VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGHIÊM HÔNG VÂN
ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ
“VUI MỪNG” VÀ “TỨC GIẬN”
TRONG TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGHIÊM HÔNG VÂN
ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ
“VUI MỪNG” VÀ “TỨC GIẬN”
TRONG TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu
Mã số
: 9222024
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
3.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu khảo sát...............................................3
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................................3
3.2. Ngữ liệu khảo sát.......................................................................................................3
4.
Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu........................................................5
4.1. Phƣơng pháp phân tích, miêu tả................................................................................5
4.2. Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu................................................................................6
4.3. Thủ pháp thống kê, phân loại....................................................................................6
5.
Đóng góp mới của luận án.........................................................................................7
6.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án................................................................7
6.1. Về mặt lí luận............................................................................................................7
6.2. Về mặt thực tiễn.........................................................................................................8
7.
Cấu trúc luận án.........................................................................................................8
NỘI DUNG
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT...........10
1.1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu..............................................................................11
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm....................................................................11
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc........................................19
1.2. Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài.........................................................................28
1.2.1. Một số khái niệm liên quan.....................................................................................30
1.2.2. Những vấn đề về ẩn dụ ý niệm................................................................................40
1.2.3. Khái quát về phạm trù tình cảm, cảm xúc...............................................................49
Tiểu kết...............................................................................................................................59
Chƣơng 2. ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM BIỂU ĐẠT CẢM XÚC “VUI MỪNG”
TRONG TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT.......................................................................61
2.1. Miền nguồn thông dụng trong các biểu thức ẩn dụ biểu đạt cảm xúc “vui mừng”
2.2.2.
2.2.3.
2.2.4.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
2.4.
2.4.1.
2.4.2.
Chƣơng 3. ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM BIỂU ĐẠT CẢM XÚC “TỨC GIẬN” TRONG
TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT………..……………………………………….…...…96
3.1. Miền nguồn thông dụng trong các biểu thức ẩn dụ biểu đạt cảm xúc “tức giận” trong
tiếng Nhật và tiếng Việt...........................................................................................96
3.1.1. Miền nguồn “nhiệt”……………………………........................................................98
3.1.2. Miền nguồn “bộ phận cơ thể ngƣời”…….........................................……………100
3.1.3. Miền nguồn “động, thực vật”................................................................................101
3.1.4. Miền nguồn “hiện tƣợng tự nhiên”........................................................................102
3.2. Ẩn dụ cấu trúc biểu đạt cảm xúc “tức giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt.........103
3.2.1. Ẩn dụ “TỨC GIẬN là NHIỆT” ............................................................................103
3.2.2. Ẩn dụ “TỨC GIẬN là MẤT KIỂM SOÁT” ........................................................116
3.3. Ẩn dụ bản thể biểu đạt cảm xúc “tức giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt..........118
3.3.1. Ẩn dụ “BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI là VẬT CHỨA CẢM XÚC TỨC GIẬN” ......119
3.3.2. Ẩn dụ “TỨC GIẬN là CON THÚ BỊ NHỐT (BỊ THƢƠNG)” và ẩn dụ “TỨC
GIẬN là ĐỘNG (THỰC VẬT) GÂY HẠI ..........................................................127
3.3.3. Ẩn dụ “TỨC GIẬN là SỨC MẠNH THIÊN NHIÊN”………………..…………131
Tiểu kết.............................................................................................................................136
KẾT LUẬN.....................................................................................................................138
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Ngôn ngữ học tri nhận
NNHTN
Ẩn dụ ý niệm
ADYN
Biểu thức ngôn ngữ
BTNN
Biểu thức ẩn dụ
BTAD
Miền nguồn thông dụng
MNTD
Cơ chế ánh xạ
CCAX
Bộ phận cơ thể ngƣời
BPCTN
Nguyễn Nhật Ánh
NNA.3
4
Chuyện cổ tích dành cho ngƣời lớn
Nguyễn Nhật Ánh
NNA.4
5
37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Nguyễn Thị Thu Huệ
NTTH
6
Công ty
Phan Hồn Nhiên
PHN.1
7
下町ロケット
(Shitamachi rocket)
Tên lửa ở trung tâm thành phố
オレたちバブル入行組
(Oretachi baburu nyuugyougumi)
Chúng tôi và bong bóng kinh tế
かばん屋の相続
(Kabanya no souzoku)
Thừa kế cửa hàng túi
オレたち花のバブル組
(Oretachi hana no baburugumi)
Chúng tôi và bong bóng hoa
七つの会議 (Nanatsu no kaigi)
7 cuộc họp
サマーウォーズ (Summer Wars)
Cuộc chiến mùa hè
おおかみこどもの雤と雪
(Ookamikodomo no ame to yuki)
Những đứa con của sói
PHN.3
NHH
Ikeido Jun
IJ. 1
Ikeido Jun
21
時をかける少女
(Toki wo kakeru shoujo)
Cô gái lƣớt qua thời gian
君の名は (Kimi no na wa?)
