thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật việt nam - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011-2015)

Đề tài:

THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Thị Mỹ Linh
Bộ môn: Luật Tƣ pháp

Sinh Viên thực hiện:
Nguyễn Thị Kiều My
MSSV: 5115997
Lớp: Luật Tƣ pháp 2 – K37

Cần Thơ, 11/2014
,
03/2012


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN LUẬN VĂN
............................................................................................................................
............................................................................................................................

............................................................................................................................
...............

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN LUẬN VĂN
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................

SỰ ........................................................................................................................................4
1.1. Một số khái niệm có liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng ....................4
1.1.1. Khái niệm hợp đồng ..............................................................................................4
1.1.2. Khái niệm hiệu lực của hợp đồng ..........................................................................5
1.1.3. Khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng ......................................................6
1.2. Lƣợc sử phát triển những quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng ..................................................................................................................................7
1.2.1. Trong thời kì phong kiến.......................................................................................7
1.2.1.1. Bộ luật Quốc Triều Hình Luật thời nhà Lê ........................................................7
1.2.1.2. Bộ Luật Hoàng Việt Luật Lệ thời nhà Nguyễn ...................................................8
1.2.2. Trong luật cận đại Việt Nam .................................................................................9
1.2.3. Trong luật Việt nam hiện đại ..............................................................................10
1.2.3.1. Giai đoạn 1945 đến năm 1954 .......................................................................10
1.2.3.2. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 ............................................................11
1.2.3.3.Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1980 .............................................................11
1.2.3.4. Giai đoạn sau năm 1980 đến năm 1992 ..........................................................12
1.2.3.5. Thời kì sau khi ban hành hiếp pháp 1992 đến nay ...........................................14
1.3. Ý nghĩa của việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng ................................15
1.3.1. Phân loại hợp đồng .............................................................................................15
1.3.2. Xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ..............................15
1.3.3. Căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba .............................16
1.3.4. Căn cứ để tòa án xác định thời điểm vi phạm hợp đồng nếu có phát sinh tranh
chấp .............................................................................................................................18

CHƢƠNG 2 ......................................................................................................................19
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ...19
2.1. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo luật định ......................................19

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh


3.2.1.2. Sửa đổi bổ sung quy định về thời điểm giao kết hợp đồng khi các bên giao kết
hợp đồng bằng văn bản, hoặc trả lời giao kết hợp đồng bằng văn bản .........................46
3.2.1.3. Bổ sung quy định thời điểm giao kết hợp đồng khi bên được đề nghị trả lời chấp
nhận giao kết bằng cách thực hiện thực hiện một hành vi cụ thể ..................................47
3.2.2. Sửa đổi bổ sung quy dịnh tại điều 405 Bộ Luật Dân Sự 2005 về thời điểm có hiệu
lực của hợp đồng .........................................................................................................48

KẾT LUẬN .......................................................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, với sự phát triển của xã hội thì việc thực hiện các hợp đồng dân sự là một
nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của người dân. Hiện nay, số lượng các hợp đồng
dân sự không ngừng gia tăng, phong phú về hình thức, đa dạng về nội dung, tính
chất…Nhưng không phải lúc nào giữa các bên trong hợp đồng cũng thực hiện hợp đồng
một cách hài hòa, đúng lúc, theo đúng với những gì các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật
có quy định mà đôi khi giữa họ sẽ phát sinh những tranh chấp. Khi có tranh chấp xảy ra
thì có nhiều trường hợp các bên trong hợp đồng tự họ có thể tự thỏa thuận với nhau hoặc
nếu có thỏa thuận trọng tài giải quyết thì lúc này trọng tài sẽ giải quyết. Song cũng có
những trường hợp mà các bên không thể thương lượng được cũng như trọng tài cũng
không thể giải quyết được thì lúc này Tòa án sẽ giải quyết theo đúng với các quy định
của pháp luật.

