ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG HIỂN
GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG THEO
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG HIỂN
GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Đăng Hiếu
Hà Nội – 2016
6
1.1.1. Khái niệm Giải thích hợp đồng………………………………………...
6
1.1.2. Chủ thể của hoạt động Giải thích hợp đồng…………………………...
12
1.1.3. Chức năng của hoạt động Giải thích hợp đồng……………………….
16
1.1.4. Ý nghĩa của Giải thích hợp đồng………………………………………
24
1.2. Lịch sử phát triển về Giải thích hợp đồng……………………………………
25
1.2.1. Các học thuyết phát triển các quy định về hoạt động Giải thích hợp
đồng……………………………………………………………………………….. 25
1.2.2. Các phương pháp căn bản xây dựng các nguyên tắc Giải thích hợp
đồng và vận dụng các nguyên tắc trong thực tiễn…………………………………
29
73
2.2.6. Giải thích theo nguyên tắc có lợi cho bên yếu thế……………………..
76
Chƣơng 3: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
HIỆN HÀNH VỀ GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG…………………………
81
3.1. Thực tiễn Giải thích hợp đồng ở việt nam……………………………………
81
3.2. Những đề xuất hướng hoàn thiện các quy định về Giải thích hợp đồng……
91
KẾT LUẬN..........................................................................................................
97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................
100
v
đồng. Về mặt lý luận, các nhà luật gia vẫn còn chưa thống nhất được với nhau
trong việc xác định nội dung và dung hòa các học thuyết phát triển của giải thích
hợp đồng. Đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước ta đã trải qua nhiều truyền thống
pháp luật trong suốt chiều dài lịch sử, chưa có sự chắp nối kế thừa và chọn lọc
giưã các truyền thống pháp luật đó và kết hợp với điều kiện hoàn cảnh kinh tế,
xã hội hiện tại vì vậy có thể nói luật Hợp đồng của Việt Nam nói chung và vấn
đề cụ thể của hiệu lực hợp đồng là giải thích hợp đồng nói riêng hiện nay thiếu
tính kế thừa và thiếu đồng bộ.
Bộ luật dân sự 2005 tập trung các quy định căn bản liên quan đến giải
thích hợp đồng vào hai điều khoản nhất theo phân cấp tại Điều 129 về giải thích
giao dịch dân sự và Điều 409 về Giải thích hợp đồng, tuy nhiên vẫn còn nhiều
hạn chế, bất cập gây khó khăn cho công tác giải quyết các vấn đề thực tiễn có
liên quan, chưa thực sự khả thi. Về vấn đề lý thuyết, vấn đề giải thích hợp đồng
vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi về học thuyết phát triển, bản chất của hoạt
động này và áp dụng các nguyên tắc trong thực tiễn pháp lý. Những bất cập trên
đây cần phải được nghiên cứu làm rõ và đề xuất các giải pháp pháp lý nhằm khắc
phục, hoàn thiện.
Từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài “Giải thích hợp đồng theo pháp
luật dân sự Việt Nam hiện hành” để làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học. Các vấn
đề đưa ra trong luận văn xuất phát từ việc nghiên cứu các quy định pháp luật
Việt Nam hiện nay, có tìm hiểu, tham khảo các quy định của pháp luật một số
quốc gia trên thế giới, qua đó định hướng và đề xuất một số giải pháp cụ thể
hoàn thiện các quy định pháp luật về giải thích hợp đồng nhằm tạo ra một cơ chế
phù hợp hơn trong vấn đề này.
2. Tình hình nghiên cứu
Khoa học pháp lý Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới
các vấn đề khác nhau của hiệu lực hợp đồng như: đề tài luận án tiến sĩ "Hiệu lực
2
4
hợp đồng là một công cụ hiệu quả trong việc điều hòa và bảo vệ lợi ích hợp pháp
của đôi bên, công cụ để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
6. Nội dung, địa điểm và phƣơng pháp nghiên cứu.
6.1. Nội dung nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Khái quát chung về giải thích hợp đồng: Chương này tác giả
trình bày các khái niệm, đặc điểm về giải thích hợp đồng và các vấn đề pháp lý
liên quan quan đến hoạt động giải thích hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
Chương 2. Các Nguyên tắc của Giải thích hợp đồng: Chương này tác giả
phân tích các nguyên tắc cơ bản của hoạt động giải thích hợp đồng, trong đó có
so sánh, phân tích nhằm đưa ra các điểm hạn chế của pháp luật Việt Nam
Chương 3. Thực tiễn giải thích hợp đồng và kiến nghị hoàn thiện các quy
định hiện hành về giải thích hợp đồng. Chương này tác giả đi sâu phân tích một
số vụ việc liên quan đến hoạt động giải thích hợp đồng và từ đó đề xuất một số
kiến nghị hoàn thiện các quy định hiện hành tại Việt Nam.
