bai tieu luan triet hoc học thuyết pháp trị của hàn phi tử và sự vận dụng vào công cuộc xây dựng xã hội việt nam hiện nay - Pdf 50

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................2
NỘI DUNG...........................................................................................................4
Chương 1: Hoàn cảnh ra đời học thuyết Pháp Trị của Hàn
1.1.

Phi Tử............4

Bối cảnh lịch sử Trung Quốc thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc...........4

1.2. Vài nét về thân thế và sự nghiệp của Hàn Phi Tử.................................5
Chương 2: Học thuyết “ Pháp trị” của Hàn Phi Tử trong lịch sử triết học
Trung Quốc..........................................................................................................7
2.1. Nội dung cơ bản học thuyết “ Pháp trị” của Hàn Phi Tử.....................7
2.1.1. Nội dung trị nước bằng “ pháp luật”................................................7
2.1.2. “Pháp” phải kết hợp với “ Thế”........................................................9
2.1.3. “ Pháp” kết hợp với “ Thuật”..........................................................10
2.2.

Những ưu điểm và hạn chế của học thuyết “ Pháp trị” của Hàn Phi

Tử....................................................................................................................12
2.2.1. Ưu điểm.............................................................................................12
2.2.2. Nhược điểm.......................................................................................12
Chương 3: Sự vận dụng học thuyết Pháp trị vào công cuộc xây dựng xã
hội Việt Nam hiện nay......................................................................................15
3.1. Vận dụng tư tưởng của Pháp trị trong quản lý xã hội và điều hành
đất....................................................................................................................15
3.2. Vận dụng trong quản lý doanh nghiệp................................................17
3.2.1. Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước về doanh nghiệp........................17
3.2.2. Nhìn từ góc độ quản lý nội bộ doanh nghiệp.................................18

nào trong quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

1


Vì vậy với những kiến thức đã được học, em đã quyết định chọn đề tài “
Học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử và sự vận dụng vào công cuộc xây dựng xã
hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận học phần “ Lịch sử Triết Học”

2


NỘI DUNG
Chương 1: Hoàn cảnh ra đời học thuyết Pháp Trị của Hàn

Phi Tử

1.1. Bối cảnh lịch sử Trung Quốc thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc
Học thuyết Pháp Trị của Hàn Phi Tử ra đời cùng với sự hình thành và phát
triển của phái Pháp Gia vào cuối thời Chiến Quốc. Đây là thời kỳ bắt đầu hình
thành quan hệ sản xuất phong kiến ở Trung Quốc
Từ thế kỷ VIII – III TCN xã hội nhà Chu bước vào thời kỳ biến động lớn
toàn diện kéo dài. Giai đoạn lịch sử này gọi là thời kỳ Đông Chu, trong đó có
hai thời kỳ nhỏ là Xuân Thu và Chiến Quốc
Về kinh tế: đây là thời kỳ công cụ bằng sắt ra đời thay thế công cụ bằng
đồng, bằng đá vì vậy kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có sự phát triển
mạnh mẽ. Bước đầu hình thành và phát triển thương nghiệp nên thành thị có cơ
sở kinh tế tương đối độc lập.
Về xã hội: Tuy nhiên đất đai trước thuộc quyền sở hữu của nhà Vua nay bị
chiếm làm của tư. Giai cấp quý tốc nhà Chu bị mất đất mất dân địa vị kinh tế bị

sử và đã trở thành giải pháp chữa trị thiết thực và phù hợp với hoàn cảnh Trung
Quốc lúc đó.
1.2. Vài nét về thân thế và sự nghiệp của Hàn Phi Tử
Hàn Phi Tử sinh vào những năm 280 – 233 TCN, vốn thuộc dòng dõi quý
tộc nước Hàn, Ông là công tử nước Hàn từ nhỏ thông minh học giỏi. Vì là con
thứ không được kế vị nên ông nhận thức khá sâu sắc quan hệ vua tôi, vấn đề trị
nước. Ông say mê nghiên cứu Nho gia, Đạo gia, nhưng ham thích các học
thuyết Pháp trị hơn cả. Ông theo học Tuân Tử cùng với Lý Tư nhưng lại có tư
tưởng khác biệt với thầy. Tuân Tử chú trọng về giáo hóa Lễ Nghĩa, còn Hàn Phi
cùng với Lý Tư thì nặng về pháp chế và quyền thuật, đi theo con đường hoàn
toàn trái ngược với đạo Nho. Hàn Phi từng bảo “ Ngô ái ngô sư ngô bưu ái chân
lý”( Ta mến thầy ta nhưng ta càng chuộng chân lý hơn)
Thấy nước Hàn suy nhược người nhà vua nuôi không phải là người cần
dùng, người cần dùng không được nhà vua nuôi. Ông thương xót người tài giỏi
4