Tên cậu là gì?
言の葉の庭 (Koto no ha no niwa)
Khu vƣờn ngôn từ
秒速 5 センチメートル
Byousoku 5 centimeters
5cm / s
彼女と彼女の猫
(Kanojo to kanojo no neko)
Ngƣời yêu tôi và con mèo của cô ấy
Hosoda Mamoru
HM. 3
Makoto Shinkai
MS. 1
Makoto Shinkai
MS. 2
Makoto Shinkai
Bảng 3.9
Bảng 3.10
Bảng 3.11
Bảng 3.12
Tên hình vẽ, bảng biểu
Trang
Minh họa về sơ đồ BỘ PHẬN – CHỈNH THỂ
Minh họa về sơ đồ TÂM – BIÊN
Minh họa về sơ đồ GỐC – LỘ TRÌNH – ĐÍCH ĐẾN
So sánh phạm trù “tình cảm” và “cảm xúc”
Bảng phân loại về tình cảm do Ortony và Turner tổng hợp
Miền nguồn thông dụng trong các biểu thức ẩn dụ ý niệm chỉ cảm xúc
“vui mừng”
Biểu thức ẩn dụ ý niệm “vui mừng” có miền nguồn “phƣơng hƣớng”
Sự tƣơng ứng giữa hai miền nguồn - đích trong ẩn dụ ý niệm “VUI
MỪNG là CHẤT LỎNG TRONG BÌNH CHỨA”
Biểu thức ẩn dụ ý niệm “vui mừng” có miền nguồn “bộ phận cơ thể
ngƣời”
Miền nguồn thông dụng trong các biểu thức ẩn dụ ý niệm chỉ cảm xúc
“tức giận”
Sơ đồ tầng bậc của các biểu thức ẩn dụ có miền nguồn nhiệt
Biểu thức ẩn dụ ý niệm chỉ cảm xúc “tức giận” có miền nguồn nhiệt
Sự tƣơng ứng giữa hai miền nguồn – đích trong ẩn dụ ý niệm “TỨC
GIẬN là LỬA”
Tƣơng ứng bản thể giữa miền nguồn và miền đích trong biểu thức
ẩn dụ “TỨC GIẬN là CHẤT LỎNG (KHÍ) NÓNG TRONG VẬT
CHỨA”
123
125
125
130
134
134
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, các ý niệm và phạm trù tình cảm đƣợc đặc
biệt chú ý nghiên cứu trong tâm lý học và ngôn ngữ học tri nhận vì ngƣời ta ngày một
quan tâm hơn đến sự tác động qua lại giữa tình cảm, hành vi, nhận thức và văn hóa
(bao hàm ngôn ngữ nhƣ một trong những yếu tố cấu thành quan trọng nhất). Các nhà
khoa học đã chỉ ra rằng, tình cảm và cảm xúc của con ngƣời không phải hoàn toàn vô
hình nhƣ chúng ta tƣởng. Chúng ta có thể tìm hiểu nội dung cụ thể của các trạng thái
cảm xúc thông qua mô hình văn hóa chung đƣợc biểu hiện qua ngôn ngữ. Khi nói về
một trạng thái cảm xúc nào đó, hoàn toàn có thể liên hệ với mô hình văn hóa – ngôn
ngữ này và dựa vào nó để lí giải về cơ chế biểu đạt của cảm xúc ấy. Chính vì thế, gần
đây trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam rộ lên
hàng loạt các nghiên cứu về phạm trù tình cảm và cảm xúc đƣợc biểu thị, mã hóa ra
sao trong các ngôn ngữ khác nhau từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận, từ đó đối chiếu
và so sánh sự tƣơng đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ với nhau.
