúp các chủ thể
xác định được thời điểm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Về
nguyên tắc quá trình giao kết, thực hiên hợp đồng thương mại được dựa trên cơ sở
của nguyên tắc bình đẳng, tự do, tự nguyện thỏa thuận được quy định trong Bộ luật
dân sự. Thực tế khi các bên của quan hệ hợp đồng tuân thủ và thực hiện nghiêm
16


chỉnh các nguyên tắc kể trên thì hợp đồng sẽ phát sinh hiệu lực và được thực hiện
bình thường cho đến khi hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng và chấm dứt là điều
hiển nhiên. Điều này hoàn toàn giống với mục đích mà các chủ thể hợp đồng đề ra
khi xác lập hợp đồng.
Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan trong
quan hệ hợp đồng đã được giao kết trong trường hợp vì lí do khách quan không
mong muốn và không thể dự liệu trước mà hợp đồng thương mại bị rơi vào trường
hợp phải chấm dứt (dừng hiệu lực trước khi hết thời hạn). Điều này nằm ngoài
mong muốn của các bên. Trong những trường hợp này, ít nhiều lợi ích của các bên
sẽ có thể bị ảnh hưởng. Bởi vậy, đặt ra yêu cầu nếu các bên muốn dừng hiệu lực của
hợp đồng trước thời hạn để bảo vệ quyền lợi của mình trước rủi ro có thể xảy đến.
Thứ ba, việc BLDS và Luật Thương mại cho phép bên bị vi phạm được

thể nói các yếu tố ngoại cảnh (khách quan) là những yếu tố rất quan trọng tới việc
chấm dứt hợp đồng thương mại, đặc biệt là các quy định của pháp luật. Bởi nếu các
quy định của pháp luật rõ ràng, tiến bộ, dự liệu được đầy đủ các trường hợp có thể
xảy ra làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng thì sẽ hạn chế tối đa các tranh chấp nảy
sinh liên quan tới việc thực hiện và chấm dứt hợp đồng thương mại.
Thứ hai, các yếu tố chủ quan xuất phát từ ý chí của các chủ thể của hợp đồng.
Thực tế cho thấy các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo sự thỏa thuận, hủy bỏ và
đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là những căn cứ chấm dứt hợp đồng phổ
biến nhất. Trong các yếu tố chủ quan thì nhận thức của các bên về việc thực hiện và
chấm dứt hợp đồng là yếu tố quan trọng nhất làm chấm dứt hợp đồng. Nếu các bên có
kiến thức pháp luật vững chắc, nhận thức được tầm quan trọng và hậu quả pháp lý có
thể xảy đến của việc chấm dứt hợp đồng thì hậu quả xảy ra cho các bên sẽ được giảm
thiểu và ngược lại. Bởi vậy, theo ý kiến của tác giả việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao
ý thức pháp luật cho các thương nhân trong quan hệ thương mại là điều hết sức cần
thiết. Bên cạnh đó, việc nâng cao kiến thức pháp lý và thực tiễn cho đội ngũ cán bộ
Tòa án cũng có vai trò rất quan trọng đối với vấn đề chấm dứt hợp đồng, đặc biệt là
trong trường hợp tuyên bố chấm dứt hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản và giải
quyết tranh chấp hợp đồng phát sinh giữa các bên.
1.1.2.5. Sự tương đồng và khác biệt về chấm dứt hợp đồng thương mại với
chấm dứt một số hợp đồng khác

18


Khái niệm hợp đồng được nhắc đến tại Điều 385 BLDS 2015 để chỉ các thỏa
thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự nói chung.
Phạm vi các quyền, nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 1 BLDS 2005 là những
quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ
được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách
nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự). Theo quy định này, các quan hệ dân

đồng. Nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật đối với vấn đề chấm dứt hợp
đồng, ngay từ BLDS năm 1995, tới BLDS 2005, BLDS 2015 và Luật Thương mại
năm 2005 đều đã đưa ra những quy định cụ thể về việc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng.
Theo đó, các quy định về chấm dứt hợp đồng trong các văn bản pháp luật kể trên
được quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh
của pháp luật về chấm dứt hợp đồng trên thực tế.
Tuy nhiên, do các quan hệ xã hội đặc biệt là các quan hệ hợp đồng luôn luôn
tồn tại ở trạng thái động, không ngừng biến đổi và phức tạp. Do đó, pháp luật đôi
khi còn lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội, dẫn đến các chủ thể của hợp đồng còn
nhiều bỡ ngỡ, lúng túng khi rơi vào trường hợp cần phải chấm dứt hợp đồng nhưng
vẫn băn khoăn về việc mình có được/có quyền chấm dứt hợp đồng đã giao kết hay
không? Nếu chấm dứt thì hậu quả pháp lý của hợp đồng đã giao kết sẽ giải quyết
như thế nào?... Từ đó có thể thấy mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật về
chấm dứt hợp đồng có ảnh hưởng rất lớn tới việc chấm dứt hợp đồng thương mại.
* Tính chất và sự phát triển của nền kinh tế
Hoạt động thương mại luôn vận động và không ngừng biến đổi ngày càng
phong phú, phức tạp. Đặc biệt từ sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên
của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tham gia vào Hiệp định đối tác xuyên
Thái Bình Dương… các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với những biến đổi
rất lớn của điều kiện kinh tế mới. Để đảm bảo phát triển bền vững, ổn định, các
doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật và thích ứng với những biến đổi của nền
kinh tế như lạm phát, giá cả tăng cao, nhu cầu, thị hiếu của khách hàng thường
xuyên biến đổi, ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế… Những yếu tố
khách quan đó thường xuyên tác động tới hoạt động của các doanh nghiệp, đặc biệt
trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng. Nếu các doanh nghiệp không nhanh
nhạy trước những biến đổi này thì rất dễ dẫn tới việc phải chấm dứt hợp đồng sớm

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status