chính trực bị bọn gian thần làm hại. Vì vậy ông viết rất nhiều sách và đã nhiều
lần dâng kiến nghị lên vua bày cách trị nước, nhưng chẳng được trọng dụng.
Nước Tần đánh Hàn trong lúc lâm nguy vua Hàn cử ông đi sứ sang Tần. Vua
Tần xem sách của ông thì rất ngưỡng mộ và muốn trọng dụng
Đường thời, Lý Tư bạn học của Hàn Phi là tể tướng của nước Tần không
đồng ý với quan điểm của Hàn Phi lo sợ vua Tần sẽ trọng dụng Hàn Phi thay thế
cho địa vị của mình. Nên đã bất chấp tín nghĩa bạn học với nhau ngầm thông
đồng với Điêu Giả hãm hại Hàn Phi, kết thúc cuộc đời bi thống vào năm 233
TCN
Hàn Phi Tử đã tiếp thu tư tưởng ba phái trước đây, phát triển và hoàn
thành đường lối trị nước: hành pháp – chấp thuật- thị thế, viết thành sách 55
thiên gọi là “ Hàn Phi Tử”. Học thuyết “ Pháp trị của ông cũng được trình bày
rất cụ thể trong đó. Và đã trở thành học thuyết chính trị quan trọng nhất của

hẹp “ Pháp” là những điều luật, luật lệ những luật lệ mang tính nguyên tắc và
khuôn mẫu, kế thừa và phát triển lý luận pháp trị của pháp gia thời trước. Hàn
Phi Tử cho rằng “Pháp là hiến lệnh công bố của các công sở thưởng hay phạt
6


đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận, giữ pháp luật, phạt kẻ
phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo Pháp”.
Như vậy theo Hàn Phi Tử nội dung chủ yếu của thi hành pháp luật là
thưởng phạt mà ông gọi là “ nhị cán” – hai cánh tay vua. Ông phê phán Thương
Uổng trước đây chỉ phạt tội mà không thương công và cho rằng cần phải thực
hiện toàn diện cả hai mặt khuyến khích và răn đe thông qua thường và phạt.
Trước hết ông khẳng định thưởng phạt phải trúng. Muốn vậy trước hết
phải có những điều luật, luật lệ những quy định mang tính nguyên tắc làm tiêu
chuẩn, tương tự như dây mực cái quy, cái của…để đo đạc đúng sai. Phải thông
báo cho mọi người biết luật “Luật là cái được con người biên chép vào sổ sách
đặt ở nơi quan phủ để ban khắp cho trăm họ. Do luật pháp đó mà trăm họ được
báo cho biết những gì phải làm, những gì không được làm”.
Thứ hai, thưởng phạt phải công bằng, không thiên lệch không vị thân.
Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Ông cho rằng sự trừng phạt không
cần biết tước vị của giới quý tộc vì luật không xu nịnh gới quý tộc.
Thứ ba, Hàn Phi Tử cho rằng thưởng hậu phạt nặng để răn đe kẻ vi phạm
khuyết khích người làm việc tốt. Bởi vì “ thường mà hậu thì điều mình muốn
cho dân làm, dân mới mau mắn mà làm phạt mà nặng thì điều mình ghét và cấm
đoán, dân mới mau mắn mà tránh thưởng hậu không phỉa chỉ để thưởng công mà
còn để khuyến khích dân chúng nữa, phạt mà nặng không phải chỉ phạt một kẻ
gian mà còn để năng kẻ bậy trong nước”.
Bên cạnh việc thưởng phạt Hàn Phi còn khẳng định sự vật luôn luôn biến
đổi nên “ không có thứ pháp luật nào luôn luôn đúng” từ đó phải thưởng xuyên
thay đổi “ Pháp” cho phù hợp với xã hội. Có như vậy “Pháp” mới thực sự làm

thực là nông và chiến. “ Học rộng khôn ngoan, biện luận giỏi như Khổng Tử,
Mặc Tử là nhất. Nhưng Khổng Tử, Mặc Tử không lo cày bừa thì nước được lợi
cái gì? Trau dồi chữ hiếu , ít ham muốn như Tăng Sâm, Sử Ngư là nhất. Nhưng
Tăng Sâm, Sử Ngư không đánh giặc thì nước được lợi cái gì?”.