Với những kiến thức cơ sở lí luận là nền tảng mà người viết đã được trang bị trong
quá trình học tập, kết hợp với những vướng mắc, bất cập trong thực tế và nhằm đạt được
sự thống nhất trong các quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
Tránh trường hợp có nhiều cách áp dụng khác nhau dẫn đến xảy ra nhiều tranh chấp và
để các hợp đồng dân sự, thực sự phát huy hiệu quả tích cực của nó trong đời sống xã hội.
Tạo điều kiện cho các mối quan hệ trong các hợp đồng dân sự giữa các bên được ổn định,
phát triển cũng như nâng cao những hiểu biết cho bản thân về vấn đề này, người viết đã
quyết định chọn đề tài: “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật
Việt Nam”.
2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này chỉ nghiên cứu những quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực
của hợp đồng dựa trên những quy định trong Bộ Luật Dân Sự 2005 và các các văn bản
quy phạm pháp luật khác cùng có quy định điều chỉnh vấn đề có liên quan đến thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng xem có mâu thuẫn, chồng chéo lên nhau không. Để qua đó rút
ra những điểm còn hạn chế, những bất cập còn tồn động trên thực tế và đưa ra một số
quan điểm cá nhân của người viết. Nhằm tìm ra các giải pháp khắc phục, hạn chế những
bất cập từ các quy định của pháp luật về vấn đề thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân
sự hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp
luật Việt Nam” nhằm mục đích tìm hiểu xem những quy định của pháp luật hiện nay có
quy định như thế nào về vấn đề này. Từ đó, tìm ra những khó khăn, vướng mắc khi áp
dụng những quy định của pháp luật vào thực tiễn và đánh giá thực trạng các tranh chấp
về hợp đồng dân sự có liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng hiện nay. Để
qua đó, tìm ra các giải pháp khắc phục và hạn chế vấn đề này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình làm luận văn,
để hoàn thành luận văn với hình thức, nội dung phù hợp với đề tài nghiên cứu thì việc sử
dụng đúng phương pháp nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng.
Đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở khoa học pháp lý và những nội dung lý

Chƣơng 2: Căn cứ xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự
Đây là chương phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng, phân tích các căn cứ để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng. Nếu căn cứ vào luật định thì hợp đồng sẽ có hiệu lực vào những thời điểm nào?
Còn nếu căn cứ vào sự thỏa thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định
ra sao? Trong trường hợp phổ biến là hợp đồng có điều kiện thì hợp đồng sẽ có hiệu lực
vào thời điểm nào? Tất cả những vấn đề này sẽ được người viết trình bày trong chương 2.
Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng và hƣớng hoàn thiện về thời điểm có hiệu lực của
hợp đồng dân sự
Từ những quy định của pháp luật hiện hành, người viết đưa ra một số ví dụ còn bất
cập về việc áp dụng quy định của pháp luật để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng. Qua đó, phân tích những thuận lợi và bất cập của việc quy định thời điểm có hiệu
lựa của hợp đồng. Cũng như đưa ra các phương hướng nhằm hoàn thiện quy định của
pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong giai đoạn hiện nay.

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 3

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam

CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA
HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
Trong chương này, nội dung chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận khái
quát nhất, cũng như đưa ra các khái niệm có liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng. Nghiên cứu sơ lược về lịch sử hình thành các quy định của pháp luật về thời điểm


Các Mác, Tư Bản, Quyển 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, năm 1973, tr.163
Điều 1, Pháp lệnh hợp đồng dân sự , năm 1991