Xuất phát từ nhận thức trên và qua quá trình tìm hiểu, tổng hợp kết quả của các
công trình nghiên cứu đi trƣớc, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về
„vui mừng‟ và „tức giận‟ trong tiếng Nhật và tiếng Việt” cho công trình luận án của
mình. Đề tài của chúng tôi sẽ tập trung vào khảo sát và nghiên cứu hai miền cảm xúc
cơ bản là “vui mừng” và “tức giận” đƣợc biểu hiện trong hai ngôn ngữ. Chúng tôi cho
rằng, trong cuộc sống tình cảm hàng ngày, con ngƣời dù thuộc các nhóm dân tộc khác
nhau nhƣng đều có chung những trải nghiệm về hai miền cảm xúc cơ bản này. Trong
- Hệ thống hóa và đƣa ra đƣợc danh sách các biểu thức ẩn dụ biểu đạt cảm xúc
“vui mừng” và “tức giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Xác định các mô hình ẩn dụ cũng nhƣ miền nguồn thông dụng trong biểu thức
ngôn ngữ biểu đạt cảm xúc “vui mừng” và “tức giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
2
- Luận giải về cơ chế ánh xạ từ miền nguồn vào miền đích “vui mừng” và “tức
giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Chỉ ra những tƣơng đồng và khác biệt trong các biểu thức ẩn dụ biểu đạt cảm
xúc “vui mừng” và “tức giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
3.
3.1.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu khảo sát
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận án lựa chọn đối tƣợng đƣa vào phân tích đối chiếu song song là biểu thức
ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm về tâm lý “vui mừng” và “tức giận” trong tiếng Nhật và
tiếng Việt và chủ yếu tiến hành khảo sát miền nguồn thông dụng và cơ chế ánh xạ
miền nguồn vào miền đích “vui mừng” cũng nhƣ “tức giận” trong các biểu thức ngôn
ngữ biểu đạt những cảm xúc loại này ở hai thứ tiếng.
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống ẩn dụ ý niệm về tâm lý “vui mừng” và “tức giận”
trong tiếng Nhật và tiếng Việt, phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn về mặt
đồng đại, nghĩa là luận án chỉ tập trung nghiên cứu hình thái - cấu trúc, ngữ nghĩa, đặc
điểm của các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc “vui mừng” và
“tức giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
3.2.
Ngữ liệu khảo sát
(1955), Nguyễn Thị Thu Huệ (1966), Phan Hồn Nhiên (1972), Nguyễn Hoàng Hải
(1976).
Ngữ liệu tiếng Nhật đƣợc lấy từ truyện ngắn của các nhà văn Ikeido Jun
(1963 ), Hosoda Mamoru (1967), Makoto Shinkai (1973).
Đây đều là các tác giả nổi tiếng viết về lứa tuổi mới lớn và tuổi trẻ với rất nhiều
cung bậc cảm xúc khác nhau nên luận án hy vọng có thể thu đƣợc nhiều nhất các biểu
thức ẩn dụ ở hai miền cảm xúc này. Ngoài ra, các tác giả này cũng có sự tƣơng đƣơng
về tuổi tác, thế hệ và đƣợc đánh giá là ít chịu ảnh hƣởng của văn học nƣớc ngoài nên
4
có thể nói ngữ liệu thu đƣợc đảm bảo là những biểu thức ngôn ngữ có lối viết, phong
cách miêu tả cảm xúc của nhân vật mang đậm dấu ấn văn học Việt Nam và Nhật Bản.
Luận án khảo sát tổng cộng 226 thành ngữ và 945 biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn
dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc “vui mừng” và “tức giận” trong cả tiếng Nhật và tiếng
Việt để nghiên cứu đối chiếu. Các số liệu và ví dụ đƣợc sử dụng để thống kê, phân tích
và miêu tả đƣợc lấy từ hệ thống ngữ liệu là các biểu thức ngôn ngữ rút ra từ các truyện
ngắn mang hơi thở hiện đại của văn hóa, xã hội hai quốc gia. Danh mục các truyện
ngắn đƣợc sử dụng làm ngữ liệu khảo sát đƣợc trình bày trong phần cuối của tài liệu
tham khảo. Hệ thống biểu thức ngôn ngữ có chứa ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc “vui
mừng” và “tức giận” đƣợc trình bày trong các phụ lục từ 1 đến 4.
4.
Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1.