8


Như vậy Hàn Phi Tử đã khẳng định mối quan hệ giữa “ Pháp” và “ Thế. “
Pháp” muốn cai trị được thì phải có “ thế”. Một vị vua muốn cai trị đất nước
phải có “ pháp” và “ thế”. Vì có “ pháp” thì dân mới yên mà muốn dân nghe
theo “ pháp” thì vua phải có “ thế”
2.1.3. “ Pháp” kết hợp với “ Thuật”
Sau “ Pháp” và “ Thế” Hàn Phi Tử cũng rất chú ý đến yếu tố “ Thuật”
trong đường lối pháp trị. “ Thuật” trước hết là cách thức, phương thức mưu lược,
thủ đoạn trong việc tuyển người, dùng người giao việc, xét đoán sự vật, sự việc
mờ nhờ nó pháp luật được thực hiện và nhà vua có thể “ trị quốc bình thiên hạ”.
Nhiệm vụ chủ yếu của “ Thuật” cai trị là phân biệt rõ ràng những quan lại trung
thành tận tâm và những quan lại xu nịnh ma giáo, thử năng lực của họ, kiểm tra
công trạng và những sai lầm của họ với mục đích tăng cường bộ máy cai trị trên
cơ sở bộ máy luật pháp và chế độ chuyên chế”.
Theo Hàn Phi thì “ thuật” khác “ pháp” ở 3 điểm : Một là “Pháp” để trị
dân còn “ Thuật” là để nắm giữ quan lại. Hai là “ Pháp” thì vua quan cùng giữ.
“ Thuật” là chuyên để vua dùng. Ba là “ Pháp” thì công bố cho mọi người rõ
còn “ Thuật” là cơ trí ngầm của nhà vua không nên cho quan dân biết”.
Hàn Phi Tử cũng chỉ rõ ra 5 thuật cơ bản đó là : bổ nhiệm, khảo hạch, bí
mật, nắm quyền thưởng phạt, đề phòng kẻ gian: Thứ nhất là thuật bổ nhiệm
Hàn Phi khẳng định “ Dùng công việc để sử dụng người đó là cái then chốt
cửa sự
còn hay mất, trị hay loạn”. Việc chọn và sử dụng quan lại phải dựa vào tài năng

đã viết 14 thiên nói về bày tôi gian dối, thiên 15 nêu ra 47 điều nước mất, thiên
30 nêu 7 thuật thường dùng, thiên 47 nêu 8 thuyết sai lầm đều là những thuật cụ
thể dùng người, phòng kẻ gian.
Tóm lại học thuyết Pháp trị của Hàn Phi tử là sự kết hợp “ pháp” – “
thuật” – “ thế”. Trị nước, trừ gian chỉ có thể thực hiện được nếu kết hợp hài hòa
bau yếu tố này. Ba yếu tối này hỗ trợ nhau, không tách rời trong đó mỗi bộ phận
có vai trò nhất định trong một chỉnh thể tạo nên giá trị học thuyết của Hàn Phi
Tử. Do đó tư tưởng “ pháp trị” mặc dù đã hình thành khá sớm trong lịch sử tư
10


tưởng Trung Quốc cổ đại với Quản Trọng là người khởi xướng. Nhưng Hàn Phi
Tử là người duy nhất hoàn thiện vừa thống nhất các tử tưởng về “ Thế”, “
Thuật”, “ Pháp” . Nêu lên tư tưởng chủ đạo của pháp gia là muốn trị nước, yên
dân phải lấy pháp luật làm trọng và nếu dùng pháp trị thì xã hội có phức tạp bao
nhiêu, nức có đông dân bao nhiều thì vẫn “ trị quốc bình thiên hạ được”.
2.2.

Những ưu điểm và hạn chế của học thuyết “ Pháp trị” của Hàn Phi

Tử
2.2.1. Ưu điểm
Trong thời thế loạn lạc, chiến tranh liên miên, lòng người phân tán trong
khi học thuyết của Khổng Tử - Mạnh Tử lúc này trở thành quá lý tưởng, xa rời
thực tế, không thể coi là giải pháp cho thời cuộc lúc đó. Bối cảnh ấy thúc đẩy sự
ra đời của học thuyết “ Tính ác” của Tuân Tử và hệ quả tất yếu của nó là học
thuyết pháp trị của Hàn Phi.
Trong học thuyết Pháp trị, Hàn Phi là người đầu tiên nêu cao tư tưởng
pháp trị : “ nước phải có phép, xã hội phải có lề luật”, đó là cái mà xã hội hiện
đại gọi là “ xây dựng nhà nước pháp quyền”. Trong tư tưởng pháp trị ấy, Hàn