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 4

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà
không được bên kia chấp nhận thì việc chuyển giao tài sản hoặc làm hay không làm một
việc nào đó sẽ không được thực hiện. Khi các bên phải chuyển giao tài sản hoặc làm hay
không làm một việc nào đó thì giữa họ phải có sự thống nhất ý chí vì sự thống nhất ý chí
của các chủ thể khi tham giao vào các giao dịch dân sự cũng được xem như là sự tự
nguyện của các chủ thể. Tuy nhiên, ý chí của các chủ thể cũng cần phải phù hợp với ý chí
chung của nhà nước và pháp luật.
Tóm lại, theo quy định của pháp luật hiện hành thì khái niệm hợp đồng dân sự
không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho
bên kia, hoặc không được làm một việc nào đó mà có thể còn là sự thoả thuận để thay đổi
hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.
1.1.2. Khái niệm hiệu lực của hợp đồng
Hiệu lực của hợp đồng đối với sự tồn tại của hợp đồng có thể được ví giống như là
“hơi thở” đối với sự sống của con người. Nếu một hợp đồng không có hiệu lực cũng
đồng nghĩa là giữa các bên không tồn tại quan hệ hợp đồng.
Nhưng việc đưa ra một định nghĩa chính xác về hiệu lực của hợp đồng là như thế
nào là một điều không hề dễ dàng. Trong từ điển giải thích thuật ngữ Luật học có giải
thích khái niệm hiệu lực của hợp đồng dân sự như sau: “Hiệu lực của hợp đồng là giá trị

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
quy định khác”. Có thể nói, quy định này chưa thể hiện được bản chất của khái niệm hiệu
lực của hợp đồng là giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên, mà chủ yếu nó chỉ xác định
thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Tuy nhiên, tại Điều 4 Bộ Luật Dân Sự 2005
có quy định chung về hiệu lực của các cam kết dân sự như sau: “cam kết, thoả thuận hợp
pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân,
chủ thể khác tôn trọng”. Vậy ta thấy ở Điều 4 Bộ Luật Dân Sự 2005 này luật có vẻ như
có tính ràng buộc hơn so với quy định ở Điều 405, nghĩa là khi các cam kết, thỏa thuận
có hiệu lực thì buộc các bên, các cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác phải tôn trọng các thỏa
thuận, cam kết này.
Tóm lại, qua tìm hiểu các quy định của pháp luật và từ điển về khái niệm hiệu lực
của hợp đồng, ta thấy có hai dấu hiệu thể hiện bản chất của nó đó là:
- Một khi hợp đồng có hiệu luật thì nó có giá trị pháp lý như pháp luật.
- Khi nó có hiệu lực thì nó ràng buộc và mang tính cưỡng chế nhằm buộc các bên
phải tôn trọng và thực thi đầy đủ các cam kết các thỏa thuận trong hợp đồng.
Trên cơ sở nhận thức bản chất hiệu lực của hợp đồng, ta có thể hình dung hiệu lực
của hợp đồng là giá trị pháp lý của hợp đồng làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các
bên khi tham gia vào hợp đồng. Và giá trị pháp lý của hợp đồng khi nó có hiệu lực sẽ
ràng buộc các bên tham gia hợp đồng phải tôn trọng, phải thi hành nghiêm túc các quyền
và nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng.
1.1.3. Khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
Trong từ điển tiếng Việt thì thời điểm là khoảng thời gian rất ngắn, được coi là một
điểm trên đường thẳng cụ thể hóa thời gian. Còn hiệu lực thì hiệu là có công dụng, lực là
sức, vậy thời điểm có hiệu lực là thời gian có công dụng áp dụng của một cái gì đó. Thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng xét về mặt thời gian là thời hạn mà hợp đồng có hiệu lực.
Trong Bộ Luật Dân Sự 2005 thì không có một quy định nào nêu lên khái niệm về thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng mà chỉ có quy định nêu lên thời điểm mà hợp đồng có
hiệu lực như ở Điều 405 Bộ Luật Dân Sự như đã tìm hiểu ở phần trên. Có ý kiến cho
rằng: “thường thì khi nói tới hiệu lực của hợp đồng, chủ yếu người ta thường nói tới thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng.” 5 Nghĩa là khi nhắc tới hiệu lực của hợp đồng thì người

