1.2. Thách thức trong
hội nhập khu vực và các
vấn đề về đo lường
Thomas Vallée và Nguyễn Thị Nguyệt Anh
– LEMNA, IEMN-IAE, Đại học Nantes
Tiến trình “hội nhập khu vực” về kinh tế và chính trị của các nước Đông Nam Á phải đối mặt với
nhiều thách thức và các thách thức này chủ yếu phụ thuộc vào mức độ hội nhập mà các nước
mong muốn thực hiện. Hội nhập khu vực được hiểu là tiến trình xích lại gần nhau về kinh tế, chính
trị, thậm chí cả về xã hội giữa các nước. Các trường hợp hội nhập khu vực đã thực hiện, như EU, Thị
trường chung các nước Nam Mỹ (Mercosur), Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp định
hợp tác kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương (Apec), v.v. cho chúng ta thấy đây là một tiến trình
dài hơi, mỗi một bước tiến đạt được phải trải qua nhiều giai đoạn tiếp nối. Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á (ASEAN) cũng không nằm ngoài quy luật này. Mặc dù được bắt đầu từ năm 1967 với
năm nước sáng lập (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan), nhưng phải đến năm
1991, ý tưởng ban đầu mới dẫn đến việc hình thành một tiến trình hội nhập với những bước đầu
tiên – hiểu theo nghĩa là các nước thành viên mong muốn có được sự hợp tác kinh tế trên cơ sở
thành lập một khu vực mậu dịch tự do nội khối – với sự ra đời của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) và việc kết nạp Brunei là thành viên mới. Năm 1999, sau khi kết nạp thêm Việt Nam (1995),
Lào và Myanmar (1997) và Campuchia (1999), ASEAN mới chính thức là hiệp hội của gần như toàn
bộ các nước Đông Nam Á. Cuối cùng, đến năm 2002, dự án thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN
(AEC) mới được khởi xướng và sẽ chính thức được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015.
Để hiểu rõ hơn những thách thức cũng như những bước tiến có thể có hay không của tiến trình
hội nhập khu vực này, trong phần đầu tham luận, chúng tôi sẽ đề cập đến các cấp độ hội nhập
khu vực khác nhau và nêu rõ các ưu khuyết điểm của từng cấp độ. Trong phần tiếp theo, chúng tôi
sẽ nhắc đến khả năng có thể - hoặc không thể - tiến tới thành lập một khu vực đồng tiền chung
ASEAN. Trong phần cuối, chúng tôi sẽ nhắc đến việc xây dựng các chỉ số đo lường tác động của các
tiến trình hội nhập này.
39
Thách thức trong hội nhập khu vực và các vấn đề về đo lường
- Xu hướng cạnh tranh như vậy sẽ giúp phát triển kinh tế của các nước trong khu vực.
Tuy nhiên, còn một khó khăn lớn trong việc triển khai thực hiện khu vực mậu dịch tự do: đó là tình
trạng các nước ngoài khối tìm cách lách các quy định về thuế quan. Chẳng hạn, nếu Pháp xuất
khẩu sang Việt Nam và phải chịu mức thuế xuất khẩu 30%, Pháp có thể nghĩ đến việc xuất khẩu
sang Thái Lan, với mức thuế suất chỉ là 10%, sau đó tái xuất sang Việt Nam với mức thuế suất 0%. Tất
nhiên, chi phí giao dịch sẽ bị đội lên – như chi phí vận chuyển – nhưng mức thuế suất phải chịu chỉ
là 10% thay vì 30% sẽ bù đắp lại cho mức chi phí bị đội lên đó.
Sơ đồ 1. Ví dụ về trường hợp lách quy định thuế quan
%
Nguồn: tác giả.