6.2. Địa điểm nghiên cứu.
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các quy định hiện hành của
pháp luật Việt nam về giải thích hợp đồng trên lãnh thổ Việt Nam.
6.3 phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp để làm rõ vấn đề nghiên cứu:
Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp
phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh... Trong đó
phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và phương pháp so sánh là ba
phương pháp chủ đạo, được sử dụng chủ yếu trong luận văn nhằm rút ra những
vướng mắc, bất cập trong hoạt động giải thích hợp đồng trong thực tiễn.
cứu vấn đề này cũng được xem xét tiếp cận trong phạm vi nghiên cứu Hiệu lực
của hợp đồng nói chung.
Khi nói đến vấn đề giải thích hợp đồng, người ta sẽ liên hệ tới các vấn đề
khác của hiệu lực hợp đồng để có thể xác định rõ vai trò của hoạt động này, về
cơ bản khi kết lập hợp đồng, các hợp đồng này có hiệu lực ràng buộc các bên
giao kết, khi đó, trong nhiều trường hợp các bên tham gia giao kết hợp đồng
không đồng quan điểm về vấn đề nào đó trong hợp đồng do nhầm lẫn, hoặc thiếu
sót trong hợp đồng; tòa án (hoặc các chủ thể có nhiệm vụ giải thích hợp đồng tùy
nền tài phán ) có quyền giải thích hợp đồng để biết rõ nội dung của hợp đồng
như thế nào, xác định rõ các điểm còn tranh cãi hoặc bổ sung những điểm thiếu
sót tùy các thức quy định của luật.
Nghiên cứu lý luận về Giải thích hợp đồng có thể nhận thấy đã có nhiều
tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau, tuy nhiên có thể thấy phần lớn cách
thức tiếp cận khái niệm này dưới góc độ trực tiếp chỉ ra nhiệm vụ hay chức năng
của hoạt động này.
Trong cuốn Từ điển luật học, không có định nghĩa cụ thể về giải thích hợp
đồng mà chỉ có giải nghĩa về giải thích giao dịch dân sự, nếu ta hiểu theo cách
thức mối liên quan tại Bộ luật dân sự 2005 quy định tại Điều 121 “giao dịch dân
sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”, thì theo cách diễn giải của Từ điển luật học
thì “giải thích giao dịch dân sự là việc thẩm phán làm rõ nghĩa nội dung của
giao dịch dân sự đó” [65,tr. 288], dễ nhận thấy rằng, khái niệm này của Từ điển
luật học xuất phát từ cách thức thể hiện tại điều khoản về giải thích giao dịch dân
sự tại Điều 126 Bộ luật dân sự 2005, theo đó, cách thức diễn giải này đã thể hiện
một điểm hạn chế khá rõ đó là mới chỉ đề cập tới chức năng làm rõ nghĩa của
7
không thể đạt được hiệu quả như các bên mong muốn. Bởi vậy, một vấn đề đặt
ra là phải làm sáng tỏ nội dung của giao dịch dân sự và bổ sung những điểm còn
thiếu khi xác lập giao dịch. Đó chính là nhiệm vụ giải thích giao dịch dân sự”
[31,tr.303]. Mặc dù khái niệm này đã thể hiện đủ hai chức năng của giải thích
hợp đồng (nếu ta xem xét rằng khái niệm đối với giao dịch dân sự cũng áp dụng
đối với giải thích hợp đồng) nhưng cách thức diễn giải còn một vấn đề về mặt
câu chữ, theo cách hiểu thông thường khi đọc nội dung trên, người đọc dễ hiểu
nhiệm vụ giải thích giao dân sự đó là làm sáng tỏ nội dung của giao dịch dân sự
và bổ sung những điểm còn thiếu, như vậy thì nhiệm làm sáng tỏ nội dung và
nhiệm vụ bổ sung là hai nhiệm vụ song song với nhau, là hai nhiệm vụ được
thực hiện đồng thời trong quá trình giải thích giao dịch dân sự, tuy nhiên trong
thực tế không phải trường hợp nào cũng phải đảm bảo hai nhiệm vụ này của giải
thích giao dịch dân sự. Vì trong trường hợp đã đầy đủ điều khoản nhưng không
rõ nghĩa thì chỉ cần áp dụng các nguyên tắc cụ thể không phải bổ sung điều
khoản nào cả, hoặc trường hợp các điều khoản thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó,
được đặt trong mối liên hệ nhất định với nhau trong hợp đồng, tuy nhiên có khả
năng vẫn tồn tại lỗ hổng dẫn tới hệ quả không thể thực hiện được hoặc gây bất
đồng về cách hiểu các nội dung đã quy định trong hợp đồng thì cần bổ sung.