triết học Trung Hoa nói riêng và lịch sử nhân loại nói chung.
 Tiểu kết
Tóm lại Hàn Phi Tử từ quan điểm bản tính con người là ác là ham lợi đã
xây dựng lên học thuyết pháp trị. Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử là sự kết
hợp ba yếu tố “ pháp – thuật – thế”. Ba yếu tố này có mối quan hệ biện chứng
thống nhất với nhau, hỗ trợ nhau không tách rời trong đó mỗi yếu tố có vai trò
nhất định trong mộ chỉnh thể “pháp trị”. Nói cách khác muốn xã hội yên ổn thì
phải có “ pháp” mà muốn “ pháp” được thi hành thì phải có “thuật – thế”. Mà
nhà vua muốn đảm bảo “ thuật – thế” thì phải có “ pháp” sử dụng pháp như một
công cụ củng cố “ thế - thuật” của mình.
Học thuyết pháp trị của Hàn Phi mặc dù còn có những ưu điểm và hạn chế
nhất định nhưng những tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử nói riêng và các tư
tưởng triết học của Hàn Phi nói chung vẫn giữ nguyên những giá trị tốt đẹp của
nó. Những giá trị đó đã được chứng minh trong chế độ quản lý đất nước dựa
12


trên pháp luật được thiết lập trên toàn thế giới và ở đâu cũng vậy pháp luật được
bảo vệ chủ yếu bằng hình pháp. Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử đã trở
thành một học thuyết tiêu biểu trong các tư tưởng triết học thời Trung Hoa cổ
đại.

13


Chương 3: Sự vận dụng học thuyết Pháp trị vào công cuộc xây dựng xã
hội Việt Nam hiện nay
3.1. Vận dụng tư tưởng của Pháp trị trong quản lý xã hội và điều hành đất
nước
Hơn 15 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đạt được nhiều

phúc.
Hàn Phi ví pháp luật với dây mực, cái quy, cái củ... tức là những đồ dùng
làm tiêu chuẩn để phân biệt đúng sai, phải trái. Pháp không tách rời khỏi Thế và
Thuật mà cùng tạo nên một cái kiềng ba chân. Luật pháp phải kịp thời. Hàn Phi
viết: “Thời thay mà pháp luật không đổi thì nước loạn, đời đã thay đổi mà cấm
lệnh không biến thì nước bị cắt”. Đối với Hàn Phi, pháp luật là thứ “phép công”
điều khiển hành vi của mọi người.
Vậy, thành công lớn nhất của hệ tư tưởng này, mặc dù còn bị hạn chế dưới
góc độ tư tưởng quản lý đã tạo lập nhiều quan điểm quản lý quan trọng thuộc
phạm vi quản lý vĩ mô, đã vạch ra được lôgích của quá trình quản lý xã hội bao
gồm các mức từ thấp đến cao: “Chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ”, đã đưa ra được trình tự tiến hành các hoạt động quản lý: “trị đạo, trị học, trị
thể, trị tài, trị phong, trị thuật” mà ngày hôm nay trong quản lý nói chung, và
quản lý kinh tế nói riêng vẫn còn có thể khai thác và sử dụng tốt.
Trên đây là một số ưu điểm nổi bật trong hệ tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi
Tử mà chúng ta có thể học hỏi và vận dụng trong quá trình quản lý và điều hành
đất nước.
Áp dụng vào thực tế, Tư tưởng Pháp gia là một trong những tư tưởng chủ
yếu và chi phối đời sống chính trị nước ta.
Nhờ pháp luật vì lẽ phải và phục vụ lợi ích chung mà trong những năm
qua công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta đã đạt được một số
thành tựu đáng kể. Đó là thành tựu trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, an ninh
quốc phòng. Nhân dân ta đoàn kết một lòng, xây dựng đời sống văn hóa ở khu
dân cư, xây dựng nếp sống tốt đẹp. Trong lĩnh vực chính trị, dân chủ hóa xã hội
15