Chiến lược sử dụng cổng vào có mức thuế suất thấp nhất sẽ chỉ bị cản trở khi có các tiêu chí cụ thể
để xác định đâu thực sự là sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ từ một nước thành viên để có thể được
hưởng mức thuế suất 0% khi nhập khẩu vào các nước thuộc khối. Các tiêu chí này có tên gọi chung
là “nguyên tắc nguồn gốc xuất xứ”. Việc xác định nguồn gốc xuất xứ của một sản phẩm nhập khẩu
là rất quan trọng, bởi nó quyết định tới việc áp dụng thuế suất và các biện pháp hạn chế khác nếu
có. Hiện tại xét về việc áp dụng các nguyên tắc nguồn gốc xất xứ, giữa các nước có sự đa dạng
tương đối lớn. Một trong những tiêu chí được sử dụng nhiều nhất là tỷ lệ nội địa hóa trong giá trị giá
tăng của sản phẩm. Tuy nhiên, tiêu chí này đặt ra một khó khăn lớn: làm thế nào để tính toán được
tỷ lệ nội địa hóa mà vẫn tính đến các yếu tố đặc thù của một số nước mới nổi.
- Ví dụ quen thuộc là trường hợp của vương quốc Lesotho, một nước nằm ở cực Nam châu Phi.
Nước này không thể khiến ngành may mặc được công nhận là ngành sản xuất trong nước do
EU áp dụng nguyên tắc nguồn gốc xuất xứ quá chặt chẽ. Do không có khả năng sản xuất máy
móc sử dụng cho ngành may mặc cũng như không có khả năng sản xuất vải nguyên liệu – và
cũng do mức thù lao cho “ công việc ” đã thực hiện thấp – nên nước này đã không thể – do
của Ricardo.
Nếu hệ quả thứ nhất tức là việc tạo ra các dòng thương mại từ các nước ngoài liên minh thắng thế
so với hệ quả thứ hai, việc thành lập liên minh thuế quan sẽ tốt cho thương mại quốc tế. Trường
hợp của Liên minh châu Âu EU là một thực tế đã được chứng minh.
Thị trường chung
Thị trường chung – thị trường duy nhất – là hình thức mở rộng của liên minh thuế quan, theo đó,
các nước tham gia không chỉ áp dụng quy định tự do lưu thông hàng hóa dịch vụ mà cả các yếu
tố tư liệu sản xuất (lao động, vốn). Đối với Cộng đồng kinh tế ASEAN AEC, chỉ một số đối tượng lao
động trình độ cao mới được hưởng quy định này. Trường hợp gây tranh cãi của “thợ đường ống
nước Ba Lan” tại Pháp[1] cho thấy những khó khăn trong việc tiến tới thực hiện mục tiêu tự do đi lại
[1] http://abonnes.lemonde.fr/economie/article/2013/12/02/apres-le-plombier-polonais-voila-la-polemique-du-travailleur-detache_3523697_3234.html
42
Thách thức trong hội nhập khu vực và các vấn đề về đo lường
hoàn toàn của người lao động trong nội khối, đặc biệt là đối với các lao động được thuê để thực
hiện các công việc ngắn hoặc trung hạn. Trong thực tế, mức độ dịch chuyển lao động từ nước này
sang nước kia còn thấp. Cụ thể, năm 2012, chỉ có 2% dân số EU sinh sống tại một nước khác trong
khối. Một trở ngại khác đối với quy định này là việc công nhận trình độ lao động và tương đương
bằng cấp giữa các nước thành viên. Đối với các dịch vụ tài chính và logistics, để có thể đảm bảo tự
do lưu thông, cần phải hài hòa hóa các cơ cấu và quy tắc tài chính, cũng như gia tăng mức độ kết
nối về tài chính giữa các nước thành viên.
Thách thức về lý thuyết đối với việc xây dựng thị trường chung là rất lớn. Trên phương diện kinh
tế vi mô, cần phải xây dựng một thị trường rộng lớn, với nhiều đầu ra hơn cho sản phẩm và mức
giá thấp hơn cho người tiêu dùng – nhờ vào mức cạnh tranh tăng lên. Trên phương diện kinh tế vĩ
mô, cần phải đảm bảo mức tăng trưởng mạnh mẽ hơn, tạo việc làm và cải thiện cán cân thương
mại và ngân sách. Hậu quả tiêu cực hiển nhiên là có: mất thị trường được bảo hộ, mất việc làm do
thiếu năng lực cạnh tranh hoặc do mong muốn tái cơ cấu hoặc thực hiện đầu tư theo kinh tế bậc
chung (CEPT)[2], đây là bước tiến lớn tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các hàng rào thuế quan. Năm 2003,
các nước thông qua một nghị định thư quy định về việc bỏ thuế nhập khẩu. Hiện tại, hơn 99% các
sản phẩm nằm trong danh sách CEPT (danh sách gộp IL) của các nước ASEAN-6[3] đã được giảm
thuế suất xuống mức từ 0-5%. Bốn nước Campuchia, Myanmar, Lào và Việt Nam (CMLV) cũng thực
hiện cam kết đưa mức thuế suất xuống còn 0-5% đối với 66% sản phẩm trong danh sách[4].