So sánh với một số cách thức định nghĩa về khái niệm Giải thích hợp đồng
của một số nước, một số luật gia tại Việt Nam cũng trích dẫn các quan điểm của
Nga, tiêu biểu là của tác giả E. A. Berezina cho rằng: “đó là một dạng đặc biệt
của giải thích luật, được thực hiện bằng các phương pháp truyền thống của kỹ
thuật pháp lý và các phương pháp xuất phát từ nội dung hợp đồng riêng biệt của
những hoạt động pháp luật đặc thù của các bên trong hợp đồng, người đại diện
9
của họ, cơ quan tòa án và các chủ thể pháp luật khác, theo hướng làm rõ nghĩa
các điều khoản từng hợp đồng riêng biệt trong mục đích của việc thực hiện nó”
hơn cả vì nó đáp ứng được đủ yêu cầu hai chức năng riêng tách bạch của giải
thích hợp đồng đó là (1) làm rõ nghĩa cho hợp đồng; (2) bổ sung các thiếu sót
của hợp đồng. Tuy nhiên, cần phải phải nhận xét thêm rằng, một điểm mấu chốt
còn thiếu sót của định nghĩa này đó là yếu tố đảm bảo ý chí chung của các bên
tham gia giao kết hợp đồng, và đảm bảo tính chính xác của nội dung trong hợp
đồng hay mối liên hệ giữa các điều khoản với nhau, yếu tố này luôn là nguyên
tắc căn bản khi xây dựng bất kì chế định nào về vấn đề giải thích hợp đồng cũng
như thực tiễn hoạt động của nó trong thực tế.
Nhìn chung, các khái niệm về Giải thích hợp đồng gần như chỉ giới hạn ở
nội dung tiếp cận dưới góc độ các chức năng của nó liên quan đến đối tượng của
hoạt động này đó là hợp đồng có điều khoản hoặc nội dung mập mờ, không rõ
nghĩa hoặc (có thể đồng thời) quy định trong nội dung hợp đồng thiếu hoàn
chỉnh vì nhiều lí do khác nhau khi xác lập hợp đồng. Tuy nhiên ở một số góc độ
tiếp cận khác nhau, yếu tố bổ sung điều khoản hoặc các quy định còn thiếu sót
trong hợp đồng dường như chưa được quan tâm nhiều trong vấn đề giải thích
hợp đồng, đây là thiếu sót cực kỳ nghiêm trọng.
Từ những nhận định trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về Giải
thích hợp đồng như sau: Giải thích hợp đồng là hoạt động của thẩm phán hoặc các
chủ thể khác tùy cách thức quy định của từng nền tài phán khác nhau (ví dụ như
trọng tài viên...), thực hiện nhiệm vụ xác định rõ các điểm không rõ nghĩa hoặc bổ
sung các quy định không đầy đủ trong nội dung của hợp đồng giữa các bên trong
quan hệ hợp đồng. Giải thích hợp đồng phải dựa trên cơ sở không làm thay đổi bản
11
chất của hợp đồng, hay cụ thể hơn là không làm thay đổi ý chí của các bên tham gia
giao kết hợp đồng.