hợp đồng
1.2.1. Trong thời kì phong kiến
1.2.1.1. Bộ luật Quốc Triều Hình Luật thời nhà Lê
Là một bộ luật nổi tiếng của Việt Nam thời kì phong kiến, Quốc Triều Hình Luật
hay còn được gọi Luật Hồng Đức ra đời vào thời Hậu Lê, thời kỳ đất nước ta đạt đến
đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền. Do nhu cầu phát triển của chế độ Trung ương
tập quyền, các hoạt động lập pháp của nhà Lê được đẩy mạnh nhằm xác lập sự thống trị
của nhà Lê. Bộ Luật Hồng Đức đã trãi qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, bắt
đầu từ thời Lê Thái Tổ đến thời Lê Thánh Tông mới hoàn thành. Chính vì thế nó có một
vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của Luật Việt Nam giai
đoạn phong kiến. Có ý kiến cho rằng “Nói đến Luật Hồng Đức, người ta nghĩ ngay đến
một bộ luật có kĩ thuật lập pháp cao, nội dung phong phú, toàn diện với nhiều giá trị nổi
bật. Quốc triều hình luật là sự kế thừa và sáng tạo độc đáo các thành tựu luật pháp trước
đó để đạt đến đỉnh cao nhất của thành tựu luật pháp phong kiến Việt Nam.” 6 Ngoài ra,
Luật Hồng Đức còn mang nhiều tư tưởng dân tộc, nhân đạo tiến bộ với các quy phạm bảo
vệ quyền lợi của người dân, của tầng lớp dưới chống lại sự ức hiếp, sách nhiễu của cường
hào, quan lại… Trong Luật Hồng Đức thì không có khái niệm thời điểm có hiệu lực của
hợp đồng, tuy nhiên nó vẫn có các khái niệm như: mua, bán, cho, cầm …
Ví dụ: không được bán ruộng đất công (điều 342), cấm ức hiếp để mua ruộng đất
của người khác (điều 355). Người đã cầm ruộng đất cho người khác chưa đem tiền chuộc
trả cho chủ cầm mà lại đem bán đứt ruộng đất cho người khác thì phải chịu phạt 50 roi và
chịu biếm một tư (điều 383)…
6

Lê Thị Khánh Ly, Tạp chí nghiên cứu văn hóa: Quốc Triều Hình Luật đỉnh cao của thành tựu luật pháp Việt Nam
thời phong kiến, http://huc.edu.vn/vi/spct/id75/QUOC-TRIEU-HINH-LUAT-DINH-CAO-CUA-THANH-TUULUAT-PHAP-VIIET-NAM-THOI-PHONG-KIEN/ , [truy cập ngày 20/8/2014]

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 7

điểm có hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ của các bên cũng phát sinh. Bên cạnh đó, luật
cũng quy định các chế tài trong trường hợp có vi phạm như trường hợp ở điều 579 quy
định "Những người nhận giữ của ai gửi súc vật của cải mà đem dùng hay tiêu đi thì xử
phạt 80 trượng và đền tiền theo tổn thất, nói dối là chết hay mất thì phải biếm một tư và
đền tiền gấp đôi, nếu mà đánh mất thì bị xử phạt 40 trượng và đền tiền theo giá trị súc
vật bị mất".
1.2.1.2. Bộ Luật Hoàng Việt Luật Lệ thời nhà Nguyễn
Năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia
Long. Vua Gia Long sau khi lên ngôi để có cơ sở về luật pháp đã cho soạn thảo bộ luật
mới có tên gọi là Hoàng Việt luật lệ (còn được gọi là luật Gia Long), do Tổng trấn Bắc
Thành, Nguyễn Văn Thành chủ biên bao gồm 22 quyển và 398 điều, Bộ Luật Hoàng Việt
GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 8

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
Luật Lệ được vua Gia Long cho ban hành chính thức vào năm 1815. Bộ luật Gia Long
không có quy định riêng về hợp đồng dân sự mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều
quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau, Hoàng Việt Luật Lệ cũng giống như Quốc
Triều Hình Luật đều không có sử dụng các khái niệm hợp đồng, thời điểm có hiệu lực
của hợp đồng…Tuy nhiên, nó cũng có các khái niệm như: mua, bán, thuê…
Về hình thức thì Hoàng Việt Luật Lệ không có các quy định về hình thức như ở
Quốc Triều Hình Luật đối với các tài sản có giá trị lớn, tương đối lớn. Vì thế căn cứ để
xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng đối với các tài sản như bất động sản, các tài
sản có giá trị lớn… ở thời kì này thì không cần phải dựa vào khế ước như ở Quốc Triều
Hình Luật. Điều này cũng là một trong những hạn chế của Luật Gia Long so với Luật
Hồng Đức, vì nếu có tranh chấp phát sinh thì sẽ khó khăn trong cách giải quyết hơn là có



Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
phải lập thành văn bản, như việc mua bán, tặng giữ tài sản là bất động sản thì phải lập
thành văn bản và phải có chứng nhận của viên chức thị thực trước khi giao kết khế ước.
Ngoài ra, đối với những nơi có sổ bảo tồn điền trạch thì việc mua bán, tặng dữ, cho
thuê… còn phải được đăng ký và thông báo cho người ngoài. Khế ước là bằng chứng nếu
có tranh chấp phát sinh, các bằng chứng khác không có giá trị. Cụ thể một khế ước được
hình thành khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Phải có sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên về hình thức, nội dung khế ước
và mọi điểm mà các bên đưa ra thỏa thuận, hay nói cách khác phải có hai bên hay người
thay mặt của hai bên đồng ý.
- Phải xác định rõ đối tượng của khế ước. Đối tượng này thuộc quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng hợp pháp của các bên.
- Phải có một việc đích thực và chính đáng.
Sau khi khế ước được hình thành, phải có đủ hai điều kiện dưới đây, khế ước mới
được coi là hợp pháp;
- Các bên giao kết khế ước hoàn toàn tự nguyện, không có sự hiểu lầm hoặc cưỡng
bách làm cho trái với lòng tự thuận của các bên;
- Người lập ước phải có đủ tư cách mà pháp luật đã quy định hoặc có người đại diện
hợp pháp. Ví dụ: phải là người thành niên, nếu là người chưa thành niên thì phải có người
đại diện theo pháp luật là cha mẹ ...
Khi khế ước hợp pháp thì quyền lợi của các bên sẽ được pháp luật bảo vệ, các bên
sẽ bị ràng buộc đối với khế ước này và phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình.
Lúc hợp đồng có hiệu lực, chính là lúc phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, thời
điểm phát sinh hiệu lực của hợp đổng đối với các hợp đồng liên quan đến bất động sản
như mua bán, tặng giữ...là lúc việc lập kế ước được hoàn thành và hợp pháp. Tuy nhiên,
đối với các hợp đồng về động sản các bên vẫn có thể lập thành văn bản vì cơ bản các bên
được phép làm những việc luật không cấm. Như vậy, ở thời kỳ Pháp thuộc các quy định
về hợp đồng đã dần được hoàn chỉnh và có sự tiến bộ rõ rệt hơn so với thời phong kiến

xã hội và tiếp tục đấu tranh để thống nhất nước nhà. Trong giai đoạn mới của cách mạng,
Nhà nước ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm
vụ mới. Ngày 31/12/1959 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới Hiếp Pháp năm 1959.
Bản Hiếp pháp 1959 có 112 điều chia thành 10 chương, so với hiếp pháp năm 1946 thì nó
có chú trọng hơn về chế độ kinh tế và xã hội. Cụ thể nó quy định việc Nhà nước bảo hộ
quyền sở hữu về ruộng đất và tư liệu sản xuất khác của nông dân (Điều 14). Bảo hộ
quyền tư hữu về tư liệu sản xuất của người làm nghề thủ công và những người lao động
riêng lẻ khác (Điều 15), bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà
tư sản dân tộc (Điều 16), bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác (Điều 18)…
Như vậy, trong những năm 1954 đến năm 1975 do đất nước còn nhiều khó khăn,
bị chia cắt… Nên việc thống nhất đất nước luôn được đặt lên hàng đầu và chính vì thế
Nhà nước luôn quan tâm đến lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước (thuộc lĩnh vực luật hiến
pháp), nghĩa vụ quân sự (để huy động thanh niên nhập ngũ tham gia chống Mỹ cứu nước)
và pháp luật hình sự (như là công cụ không thể thiếu để bảo vệ chế độ).
Các lĩnh vực khác của đời sống xã hội ít được quan tâm điều chỉnh hoặc được
điều chỉnh chủ yếu bởi các văn bản dưới luật như nghị định, quyết định, nghị quyết, chỉ
thị... do tình hình đất nước còn nhiều khó khăn mà vì thế mà các quan hệ hợp đồng trong
thời kỳ này cũng ít được quan tâm hơn. Các khái niệm hợp đồng, thời điểm có hiệu lực
của hợp đồng tuy cũng được nhà nước quan tâm ở chương 2 chế độ kinh tế xã hội, nhưng
chưa đi sâu nghiên cứu mà chủ yếu là hướng đến mục tiêu to lớn trước mắt là thống nhất
đất nước.
1.2.3.3.Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1980
GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 11