Biểu đồ 2. Mức thuế nhập khẩu trung bình trong nội khối ASEAN
Nguồn: ASEAN Economic Community Chartbook 2014.
Tính trong thập kỷ vừa qua, thuế nhập khẩu trung bình nội khối ASEAN đã giảm từ 2,99% xuống
còn 0,54%, cụ thể mức thuế trung bình là 0,04% đối với các nước ASEAN-6, và từ 6,64% xuống còn
1,33% đối với bốn nước CMLV. Biểu đồ trên cho thấy tốc độ hội nhập nhanh của các nước xét theo
mức giảm thuế suất nhập khẩu. Xin lưu ý là ngay từ năm 1997, Singapore đã áp dụng mức thuế
nhập khẩu 0% đối với tất cả các sản phẩm nhập khẩu từ các nước ASEAN. Brunei vừa thực hiện việc
tương tự. Đối với các nước ASEAN-6, mức thuế suất trung bình là 0,05%, tức là rất sát với mức thuế
suất chung của AFTA (0,03%)[5].
Bên cạnh các chính sách về hàng rào thuế quan, việc kiểm soát các hàng rào hoặc biện pháp phi
thuế quan vẫn còn là một vấn đề tế nhị, đặc biệt trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế, thường
[2] Đối với một số sản phẩm nhất định, mức thuế suất ưu đãi chung là 0-5 % đối với mọi sản phẩm nhập
khẩu từ các nước ASEAN-6, thời hạn áp dụng được lùi lại đối với 4 nước gia nhập sau.
[3] ASEAN-6 = Brunei Darussalam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan.
[4] ASEAN
Free
Trade
Area
(AFTA
Council),
http://www.ASEAN.org/communities/
ASEAN-economic-community/category/ASEAN-free-trade-area-afta-council
[5] ASEAN Integration Monitoring Report, 2013, A joint report by the ASEAN Secretariat and the World
ASEAN-economic-community/category/ASEAN-trade-in-goods-agreement
[7] Danh sách các biện pháp phi thuế quan của từng nước có thể xem trên trang: http://www.ASEAN.
org/communities/ASEAN-economic-community/item/non-tariff-measures-database
45
Những thách thức phát triển chung trong khối ASEAN
Biểu đồ 4. Các biện pháp phi quan thuế áp dụng theo từng lĩnh vực trong ASEAN
Nguồn: Ahsan et al. (2013).
Cộng đồng kinh tế ASEAN
Cộng đồng kinh tế AEC chính thức được nêu ra vào năm 2003 tại hội nghị thượng đỉnh Bali, thời
hạn triển khai chính thức là tháng 12 năm 2015. Cộng đồng kinh tế ASEAN dựa trên bốn trụ cột: thị
trường chung duy nhất; một khu vực kinh tế cạnh tranh; phát triển kinh tế công bằng; một khu vực
hội nhập đầy đủ vào kinh tế thế giới. (xem khung 1)
Trụ cột số 1: thị trường chung duy nhất
Trụ cột này gồm năm yếu tố chính: i) tự do lưu thông hàng hóa, ii) tự do lưu thông dịch vụ, iii) tự do
lưu thông đầu tư, iv) tự do lưu thông vốn, và v) tự do lưu thông nhân lực có trình độ.