Phƣơng pháp phân tích, miêu tả
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ đạo, xuyên suốt luận án là phƣơng pháp miêu tả
khác biệt trong quá trình ý niệm hóa cảm xúc “vui mừng” và “tức giận” của ngƣời
Việt và ngƣời Nhật. Với phƣơng pháp này, sự tƣơng đồng hay khác biệt của các biểu
thức ẩn dụ biểu đạt cảm xúc “vui mừng” và “tức giận” trong tiếng Việt và tiếng Nhật
đƣợc nhìn nhận một cách đa chiều và bộc lộ rõ nét.
4.3.
Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này đƣợc sử dụng nhằm khảo sát, thống kê ngữ liệu làm cơ sở thực
tiễn để áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận. Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng
thủ pháp này để thống kê, phân loại và hệ thống hóa ý niệm, miền, các ẩn dụ ý niệm
chỉ cảm xúc “vui mừng”, “tức giận” trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Dựa trên kết quả
đó, luận án có thể rút ra một số nhận xét căn bản về cơ sở tri nhận trong các biểu thức
ẩn dụ biểu đạt cảm xúc “vui mừng” và “tức giận” thông qua các ánh xạ ẩn dụ ý niệm.
Ngoài phƣơng pháp miêu tả, phƣơng pháp đối chiếu và thủ pháp thống kê,
chúng tôi còn áp dụng các phƣơng pháp nghiên cứu ngôn ngữ học khác nhƣ phƣơng
pháp phân tích ngữ cảnh... để giải quyết các vấn đề cụ thể của luận án.
6
5.
Đóng góp mới của luận án
Thực tế, việc nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận nói chung đã có bề dày lịch
sử và việc ứng dụng những thành tựu của lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận vào việc
nghiên cứu đối chiếu xem các phạm trù cảm xúc đƣợc biểu thị, “mã hóa” ra sao trong
các ngôn ngữ không còn là hƣớng đi mới ở Việt Nam.
Tuy nhiên, điểm mới của luận án ở đây là: luận án là công trình đầu tiên ở Việt
Nam cũng nhƣ Nhật Bản nghiên cứu về biểu thức ngôn ngữ biểu đạt cảm xúc trong
Về mặt thực tiễn
Kết quả của luận án có tính ứng dụng cao. Trƣớc hết, luận án sẽ cung cấp cho
ngƣời đọc những hiểu biết thiết thực về một số điểm tƣơng đồng và khác biệt trong
ngôn ngữ và văn hóa giữa ngƣời Nhật và ngƣời Việt thông qua việc tri nhận về mối
liên quan giữa văn hóa, hiện tƣợng tự nhiên, xã hội... với hai cảm xúc cơ bản của con
ngƣời là “vui mừng” và “tức giận”; góp phần giới thiệu, giữ gìn và phát triển bản sắc
dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu không những còn
có thể áp dụng vào việc giảng dạy tiếng Nhật và tiếng Việt nhƣ là một ngoại ngữ, làm
giàu nguồn ngữ liệu cho công tác biên soạn giáo trình giảng dạy tiếng Nhật và tiếng
Việt mà còn có thể phục vụ cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ - văn hoá, dịch thuật,
giao tiếp và bảo tồn văn hóa dân tộc.
7.
Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án
đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng với các nội dung chính nhƣ sau:
Chƣơng 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Ở chƣơng này, ngoài phần tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc và
trong nƣớc liên quan đến đề tài, luận án tập trung trình bày và thảo luận một số vấn đề
có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu, thảo luận các khái niệm then chốt, đồng
thời đƣa ra quan điểm lựa chọn làm cơ sở cho luận án nhƣ vấn đề ý niệm và ý niệm
hóa, khái niệm ẩn dụ ý niệm, đặc điểm và phân loại ẩn dụ ý niệm, ánh xạ, cơ chế ánh
xạ và sơ đồ ánh xạ... Ngoài ra, cũng ở chƣơng này, luận án còn trình bày một số quan
niệm về tình cảm và cảm xúc, sự giống và khác nhau giữa hai phạm trù này theo quan
điểm của các nhà tâm lí học và ngôn ngữ học, từ đó đề cập đến các quan niệm và định
nghĩa về hai phạm trù cảm xúc cơ bản là “vui mừng” và “tức giận”, đối tƣợng nghiên
cứu chính của luận án.