SVTH Nguyễn Thị Kiều My



về hợp đồng: “Hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa
các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hành hóa, dịch vụ, nghiên
cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh
doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện
kế hoạch của mình.” 7

7

Điều 1, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989.

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 12

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
Ngoài ra, với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 lần đầu tiên trong một văn bản luật
của nước ta, tuy không có quy định cụ thể khái niệm về thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng nhưng có nói đến thời điểm có hiệu lực: “Hợp đồng kinh tế được coi là đã hình
thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn bản hoặc từ khi các bên
nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận về tất cả những điều khoản chủ yếu
của hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với từng loại hợp đồng kinh
tế.” 8
Những năm 90 của thế kỉ trước, trong điều kiện đất nước ta đang phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, để đảm bảo an toàn pháp lý cho các quan hệ hợp đồng
dân sự và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như đề cao trách nhiệm của các bên
khi tham gia hợp đồng. Sau khi ban hành Pháp lệnh kinh tế 1989, Nhà nước ta tiếp tục
ban hành Pháp lệnh về hợp đồng dân sự có hiệu lực vào ngày 1/7/1991. Tiếp theo sau


Trang 13

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
1.2.3.5. Thời kì sau khi ban hành hiếp pháp 1992 đến nay
Ngày 28/10/1995 Bộ Luật Dân Sự đầu tiên của nước ta được Quốc Hội thông qua,
đến ngày 1/6/1996 Bộ Luật Dân sự năm 1995 chính thức có hiệu lực. Kể từ ngày Bộ Luật
Dân sự 1995 ra đời và có hiệu lực thì các văn bản liên quan đến hợp đồng trước đó chính
thức hết hiệu lực. Mọi quan hệ liên quan đến hợp đồng dân sự được điều chỉnh bởi bộ
luật này. Sự ra đời của bộ luât dân sự năm 1995 là một bước cụ thể những quy định về
chế độ kinh tế xã hội của Hiếp pháp 1992 về các quyền nghĩa vụ của các bên trong giao
kết hợp đồng dân sự.
Qua 10 năm thi hành bộ luật dân sự năm 1995 đã có nhiều đóng góp quan trọng
trong việc điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống dân sự, nó tạo hành lang pháp lý cho việc
giao kết và thực hiện các hợp đồng dân sự, bảo vệ quyền lợi ích của các chủ thể khi tham
gia giao kết. Nó cũng nêu các khái niệm về hợp đồng, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
như: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” 10 Ngoài ra, nó cũng có nêu lên các điều kiện để hợp
đồng có hiệu lực, nếu hợp đồng thỏa tất cả các điều kiện về đối tượng, chủ thể, hình thức,
nội dung… thì mới có hiệu lực và từ thời điểm hợp đồng thỏa các điều kiện trên thì lúc
đó cũng chính là thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng.
Tuy nhiên, tại giai đoạn này thì ngoài Bộ luật dân sự năm 1995 điều chỉnh các hợp
đồng về dân sự, còn có Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, điều chỉnh các hợp đồng
về kinh tế… Điều này đã dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng pháp luật do sự chồng
chéo từ các quy định của pháp luật cũng như gây khó khăn cho việc giải quyết các tranh
chấp phát sinh. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã có nhiều hạn chế, bất cập như: một
số quy định không phù hợp với sự chuyển đổi nhanh của nền kinh tế thị trường. Nhiều Bộ