Đối với yếu tố tự do lưu thông hàng hóa, chúng tôi thấy là việc xóa bỏ các hàng rào thuế quan đã
gần như hoàn thành đối với các sản phẩm nằm trong danh sách CEPT. Tuy nhiên, việc kiểm soát
các biện pháp phi thuế quan vẫn còn là vấn đề mặc dù các nước đã thực hiện thống kê danh sách
các biện pháp đã được áp dụng, danh sách thống kê này cũng đã là cơ sở thuận lợi cho đàm phán
– thậm chí có thể tiến tới xóa bỏ hoàn toàn việc áp dụng các biện pháp đó. Cũng xin lưu ý là việc
quản lý các nguyên tắc về nguồn gốc xuất xứ đã được thực hiện dễ dàng hơn nhờ hệ thống tự
chứng nhận/kiểm định cho phép một số công ty xuất khẩu có thể tự thực hiện công việc kiểm định
sản phẩm để kiểm tra xem sản phẩm của mình có đáp ứng theo các tiêu chí của nguyên tắc nguồn
gốc xuất xứ hay không. Cuối cùng, chương trình hài hòa hóa và chuẩn hóa quy trình hải quan trong
- Quyền sở hữu trí tuệ: hạ tầng cơ sở, thuế, thương mại điện tử
Hội nhập vào kinh tế toàn cầu
- Duy trì mức độ trung tâm của ASEAN trong quan hệ đối ngoại
- Tăng cường tham gia vào các mạng lưới sản xuất toàn cầu
Nguồn: ASEAN Economic Community Blueprint (2014) ; Lacour (2014).
Về mục tiêu tự do lưu thông dịch vụ – hiệp định khung Afas[8] về dịch vụ – việc triển khai có chậm
hơn so với tự do lưu thông hàng hóa. Hiện tại, 84 nhóm ngành dịch vụ đã được cam kết đảm bảo tự
do lưu thông[9], kết quả này tương đối khiêm tốn và cũng mới chỉ gần với nội dung đàm phán của
hiện định chung về thương mại dịch vụ của WTO (GATS).
Để tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, cơ chế đầu tư linh hoạt hơn đã được thiết lập trong
khu vực thông qua việc ký kết hiệp định ASEAN Comprehensive Investment Agreement[10] (ACIA) vào
tháng 3 năm 2012. Mục tiêu của hiệp định này là thúc đẩy, bảo vệ, tạo thuận lợi và đảm bảo tự do
lưu thông đầu tư. Cũng như đối với mục tiêu tự do lưu thông dịch vụ, kết quả đạt được trong tự do
lưu thông đầu tư vẫn còn hạn chế do một số nước còn nhiều dè dặt trong việc triển khai các biện
pháp này.
[8] ASEAN
Framework
Agreement
on
Services.
http://www.ASEAN.org/communities/
ASEAN-economic-community/item/ASEAN-framework-agreement-on-services
[9] “Thinking Globally, Prospering Regionally”, ASEAN Economic Community 2015 Booklet, ASEAN
Secretariat.
[10] Hiệp định ký kết năm 2009 nhưng đến năm 2012 mới được tất cả các nước phê chuẩn.
Đối với mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng, Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng ASEAN (ACCP)[11] đã được
thành lập, có nhiệm vụ xây dựng trang web tiếp nhận khiếu nại và phổ biến thông tin về quyền của
người tiêu dùng[12]. Liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, ASEAN đã thông qua Kế hoạch hành động
ASEAN 2011-2015, trong đó nhấn mạnh rằng đây là vấn đề sống còn trong việc xây dựng một khu
vực kinh tế cạnh tranh và đột phá về đổi mới công nghệ.
[11] http://www.ASEANconsumer.org/
[12] http://www.ASEANconsumer.org/downloads/
48
Thách thức trong hội nhập khu vực và các vấn đề về đo lường
Hình 1. Quyền của người tiêu dùng ở Việt Nam
Nguồn: Bộ Công Thương (2015).
Hạ tầng cơ sở được coi là nội dung chính trong hợp tác giữa các nước thành viên. Các nước ASEAN
dự định xây dựng chính sách chung về giao thông hàng không – Singlet Aviation Market –, giao
thông đường biển và đường bộ – ASEAN Highway Network – và các dự án nội khối về lĩnh vực năng
lượng và công nghệ thông tin. Dự án Trans-ASEAN Gas Pipeline (TAGP) sẽ được triển khai nhằm kết
nối hệ thống hạ tầng đường ống khí đốt giữa các nước thành viên. Khi hoàn thành, hệ thống này
sẽ cho phép vận chuyển khí đốt (kể cả khí đốt thiên nhiên hóa lỏng) qua biên giới các nước ASEAN.