Cuối thế kỉ XX, đầu thế kỷ XXI đã xuất hiện một khuynh hƣớng nghiên cứu
ngôn ngữ mới thu hút sự tham gia đông đảo của giới ngôn ngữ học, đó là chuyển từ
khảo sát ngữ liệu của những miền có thể quan sát trực tiếp sang nghiên cứu những
miền trừu tƣợng hơn, với những vấn đề không quan sát đƣợc của con ngƣời nhƣ cảm
xúc, trí tuệ, văn hóa, tri thức, niềm tin, tín ngƣỡng... và mối liên hệ giữa hai miền này.
Xu thể nghiên cứu ngôn ngữ này đƣợc đặt tên là Ngôn ngữ học tri nhận. Trong ngôn
ngữ học tri nhận, ẩn dụ không còn đƣợc coi nhƣ là một sản phẩm đơn thuần của ngôn
ngữ, mà đƣợc coi là một hiện tƣợng của tri nhận, là một phƣơng thức tƣ duy và hành
động của con ngƣời đƣợc thể hiện qua ngôn ngữ. Cùng với hoán dụ, ẩn dụ đóng vai trò
hết sức quan trọng trong quá trình tri nhận của con ngƣời, đồng thời cũng ảnh hƣởng
đến tƣ duy và hành động của con ngƣời. Lakoff từng chỉ ra ẩn dụ “nằm ở vị trí hạt
nhân của giao tiếp và tri nhận”, ẩn dụ là quá trình tri nhận của con ngƣời mƣợn sự trải
nghiệm về một lĩnh vực nào đó của thế giới khách quan để thuyết giải hoặc lý giải một
lĩnh vực khác, lĩnh vực của các khái niệm trừu tƣợng nhƣ những ý niệm cảm xúc, lĩnh
vực tinh thần...
Từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên
cứu mảng đề tài này dƣới nhiều góc độ khác nhau. Sau đây, chúng tôi sẽ điểm lại và
phác họa bức tranh tổng quát về tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm nói chung và ẩn dụ
biểu đạt cảm xúc nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam, từ đó xác định cơ sở lí luận có
tính đƣờng hƣớng cho đề tài.
10
1.1.
Tổng quan về đề tài nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ là một hiện tƣợng phổ biến trong ngôn ngữ, luôn thu hút sự quan tâm của
ông khẳng định không có sự tƣơng tự giữa nhà nƣớc chuyên quyền và một cối xay
nhƣng có sự giống nhau giữa quy luật phản ánh trong cả hai trƣờng hợp và thiệt hại
mà cả hai đem lại, phản ánh qua ẩn dụ khái niệm tạo nên những điểm giống nhau nhờ
những quan hệ tƣơng cận giữa các yếu tố và những liên kết chức năng của hai sự vật.
Có thể thấy, mặc dù không rõ ràng nhƣng quá trình “cảm xúc hóa hình tƣợng” của
Kant dựa vào sự tƣơng tự đã xác lập đƣợc những nguyên lý quan trọng nhất của thuyết
ẩn dụ sau này.
Blumenberg [122] đề cập đến “ẩn dụ nền” (background metaphor), là “sự sử
dụng ẩn dụ có hàm ý”. Những ẩn dụ nền này hầu nhƣ tƣơng đƣơng với những ẩn dụ ý
niệm. Nhiều ẩn dụ mà Blumenberg đƣa ra làm chúng ta liên hệ tới các ẩn dụ ý niệm
đƣợc ngôn ngữ học tri nhận phân tích nhƣ : “SỰ THẬT là ÁNH SÁNG”, “THẾ GIỚI
là MỘT SINH VẬT / CÁI ĐỒNG HỒ / CON TÀU / RẠP HÁT hay là CUỐN SÁCH”,
“LỊCH SỬ là MỘT CÂU CHUYỆN”, “CUỘC ĐỜI là MỘT CHUYẾN ĐI BIỂN”.
Những thí dụ này của Blumenberg phần nào xác định phƣơng hƣớng của việc chuyển
đổi ẩn dụ từ phạm trù này (miền nguồn) sang phạm trù khác (miền đích). Dù những ví
dụ này của ông đƣợc dẫn chủ yếu từ các tác phẩm cổ điển về triết học, văn học, khoa
học nhƣng chúng ta phải thừa nhận ông đã có những đóng góp tiên phong về thuyết ẩn
dụ ý niệm, về mối quan hệ giữa ẩn dụ ngôn ngữ và mô hình văn hóa cũng nhƣ sự phân
tích về chức năng của ẩn dụ.