1.3. Ý nghĩa của việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
1.3.1. Phân loại hợp đồng
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là cơ sở quan trọng để phân loại
hợp đồng. Dựa vào hiệu lực của hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, thời
điểm hợp đồng bắt đầu phát sinh hiệu lực thì hợp đồng được phân thành hai loại đó là
hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tại.
Hợp đồng ưng thuận là hợp đồng được giao kết chỉ do sự gặp gỡ của ý chí của các
bên mà không cần xúc tiến bất kỳ thủ tục nào, bởi vì hợp đồng được giao kết do sự gặp
gỡ ý chí của các bên nên thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên là thời điểm
sau khi các bên thỏa thuận xong nội dung chủ yếu của hợp đồng. Nghĩa là, trong trường
hợp này thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng sẽ là thời điểm các bên thỏa thuận
xong các nội dung chủ yếu của hợp đồng.
Ví dụ: A và B giao kết hợp đồng mua bán 1 tấn cam thì khi A và B thỏa thuận xong
nội dung của hợp đồng như: giá cả, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm giao
hàng… thì lúc này xem như hợp đồng đã được giao kết mặc dù hàng vẫn chưa được giao.
Hợp đồng thực tại là hợp đồng không chỉ từ sự gặp gỡ ý chí của các bên mà còn từ
việc giao vật, đối tượng của hợp đồng... Thời điểm phát sinh hiệu lực của loại hợp đồng
này là thời điểm chuyển giao đối tượng của hợp đồng giữa các bên trong hợp đồng với
nhau. Nghĩa là thời điểm có hiệu lực của dạng hợp đồng thực tại này là thời điểm chuyển
giao vật, từ lúc vật được chuyển giao thì hợp đồng mới phát sinh hiệu lực.
Ví dụ: Hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng cầm cố tài
sản…các loại hợp đồng này đều là hợp đồng thực tại vì kể từ khi vật được chuyển giao
như cầm cố thì tài sản cầm cố phải được giao cho bên nhận cầm cố, gửi giữ tài sản thì tài
sản gửi phải được giao cho bên nhận gửi, cho mượn tài sản thì tài sản phải được giao cho
bên mượn… kể từ lúc vật được giao thì hợp đồng lúc này mới phát sinh hiệu lực.
1.3.2. Xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
Việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa quan trọng là ngoài
việc phân loại hợp đồng như trên thì việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
còn có ý nghĩa là xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

thành một vài thủ tục khác do luật quy định thì mới có hiệu lực.
Ngoài việc giao kết hợp đồng các bên cần phải lập hợp đồng dưới một hình thức
nhất định (lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký hay xin phép…)
Hợp đồng trọng thức cũng chia ra nhiều trường hợp, một số hợp đồng trọng thức
luật chỉ buộc phải lập thành văn bản không cần công chứng, chứng thực vẫn phát sinh
hiệu lực.
Ví dụ: Hợp đồng bảo hiểm (Điều 570), hợp đồng thế chấp tài sản(Điều 343)…
Còn một số loại hợp đồng trọng thức khác thì luật buộc các bên ngoài việc lập thành
văn bản còn phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký hay xin phép thì mới phát
sinh hiệu lực.

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 16

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
Ví dụ: Luật quy định: “Việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền
sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, tàu bay, tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký
thế chấp” 11
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng buộc phải đăng ký, xin phép, công chứng,
chứng thực là thời điểm hợp đồng được công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép
(nếu như các bên không có thỏa thuận khác). Việc xác định đúng thời điểm có hiệu lực
của dạng hợp đồng này không chỉ là căn cứ ràng buộc nghĩa vụ đối với các bên mà còn
có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người thứ ba. Tại khoản
1 Điều 11, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm của Chính
phủ có quy định: “Giao dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời
điểm đăng ký. Thời điểm đăng ký được xác định theo quy định của pháp luật về đăng ký