Tự do hóa dịch vụ hàng không đã được triển khai ở hầu hết các nước. Một thỏa thuận đã được ký
kết[13] để thúc đẩy thương mại điện tử trên cơ sở phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và quyết
tâm thu hẹp khoảng cách số giữa các nước thành viên.
Các dự án “hạ tầng” này được hỗ trợ từ quỹ ASEAN Infrastructure Fund[14], với số vốn hơn 500 triệu
USD do ADB quản lý.
[13] http://www.ASEAN.org/news/item/e-ASEAN-framework-agreement
trụ cột của cộng đồng kinh tế ASEAN AEC, cơ chế theo dõi với tên gọi AEC Scorecard đã được thiết
lập. Đây là cơ chế đánh giá đơn giản: nếu một biện pháp đưa ra được thực hiện đầy đủ thì ghi “có”,
còn ngược lại thì ghi “không”. Tiêu chí để đánh giá một biện pháp đã được thực hiện đầy đủ là tất
cả các nước thành viên ASEAN phải thông qua và mọi hoạt động liên quan phải được thực hiện
trong thực tế (Lacour, 2014).
[15] Có chỉ số đánh giá riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ASEAN: l’ASEAN SME Index ; http://
www.oecd.org/fr/relationsmondiales/approchesregionales/ASEANsme.htm
[16] http://www.ASEAN.org/resources/publications/item/ASEAN-strategic-action-plan-for-smedevelopment-2016-2025?category_id=382
[17] h t t p : / / w w w . A S EA N . o r g / c o m m u n i t i e s / A S EA N - e c o n o m i c - c o m m u n i t y / c a t e g o r y /
initiative-for-ASEAN-integration-and-narrowing-the-development-gap
[18] http://www.ASEAN.org/resources/item/annual-report-2014-2015
50
Thách thức trong hội nhập khu vực và các vấn đề về đo lường
Theo chỉ số đánh giá này, ASEAN đã hoàn thành 76,5% trong tổng số 277 biện pháp ưu tiên của
AEC cho giai đoạn 2008-2013. Tuy nhiên cơ chế đánh giá này vấp phải một số ý kiến chỉ trích: thiếu
minh bạch, việc thông qua một biện pháp không nhất thiết lúc nào cũng sẽ đi kèm với việc thực
hiện cụ thể[19]. Báo cáo 2015 cho biết, trong số 506 biện pháp ưu tiên được đưa ra, có 458 biện pháp
đã được thực hiện.
Biểu đồ 5. Cơ chế theo dõi các biện pháp của Cộng đồng kinh tế ASEAN AEC
Nguồn: Menon et Melandez (2015).
Mặc dù nhiều bước tiến cụ thể đã được thực hiện trong quá trình triển khai AEC, các nước thành
viên ASEAN vẫn có sự khác biệt và đa dạng rất lớn, chẳng hạn chỉ tính riêng mức thu nhập bình
quân đầu người cũng đã thấy rõ sự chênh lệch (xem thêm chỉ số KOF dưới đây).
Thách thức trong hội nhập khu vực và các vấn đề về đo lường
Currency Unit. Để biết xem đồng Euro có phải là một ví dụ có thể đi theo, cần phải phân tích các bài
học kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng châu Âu mới đây.
Những bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng châu Âu
Trong khuôn khổ khu vực đồng Euro cũng như trong khuôn khổ ASEAN, có thể nhận thấy giữa các
nước có nhiều khác biệt.
Biểu đồ 7. Thay đổi thu nhập bình quân đầu người tại khu vực đồng Euro
Nguồn: Natixis (2015) xây dựng lại.
