VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TUẤN ANH
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TUẤN ANH
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Võ Đình Toàn
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Tuấn Anh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
HĐXD
: Hợp đồng xây dựng
LXD
: Luật Xây dựng
NĐ
: Nghị định
TT
: Thông tư
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động đầu tư xây dựng ngày nay là một trong những hoạt động kinh tế phát
triển rất mạnh mẽ và được sự quan tâm của chính quyền các cấp, chiếm một phần cơ
cấu không nhỏ trong các hoạt động kinh tế tại Việt Nam, nhất là trong giai đoạn thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngành xây dựng cơ bản ngày càng có vai trò to lớn
trong việc xây dựng đất nước, hình thành nền kinh tế vững mạnh có chiều sâu. Hợp
đồng xây dựng là một trong những công cụ quan trọng nhằm đạt được điều mong
muốn đó. Hợp đồng là một trong những phương tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ
chức trao đổi lợi ích nhằm thỏa mãn các nhu cầu. Sản phẩm của hoạt động xây dựng
thường có thời gian sử dụng lâu dài, gắn liền với nguồn vốn đầu tư lớn. Do vậy, để
một dự án đầu tư xây dựng vận hành thực sự có hiệu quả về cả chất lượng, sử dụng
hợp lí chi phí đầu tư, yêu cầu đòi hỏi tất yếu là giữa các chủ thể là phải có hợp đồng
xây dựng thoả mãn được nhu cầu lợi ích của các chủ thể và hơn hết là tuân thủ đúng
quy định của pháp luật. Chế định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trở thành
một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam. Điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng chính là sự tạo lập ra quyền và nghĩa vụ giữa các bên giao
kết, là hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên tham gia. Một hợp đồng
được ký kết, nếu không có hiệu lực thì hợp đồng đó chưa thể tạo ra quyền và nghĩa
vụ giữa các bên, chưa ràng buộc các bên với nhau và pháp luật cũng chưa tác động
đến cách xử sự của các bên theo qui định của hợp đồng đó.
Thực tiễn cho thấy vấn đề hiệu lực của hợp đồng xây dựng đã được qui định
khá cụ thể trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật Xây dựng 2014. Tuy nhiên, thực tiễn
thực hiện một số quy định về điều kiện hiệu lực hợp đồng xây dựng cũng đã bộc lộ
nhiều bất cập, gây khó khăn cho công tác giải quyết các tranh chấp có liên quan.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật về điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng xây dựng trở thành một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết nhằm tạo
điều kiện phân tích chỉ ra những điểm mạnh cần phát huy và một số bất cập của
những vướng mắc của thực tiễn áp dụng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế theo quy
định hiện hành và đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện lý luận về hợp
đồng kinh tế vô hiệu nhằm nâng cao năng lực áp dụng pháp luật trong lĩnh vực
này;
-
“Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật hiện
hành” - Khoá luận tốt nghiệp của Thạc sỹ Trần Thị Nhường; năm 2010; nội dung
cơ bản là phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự và hậu quả pháp lý của việc không tuân thủ
2
các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự.
Ngoài ra còn có một số sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu có liên quan
tới một số khía cạnh pháp lý của vấn đề hiệu lực hợp đồng, như “Chế định hợp
đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam” của TS. Nguyễn Ngọc Khánh - Nxb. Tư
pháp, xuất bản năm 2007; “Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản
án”, của TS. Đỗ Văn Đại - Nxb. Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 2014, nội dung
chính là đưa ra các bản án liên quan đến hợp đồng và bình luận, rút ra những nhận
xét pháp lý về các bản án đó. Một số công trình nghiên cứu về vấn đề hiệu lực của
hợp đồng mà tác giả nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như:“Báo cáo phúc trình đề
tài hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng” của Bộ Tư pháp năm 2002;
“Báo cáo tổng kết thực hiện Luật dân sự 2005” của Bộ Tư pháp năm 2009.
Đề tài mà tác giả lựa chọn về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là
chủ đề không quá mới, nhưng các tài liệu, bài báo, công trình nghiên cứu viết về vấn đề
này mới chỉ là những nghiên cứu chung về điều kiện hiệu lực của hợp đồng. Các chủ
đề chuyên sâu về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng trong thời gian gần đây
theo tác giả tìm hiểu là chưa có sách chuyên khảo hay công trình nghiên cứu nào cụ thể
Chỉ ra thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng xây dựng ở Việt Nam;
-
Chỉ ra một số bất cập, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng là các vấn đề pháp lý liên quan đến điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng theo pháp luật của Việt Nam được quy
định tại các văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Xây dựng 2014, Luật
Thương mại 2005 và các văn bản pháp lý liên quan đến hợp đồng xây dựng hiện
hành. Đề tài không nghiên cứu các vấn đề liên quan tới vấn đề kinh tế - xã hội, văn
hóa, truyền thống, trừ khi tác giả Luận văn chủ động đề cập tới nhằm mục đích
nghiên cứu nói trên.
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi pháp luật hiện hành ở Việt Nam mà
không nghiên cứu sâu về lịch sử của lĩnh vực pháp luật này trừ khi cần xử lý những
thông tin liên quan để đáp ứng mục đích nghiên cứu của đề tài theo sự lựa chọn của
tác giả Luận văn. Phạm vi nghiên cứu của tác giả trong luận văn chủ yếu về điều
kiện có hiệu lực của các hợp đồng thi công xây dựng trong lĩnh vực xây dựng nói
chung, không đi sâu vào phân tích về từng loại hợp đồng xây dựng (như hợp đồng
sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo mẫu Thông tư 09/2016/TT-BXD, mẫu
hợp đồng xây dựng FIDIC...). Luận văn tập trung nghiên cứu về các hợp đồng xây
dựng có đối tượng là các công trình xây dựng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Thời
gian nghiên cứu là đối với các hợp đồng xây dựng được giao kết sau thời điểm Luật
Xây dựng 2014, Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành.
tham khảo. Phần nội dung của đề tài được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về hợp đồng xây dựng, điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng xây dựng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tế thi hành pháp luật về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng xây dựng ở Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật
về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG, ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC
CỦA HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
1.1. Khái quát về hợp đồng xây dựng và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
xây dựng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng xây dựng
a)
Khái niệm
Trong xã hội hiện đại, hợp đồng là phương tiện pháp lý phố biến để các chủ
thể thực hiện giao dịch nhằm phục vụ mục đích trong xã hội. Ở Việt Nam, trước đây
hợp đồng được thể hiện dưới các dạng thuật ngữ như khế ước, văn tự, cam kết...,
được định nghĩa trong Bộ Dân Luật Bắc và Dân Luật Trung. Lấy ví dụ khế ước
được định nghĩa là một hợp ước của một người hay nhiều người cam kết với một