Trang 17

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
sinh lãi thì người nhận thừa kế sẽ được hưởng còn nếu hợp đồng đó lỗ thì người nhận
thừa kế sẽ phải dùng chính di sản mà mình được thừa kế để thanh toán nghĩa vụ của
người để lại di sản. Trường hợp này hợp đồng của người để lại di sản thừa kế sẽ ảnh
hưởng đến người thứ ba đó là người nhận thừa kế di sản.
1.3.4. Căn cứ để tòa án xác định thời điểm vi phạm hợp đồng nếu có phát sinh
tranh chấp
Hợp đồng chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ kể từ khi nó có hiệu lực, vì thế
trước khi hợp đồng có hiệu lực nếu có vi phạm phát sinh thì sẽ không được pháp luật bảo
vệ, giải quyết. Như thế, kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực trở về sau mà các bên
không tuân thủ thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng, thì lúc này nếu có tranh chấp
phát sinh thì tòa án đã có thẩm quyền giải quyết. Tùy từng trường hợp mà cơ quan có
thẩm quyền sẽ ra quyết định buộc bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng hoặc bồi
thường thiệt hại trong hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.
Việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong
trường hợp có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng. Nó sẽ góp phần xác định được hợp đồng
có vi phạm từ khi nào, bởi vì nếu như hợp đồng chưa có hiệu lực mà có tranh chấp thì sẽ
không được pháp luật công nhận, giải quyết, chỉ khi nào hợp đồng phát sinh hiệu lực thì
nó mới là căn cứ hợp pháp để pháp luật giải quyết (nếu các bên hoặc một trong các bên
có đơn yêu cầu tòa án giải quyết).
Như thế, pháp luật chỉ có thể giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng nếu
như nó đã thỏa đầy đủ các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực và thời điểm để Tòa án có
căn cứ giải quyết tranh chấp là sau khi hợp đồng phát sinh hiệu lực. Nghĩa là kể từ thời
điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực thì Tòa án mới có căn cứ giải quyết các tranh chấp của
hợp đồng nếu như có tranh chấp phát sinh. Vì thế, ta nói thời điểm có hiệu lực của hợp

thường thì hành vi pháp lý đơn phương do một chủ thể xác lập (ví dụ: Việc lập di chúc)
nhưng cũng có thể do nhiều chủ thể xác lập (ví dụ: Hai chủ thể cùng nhau tổ chức một
cuộc thi có giải thưởng). Nhưng cho dù là hợp đồng hay hành vi pháp lí đơn phương thì
cũng đều phải nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lí nhất định, đó chính là việc làm phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.
Tuy nhiên, việc giao kết hợp đồng như thế nào thì hợp đồng mới có hiệu lực việc
này ta còn phải căn cứ vào quy định tại Điều 389 Bộ Luật Dân Sự 2005: “Việc giao kết
hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc, tự do giao kết hợp đồng nhưng không
được trái pháp luật, đạo đức xã hội.” Nghĩa là, các bên chủ thể giao kết hợp đồng được
quyết định mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng mà không có bất kỳ cá nhân, tổ chức nào
kể cả Nhà nước được can thiệp làm thay đổi ý chí của các chủ thể. Nhưng sự tự do giao
kết này cũng cần phải phù hợp với ý chí của Nhà nước của pháp luật và xã hội. Tức là sự
thỏa thuận của các bên trong hợp đồng không được trái với quy định của pháp luật và
những chuẩn mực đạo đức xã hội.
Quyền “tự do giao kết hợp đồng” được thể hiện ở các mặt sau:
12

Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập I, Nxb Chính Trị Quốc Gia, năm 2008, tr
281.

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 19

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam
“1. Quyền tự chủ trong việc ký kết hợp đồng;
2. Tự do lựa chọn đối tác ký kết hợp đồng;


13

Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập II, Nxb Chính Trị Quốc Gia, năm 2008, tr
200.

GVHD Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 20

SVTH Nguyễn Thị Kiều My


Trích đoạn Cần quy định theo trình tự từ nguyên tắt chung đến từng trường hợp cụ thể Sửa đổi bổ sung quy dịnh tại điều 405 Bộ Luật Dân Sự 2005 về thời điểm có hiệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status