Vậy làm thế nào để đảm bảo mức độ liên kết trong khu vực và tránh tình trạng đầu cơ – vốn không
thể thực hiện được qua công cụ tỷ giá – có thể tác động mạnh tới lãi suất, như trường hợp đã xảy
ra vào cuối năm 2011, đầu năm 2012 tại khu vực đồng Euro?
Tình trạng khác biệt giữa các nước không phải là mới. Trước đây, mọi người đều biết rằng việc kết
nối thống nhất giữa các nước sẽ được tạo điều kiện khi có sự đồng bộ, thống nhất giữa các nước
thành viên. Tính đồng bộ này được biểu hiện cụ thể qua việc năng suất ở những nước thu nhập
thấp được nâng lên để bắt kịp với các nước có thu nhập cao. Tuy nhiên điều này đã không được
thực hiện, đặc biệt trong giai đoạn 2009-2015. Trong hoàn cảnh đó, còn một giải pháp nữa là các
biện pháp mang tính liên bang: chuyển giao thu nhập giữa các nước để thu hẹp khoảng cách.
53
Những thách thức phát triển chung trong khối ASEAN
Nhưng hiệu quả mang tính liên bang trong khu vực này rất yếu do mức đóng góp thực tế của các
nước thành viên vào ngân sách châu Âu còn thấp.
Trước thực trạng như vậy, một giải pháp ngắn và trung hạn có thể nghĩ tới là phá giá nội bộ. Theo
Thách thức trong hội nhập khu vực và các vấn đề về đo lường
Bảng 2. Vị trí của ASEAN và ASEAN +3 trong thương mại quốc tế
Nguồn: Nguyen, Pham et Vallée (2015).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có tình hình tương tự. Tỷ trọng của ASEAN trong dòng vốn tiếp
nhận trên quy mô thế giới đã tăng từ 4,4% lên 7,4%, mức tỷ trọng của ASEAN +3 tăng gần gấp bốn
lần, từ 9,2% lên 36,1%. Các dòng vốn đầu tư ra ngoài của ASEAN +3 cũng tăng mạnh, từ 7,4% lên
22,4% tổng số vốn đầu tư thực hiện trên toàn thế giới. Ở cấp độ khu vực, tỷ trọng đầu tư của ASEAN
lại giảm: từ 47,9% xuống còn 20,5% tổng số vốn tiếp nhận. Lý do chủ yếu của thực tế này là vai trò
ngày càng gia tăng của Trung Quốc và Australia.
Bảng 3. Vị trí của ASEAN và ASEAN +3 trong dòng vốn đầu tư FDI
Nguồn: op. cit. 2015.
55
Những thách thức phát triển chung trong khối ASEAN
Tỷ trọng của ASEAN và ASEAN +3 trong thương mại thế giới tăng lên cũng đi kèm với sự gia tăng về
mức độ tập trung các hoạt động thương mại của ASEAN trong phạm vi nội khối. Bảng dưới đây cho
thấy các hoạt động thương mại của ASEAN +3 có đặc điểm là tập trung vào các giao dịch giữa các
nước thành viên: xuất khẩu nội khối tăng từ 22,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của ASEAN năm 2000
lên 28,2% năm 2010; nhập khẩu nội khối cũng tăng từ 21,1% lên 26,6%. Ngoài ra, các luồng trao đổi
thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng tăng mạnh trong thập kỷ vừa
qua – lý do của thực tế này có lẽ là nhờ cơ chế ASEAN +3 được ra đời năm 1997.
Bảng 4. Cơ cấu thương mại nội khối và ngoại khối của ASEAN
Chỉ số tự do kinh tế
Bảng 6. Kết quả xếp hạng các nước ASEAN theo chỉ số IEF năm 2015
Nguồn: IEF, http://www.heritage.org/index/ - 2015.
Từ năm 1995, quỹ Heritage Foundation hàng năm công bố kết quả đánh giá theo chỉ số tự do kinh
tế (IEF[21]) đối với 186 nước. Chỉ số này tập trung đánh giá bốn khía cạnh của môi trường kinh tế
mà chính phủ có thể áp dụng một mức độ kiểm soát nào đó: tự do sản xuất, tự do lao động, tự do
tiêu dùng và tự do đầu tư. Mười tiêu chí được tính toán bao gồm: tự do kinh doanh, tự do trao đổi,
[20] Để có thông tin đầy đủ về phương pháp đo lường bằng chỉ số hỗn hợp, xin xem thêm OCDE-JRC
(2008) hoặc Dialga and Giang (2015).