Khái niệm trên đã hàm chứa những điểm cốt lõi nhất về giải thích hợp
đồng, đó là:
thức tiếp cận về chủ thể giải thích hợp đồng này khá tương đồng với cách thể
hiện của các luật gia của Nga, theo Berezina thì “đó là một dạng đặc biệt của
giải thích luật, được thực hiện bằng các phương pháp truyền thống của kỹ thuật
pháp lý và các phương pháp xuất phát từ nội dung hợp đồng riêng biệt của
những hoạt động pháp luật đặc thù của các bên trong hợp đồng, người đại diện
của họ, cơ quan tòa án và các chủ thể pháp luật khác, theo hướng làm rõ nghĩa
các điều khoản từng hợp đồng riêng biệt trong mục đích của việc thực hiện
nó”[24,T.44]ư, với cách định nghĩa như vậy thì theo Berezina chủ thể của hoạt
động giải thích hợp đồng trước hết thuộc về chính các bên trong hợp đồng, sau
đó là người đại diện, cơ quan tòa án và các chủ thể pháp luật khác. Cũng cùng
cách thức tiếp cận như vậy, một số luật gia của Việt Nam cũng có ý kiến cho
rằng các vấn đề phát sinh yêu cầu giải thích hợp đồng cũng là một loại tranh
chấp hợp đồng, vì vậy chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đồng thời
cũng có thể giải thích hợp đồng [41, tr.32]. Tuy nhiên cách hiểu trên đây còn có
một điểm khó hiểu, đó là nếu đánh giá hoạt động giải thích hợp đồng theo giai
đoạn, là việc xác định ý chí, như vậy nếu giai đoạn thương lượng, hòa giải giữa
các bên, hay theo cách xác định chủ thể giải thích hợp đồng đó là các bên trong
hợp đồng, thì liệu nó có được coi là hoạt động giải thích hợp đồng nữa hay
không khi mà sự thỏa thuận giữa các bên nhiều trường hợp đã làm thay đổi đi ý
chí ban đầu muốn thể hiện, đặc biệt là đối với trường hợp không thể xác định
13
được ranh giới giữa việc giữ nguyên nội dung của hợp đồng và không làm thay
đổi ý chí của các bên, chỉ nhằm làm rõ nghĩa hay bổ sung lỗ hổng của hợp đồng.
Trong khi đó, theo cách thức quy định và cách hiểu của các luật gia truyền
thống thì nhiều ý kiến cho rằng chủ thể của hoạt động của giải thích hợp đồng là
các thẩm phán. Konrad Zeugert và Hein Koetz cho rằng Giải thích hợp đồng là
Qui trình thực hiện nhiệm vụ của thẩm phán. TS Nguyễn Ngọc Khánh thì cho
thích là một loại tranh chấp hợp đồng được vì hợp đồng cần giải thích không
phát sinh từ hành vi vi phạm mà xuất phát trong nội dung của hợp đồng đó), theo
đó chủ thể giải quyết tranh chấp hợp đồng cũng là chủ thể của hoạt động giải
thích hợp đồng. Sở dĩ có thể nhận định như vậy vì các lý do, (1) xuất phát từ dẫn
giải hợp đồng có điều khoản mập mờ hay có lỗ hổng dẫn tới cách hiểu và áp
dụng sai trong thực tế, từ đó có bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia giao kết
(mặc dù các các bất đồng này không xuất phát từ vi phạm của các bên như tranh
chấp thông thường) và do đó phát sinh yêu cầu giải thích hợp đồng từ một chủ
thể độc lập có đủ khả năng (trong các trường hợp này khó có thể quy định do hai
bên tự thương lượng, vì bản chất quá trình thương lượng không còn là hoạt động
giải thích hợp đồng, quá trình thương lượng có thể đã làm thay đổi ý chí ban đầu
của một hoặc cả hai bên tham gia hợp đồng) (2) đối với vấn đề hoạt động giải
thích hợp đồng, khó có một hạn định bắt buộc nào trong việc xác định chủ thể có
thẩm quyền giải thích đối với từng hợp đồng riêng rẽ, (3) thông thường chủ thể
giải quyết tranh chấp có thể là thẩm phán (theo thủ tục tố tụng tại tòa án), trọng
tài viên (giải quyết theo thủ tục trọng tài thương mại). Đối với những chủ thể
như vậy thì các yêu cầu về chủ thể giải quyết tranh chấp hợp đồng cũng đã được
15
đảm bảo (về chuyên môn, trình độ, mức độ am hiểu trong lĩnh vực giải quyết ...),
do đó cũng đáp ứng đầy đủ khả năng đối với vấn đề giải thích hợp đồng.
Như vậy có thể hiểu chủ thể có thẩm quyền giải quyết vấn đề giải thích
hợp đồng hiện nay đó là thẩm phán hoặc trọng tài viên theo thủ tục tố tụng tư
pháp hoặc giải quyết bởi trọng tài thương mại, tùy theo nội dung của từng hợp
đồng và cách thức quy định của từng nền tài phán.