được mở rộng. Nhân dân là người bỏ phiếu để bầu ra lực lượng đại diện cho
mình.
Sự công bằng của pháp luật đã đảm bảo cho việc thực hiện nó một cách

này để làm cơ sở cho việc quản lý hoạt động của các doanh nghiệp.
Như vậy, hành vi ứng xử của một doanh nghiệp sẽ chịu sự chi phối của
hai yếu tố. Thứ nhất, xuất phát từ chính bản thân của doanh nghiệp. Đó là
phương châm, đường lối họat động mà doanh nghiệp đã xác định từ khi mới
thành lập và trong quá trình họat động. Thứ hai, đó là những ràng buộc pháp lý,
đó là “Pháp” buộc doanh nghiệp phải tuân theo. Một khi doanh nghiệp làm ăn
chân chính, vì lợi ích của chính mình và vì lợi ích cộng đồng thì lúc đó “Pháp”
đóng vai trò hỗ trợ, bảo vệ doanh nghiệp. Còn ngựơc lại, doanh nghiệp làm ăn
thiếu trách nhiệm, gây ảnh hưởng đến cộng đồng, đến xã hội thì “Pháp” sẽ đóng
vai trò như một công cụ trừng phạt doanh nghiệp.
3.2.2. Nhìn từ góc độ quản lý nội bộ doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một
kế hoạch nhất định nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu
đó, bên cạnh việc có một mục tiêu đúng, đường lối hoạt động tốt và kế hoạch
hoạt động hiệu quả thì trước hết doanh nghiệp cần có cơ cấu tổ chức chặt chẽ,
môi trường nội bộ thuận lợi, các nguyên tắc, kỷ luật được duy trì và phát huy vai
trò của nó. Hay nói cách khác, một doanh nghiệp trước khi muốn đạt được
thành công bên ngoài thì cần phải xây dựng nội bộ của mình thành một tập thể
vững mạnh, gây dựng một hình ảnh tốt đẹp trong mắt khách hàng, đối tác bên
ngoài.
Nhưng sức mạnh nội bộ ấy đến từ đâu? Nếu xem xét một cách rời rạc,
doanh nghiệp là một tập hợp của những con người cùng làm việc với nhau để
đạt đến mục tiêu chung đã được đặt ra. Nhưng khi nhắc đến con người thì đó là
một đối tượng tương đối phức tạp, từ suy nghĩ đến hành động. Theo Hàn Phi, vì
cũng là con người cho nên bản chất của mỗi nhân viên trong doanh nghiệp vốn
là “ác”. Nếu hiểu như vậy thì điều này có nghĩa là bên trong mỗi con người, mỗi
một nhân viên trong doanh nghiệp, ngoài lợi ích chung của doanh nghiệp thì
17



Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử đã phản ánh đúng quy luật khách
quan nên đã đáp ứng được yêu cầu của lịch sử. Tuy nhiên do đã thủ tiêu những
giá trị nhân đạo, nhân văn là hạt nhân tích cực trong nội dung các học thuyết “
Đức trị”, “ Kiêm ái”... nên ở phương diện này Pháp trị lại phản ánh một bước lùi
lịch sử. Mặc dù vậy học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử vẫn để lại những bài
học kinh nghiệm quý giá cho chúng ta hiện nay.
Ngày nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa cảu nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì một yêu cầu quan trọng là
phải xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất đồng bộ, tạo môi trường pháp lý ổn
định cho phát triển kinh tế - xã hội. Qua thực tiễn hơn mười năm đổi mới, bên
cạnh những thành tựu không thể phủ nhận trong quá trình hoạt động thực thi
pháp luật trên thực tế còn nhiều yếu kém là nguyên nhân làm cho kỷ cương phép
nước không nghiêm. Những hạt nhân tiến bộ của Học thuyết pháp trị chắc chắn
sẽ cho chúng ta nhiều suy nghĩ trong công tác xây dựng và hoàn thiện bộ máy
nhà nước và hệ thống pháp luật hiện nay.

19


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và đào tạo : Giáo trình triết học , NXB chính trị - hành chính,
Hà Nội , 2012 Khoa Triết học – Học viện báo chí tuyên truyền : Giáo trình lịch
sử
triết học trung Quốc thời kỳ cổ - trung đại, NXb chính trị - Hành chính ,Hà Nội,
2009
2. Bùi Thanh Hương – Nguyễn Văn Đại : Khái lược lịch sử triết học – NXB
chính trị hành chính, Hà Nội, 2011
3. Doãn Chính (chủ biên), Đại cương triết học Trung Quốc, NXB Chính trị quốc
gia Hà Nội 197, tr.348
4. Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê: Đại Cương Triết học Trung Quốc gồm 2 tập,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status