[21] Index of Economic Freedom : http://www.heritage.org/index/. Để tham khảo thêm ý kiến chỉ trích về
phương pháp xây dựng chỉ số IEF, xin xem thêm Dialga and Vallée (2015).
57
Những thách thức phát triển chung trong khối ASEAN
tỷ trọng của các loại thuế, chi tiêu nhà nước, ổn định tiền tệ, tự do đầu tư, bỏ điều tiết thị trường tài
chính, bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, chống tham nhũng và tự do hóa lao động.
Kết quả xếp hạng năm 2015 cho thấy có khoảng cách chênh lệch lớn giữa Singapore (đứng thứ
hai thế giới) và Việt Nam và Lào (đứng thứ 148 và 150 thế giới). Bảng dưới đây minh họa cụ thể
hơn bằng kết quả đánh giá theo 5/10 tiêu chí nói trên của từng nước trong ASEAN. Chẳng hạn, có
thể thấy Campuchia xếp cuối cùng về tiêu chí chống tham nhũng và tự do kinh doanh. Tương tự,
Việt Nam cũng xếp cuối cùng theo tiêu chí tự do đầu tư và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân.
Chỉ số toàn cầu hóa KOF
Chỉ số toàn cầu hóa KOF[22] định nghĩa toàn cầu hóa là một tiến trình tạo ra các mạng lưới kết nối
phân tích chính xác toàn bộ cấu trúc các quan hệ tương tác giữa các nước thông qua các chỉ số
đặc thù.
Trong số các chỉ số lưới, chỉ số quen thuộc nhất là mức độ trung tâm. Chỉ số này đánh giá vị trí của
một nước trong mạng lưới trên cơ sở xem xét số lượng các mối nối (liên kết) – tổng hợp hay không
tổng hợp – của nước đó với các nước khác[25]. Một nước càng ở vị trí “trung tâm” thì nước đó các có
nhiều kết nối với các nước khác. Ngược lại, các nước có mức độ kết nối thấp sẽ là các nước nằm ở vị
trí “ngoại vi”. Trong trường hợp các nước ASEAN, việc sử dụng chỉ số không tổng hợp theo hệ số để
phân tích thương mại quốc tế sẽ không có ý nghĩa vì tất cả các nước đều có quan hệ thương mại
với các nước khác trong ASEAN. Do đó, việc sử dụng chỉ số này phải được tính toán bằng cách tổng
hợp hệ số của tất cả các mối liên kết và tầm quan trọng của các luồng được vận chuyển như giá trị
xuất khẩu hoặc luồng vốn FDI. Để có thể có được một ý tưởng tốt hơn về mạng lưới hiện có trong
ASEAN, mạng lưới này được chủ động mở rộng thành khuôn khổ ASEAN +3.
Bảng dưới đây cho biết kết quả xếp hạng năm 2013 của các nước ASEAN +3 theo giá trị mức độ
trung tâm trong hệ thống có định hướng, được đo bằng các luồng xuất khẩu vào (in-Degree), tương
ứng với giá trị nhập khẩu của mỗi nước, và trong mạng lưới các luồng xuất khẩu ra (out-Degree)
tương ứng với giá trị xuất khẩu của mỗi nước. Giá trị tổng hợp ở đây được tính toán bằng giá trị
xuất khẩu (X) giữa các nước (vào hoặc ra), và bằng giá trị này chia cho hệ số quy mô của nước liên
quan được đo bằng GDP (X/GDP). Tính theo giá trị tuyệt đối, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là
các nước có mức độ tham gia cao nhất vào thương mại khu vực. Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn luôn là
những nước đóng vai trò trung tâm kể cả trước và sau khi hình thành khuôn khổ ASEAN +3.