1.1.3. Chức năng của Giải thích hợp đồng
Như ta đã nhận xét thông qua khảo sát các khái niệm về giải thích hợp
đồng thì có thể rút ra chức năng của hoạt động này bao gồm: thứ nhất, làm rõ
nguyên tắc để áp dụng trong thực tiễn (các nguyên tắc này sẽ được phân tích cụ
thể tại chương 2 của luận văn). Một hệ quả nữa để quy về đối tượng của hoạt
động giải thích hợp đồng về nội dung mơ hồ hợp đồng đó là điều khoản của hợp
đồng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Thực tế, các điều khoản này có thể thể
hiện các nguyên tắc chung mà các bên phải tuân thủ hoặc các điều khoản xác lập
quyền và nghĩa của các chủ thể, một điều khoản có nhiều cách hiểu có thể dẫn
tới hệ quả là làm sai lệch đi cơ bản nội dung của toàn hợp đồng, như vậy, theo
cách hiểu về cơ bản là làm sai lệch đi ý chí của các bên. Tuy nhiên, đối với
trường hợp điều khoản được hiểu theo nhiều nghĩa này, hoạt động giải thích hợp
đồng cần đặc biệt thận trọng, vì nếu lạm dụng các nguyên tắc dựa trên ý chí
tuyên bố, có thể làm sai lệch đi bản chất của hoạt động giải thích hợp đồng, đó là
yêu cầu đảm bảo không làm thay đổi nội dung của hợp đồng.
Thứ hai, hợp đồng tồn tại những lổ hổng cần được bổ sung. Đây là đối
tượng khá đặc biệt của hoạt động giải thích hợp đồng, một hợp đồng cơ bản đảm
bảo nội dung, thể hiện được ý chí của các bên, do đó có thể làm căn cứ để giải
17
quyết các tranh chấp. Trong thực tế, các hợp đồng khó có thể thể hiện đầy đủ nội
dung hoặc điều kiện của chúng một cách lý tưởng như trong lý thuyết. Tuy
nhiên, các nội dung cơ bản để thể hiện ý chí của các bên cũng đều được các nền
tài phán đòi hỏi. Vì vậy, việc thiếu hụt quy định trong nội dung của hợp đồng
chính là đối tượng của hoạt động giải thích hợp đồng trên. Đối với loại đối tượng
này, thông thường vấn đề lớn được đặt ra sẽ là (1) khi nào các bên sử dụng các
biện pháp giải thích hợp đồng để lấp “lỗ hổng” của hợp đồng; vấn đề (2) sử dụng
biện pháp giải thích hợp đồng nào và sử dụng các biện pháp này như thế nào.
Đối với việc áp dụng nguyên tắc bổ sung điều khoản còn thiếu trong giải
thích hợp đồng thì cần lưu ý đến 2 vấn đề. Thứ nhất, khi nào thì áp dụng nguyên
tắc này; thứ hai, tiêu chuẩn và cách thức bổ sung các điều khoản còn thiếu trong
bản chất của hợp đồng hay không, cụm diễn giải “do họ không muốn giải quyết”,
vậy thì có thể hiểu, những người tham gia giao kết hợp đồng đã xác định rõ vấn
đề, biết nội dung mà họ không muốn giải quyết, do đó giải thích hợp đồng có
làm thay đổi bản chất ý chí của các bên ban đầu và bản chất của hợp đồng đối
với nội dung “không muốn giải quyết vấn đề” đó hay không? và do đó theo quy
định thôgn thường thì các thẩm phán ở trường hợp này sẽ không áp dụng hoạt
động giải thích hợp đồng để giải quyết vấn đề.
Về vấn đề thứ hai, tiêu chuẩn và cách thức bổ sung điều khoản. Đây là vấn
đề thực tiễn đặt ra rất khó khăn cho các nhà làm luật và các chủ thể giải thích khi
giải thích hợp đồng. Bổ sung làm sao để đảm bảo không thay đổi bản chất của
hợp đồng và cũng đáp ứng được yêu cầu đầy đủ nội dung, UNIDROIT có đưa ra
chỉ dẫn một cách khái quát, ta có thể hiểu tùy từng trường hợp cụ thể mà áp dụng
tìm các yếu tố nội tại cũng như ngoại tại của hợp đồng.
19
Khoản 2, Điều 4.8 của Bộ nguyên tắc UNIDROIT (Bổ sung một điều
khoản còn thiếu) quy định: khi xem xét điều khoản nào là thích hợp, cần lưu ý
đến những chi tiết xung quanh, ví dụ như:
a. Ý định của các bên trong hợp đồng
b. Tính chất và mục đích của hợp đồng
c. Nguyên tắc thiện chí và trung thực
d. Tính hợp lí.
Cách thức quy định trên của UNIDROIT mang lại tính linh hoạt và mềm
dẻo trong quá trình bổ sung, tôn trọng ý chí thực của các bên, bên cạnh đó nó
cũng đảm bảo các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ thương mại nhờ nguyên tắc
thiện chí và trung thực và tính hợp lý. Tuy nhiên, có thể thấy, đáp ứng các yêu
cầu trên đòi hỏi sự phân tích cực kì chuẩn xác về các yêu tố nội tại và ngoại tại
của hợp đồng, trên cơ sở khách quan, đồng thời phải đảm bảo không thay đổi