Nhà ngôn ngữ học Đức Harald Weinrich trình bày thuyết ẩn dụ của mình trong
một số bài viết xuất bản từ năm 1958 đến 1976. Weinrich [123] trình bày hiểu biết về
ẩn dụ theo ý niệm, phân tích ẩn dụ ngôn ngữ không phải biệt lập mà theo trƣờng hình
ảnh tƣơng tự nhƣ ẩn dụ ý niệm ngày nay. Để giải thích cho những thí dụ ngôn ngữ,
ông nêu ra trƣờng hình ảnh TỪ - TIỀN (WORD - CURRENCY), mà sau này theo
12
Lakoff và Johnson (1980) chúng ta có “TỪ là ĐỒNG XU (WORD are COINS)” hay
“NGÔN NGỮ là TIỀN BẠC (LANGUAGE as FINANCE)”. Nhìn chung, mỗi trƣờng
hình ảnh của Weinrich có thể diễn dịch thành ẩn dụ ý niệm theo mẫu “A là / nhƣ B”
định theo ẩn dụ.
Thứ hai, hai ông nhấn mạnh các diễn đạt ẩn dụ không xuất hiện một cách ngẫu
nhiên, rời rạc mà theo những nhóm lớn hơn, gọi là ẩn dụ ý niệm; đặc trƣng bởi phép
chiếu giữa hai miền – từ miền nguồn sang miền đích và đƣợc khái quát bằng công
thức “ĐÍCH là NGUỒN”. Ẩn dụ ý niệm là cơ chế giúp chúng ta hiểu và diễn đạt một
ý niệm trừu tƣợng thông qua một ý niệm khác cụ thể hơn dựa trên cơ sở những trải
nghiệm về thế giới khách quan. Nói cách khác, chức năng chủ yếu của ẩn dụ là cung
cấp một phần hiểu biết về một loạt trải nghiệm dƣới dạng một loạt trải nghiệm khác.
Ví dụ: “tức giận” là một phạm trù cảm xúc trừu tƣợng, do vậy con ngƣời khó có thể
định nghĩa một cách chính xác và hoàn hảo về sự “tức giận”. Cũng chính vì thế, cảm
xúc “tức giận” thƣờng đƣợc ẩn dụ hóa thông qua các biểu đạt của các phạm trù cụ thể
hơn nhƣ : ngọn lửa, chất lỏng nóng, thú dữ, sấm chớp, mưa bão, núi lửa...
Trong những năm sau đó, lí thuyết của phép ẩn dụ đã phát triển và đƣợc đào sâu
đáng kể. G. Lakoff (1987) và Kovecses (1986) đã cho thấy những ẩn dụ cảm xúc (nhƣ
sự giận dữ của con ngƣời) xuất hiện trong ngôn ngữ và đều xuất phát từ cơ sở văn hóa,
cơ sở sinh lí học của con ngƣời. Năm 2002, Gilles Fauconnier và Mark Turner đã phát
triển một kiểu không gian tinh thần tƣởng tƣợng kết hợp với lí thuyết thần kinh của
ngôn ngữ có tên gọi là lí thuyết về không gian pha trộn, trong đó, các ánh xạ ẩn dụ
đƣợc thực hiện trên cơ sở vật lí giống nhƣ một bản đồ thần kinh, nhƣ thế, chúng tạo
thành các cơ chế thần kinh tự nhiên trong các suy luận ẩn dụ.
Tiếp đó, cùng một số nhà nghiên cứu khác, Lakoff đã phát triển tƣ tƣởng về vai
trò của ẩn dụ trong việc hình thành hệ thống ý niệm của con ngƣời và cấu trúc của
14
ngôn ngữ tự nhiên. Tƣ tƣởng này đã đƣợc Lakoff phát triển thành học thuyết “Trí tuệ
nhập thân”, chủ trƣơng nghiên cứu sự phụ thuộc của những năng lực tƣ duy của con
ngƣời và những quan niệm về thế giới, kể cả những hệ thống triết học vào những đặc
điểm cấu tạo của cơ thể và bộ não con ngƣời.
Về các nghiên cứu liên quan đến ứng dụng của lí thuyết ẩn dụ trong lĩnh vực