Việc đọc kết quả đánh giá mạng lưới được đo bằng giá trị tương đối mang đến một cái nhìn khác
đối với vị trí của Nhật Bản và Trung Quốc. Hai nước này lần lượt giữ vị trí thứ nhất và thứ hai xét về
mức độ trung tâm đối với các luồng xuất khẩu vào, nhưng lại chiếm vị trí số 12 và 13 đối với các
luồng xuất khẩu ra. Kết quả đánh giá này cho thấy vai trò trung tâm của hai nước này trong nhập
khẩu hàng hóa xuất phát từ ASEAN sau đó tiếp tục xuất khẩu sang các nước nằm ngoài khuôn khổ
ASEAN +3. Các nước sáng lập ASEAN như Singapore và Malaysia đã thành công trong việc duy trì
vị trí quan trọng trong mạng lưới thương mại ASEAN +3. Tuy nhiên, vị trí của Malaysia lại ngược lại
[23] Phần này chúng tôi tham khảo chính từ bài viết của Nguyen Pham and Vallée (2015).
[24] Về điểm này xin xem thêm Snyder and Kick (1979).
[25] Để có định nghĩa chính xác hơn, xin xem thêm Nguyen, Pham et Vallée (2015).
60
Thách thức trong hội nhập khu vực và các vấn đề về đo lường
quy mô nền kinh tế. Singapore sẽ trở thành nước trung tâm, tức là nước xuất khẩu vốn chính trong
ASEAN +3, nếu xét theo năng lực của nước này đo bằng hệ số GDP.
Bảng 9. Vị trí xếp theo mức độ trung tâm của các nước ASEAN
trong các mạng lưới thương mại năm 2012
Nguồn: tính toán của tác giả dựa trên các số liệu có sẵn trên mạng của United Nations Commodity Trade Statistics Database (UN
Comtrade), Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), ASEAN, United Nations Conference on Trade and
Developmen (UNCTAD).
Kết luận
Trong khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đang được triển khai, điều quan trọng là phải hiểu được
những thách thức liên quan đến tiến trình hội nhập này về mặt lý luận, cũng như các bước của
tiến trình xây dựng AEC. Chúng tôi cũng đã nhắc đến những triển vọng đi lên của AEC. Hiển nhiên,
khu vực đồng Euro, với những khó khăn đã gặp phải có thể là một trường hợp để học hỏi rút kinh
nghiệm cho các cơ chế thị trường chung mong muốn tiến tới thành lập liên minh tiền tệ. Tiến trình
hội nhập không thể chỉ được đo lường bằng việc tính đếm cơ học các mục tiêu và xem mục tiêu
nào đã đạt được (giảm thuế hải quan, v.v.) mà còn phải được đánh giá trong thực tiễn kinh tế thông
qua các luồng trao đổi nội khối hoặc các xu hướng chuyên môn hóa của mỗi nước. Chúng tôi nghĩ
rằng, tuy các công cụ đo lường truyền thống vẫn hữu dụng – tức là giúp đo lường được các luồng
trao đổi thương mại hoặc tài chính, vẫn cần thiết phải phát triển các công cụ mới để phân tích tốt
hơn mức độ phức tạp của các hiện tượng. Các công cụ đó vừa giúp hiểu được diễn biến hội nhập
về tổng thể nhờ vào các chỉ số hỗn hợp và vừa giúp nắm bắt tốt hơn những thay đổi trong cấu trúc
thị trường nhờ vào các chỉ số lưới. Tóm lại, điều cần làm là xem xét xem việc thành lập Cộng đồng
61
Natixis (2015), Comment peut être assurée la cohésion d’une union monétaire hétérogène ?, Flash
économie, Natixis, 23 juin 2015 – N°522.
Nguyen A.H.P. and T. Vallée (2015), Economic integration in ASEAN + 3: A network analysis, LEMNA
Working paper, 2015-21. Url: https://hal.archives-ouvertes.fr/hal-01195756.
62
Thách thức trong hội nhập khu vực và các vấn đề về đo lường
OECD-JRC (2008), Handbook on Constructing Composite Indicators: Methodology and User Guide.
OECD Publishing.
Snyder, D. and E. Kick (1979), Structural position in the world system and economic growth 1955-70:
A multiple network analysis of transnational interactions, American Journal of Sociology, 84: 1096–
126.
63