Học thuyết phản ánh của v i lênin trước những vấn đề mới trong đời sống tinh thần ở việt nam hiện nay - Pdf 13

VIỆN TRIẾT HỌC

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

HỌC THUYẾT PHẢN ÁNH CỦA V.I.LÊNIN
TRƯỚC NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG ĐỜI SỐNG
TINH THẦN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CNĐT : NGUYỄN MINH HOÀN
8265


đơn thuần, mà tác
động đến sự “may rủi”; “hên xui”,… của con người.
Vậy có những hiện tượng ấy không?, và nếu có thì khoa học hiện đại có
đủ sức để giải quyết được những vấn đề mới đang xuất hiện này hay không?
Nhưng về mặt lý thuyết, nếu khoa học đã đủ sức làm rõ những điều này thì
phải chăng triết học đã hết vai trò của mình? Ngược lại, n
ếu khoa học không
đủ sức giải quyết những vấn đề ấy thì triết học phải được tiếp cận theo hướng
nào? Bởi vì, trong khi mà suốt một quá trình phát triển lâu dài của mình, từ cổ
đại đến nay triết học vẫn chưa có câu trả lời cuối cùng, mà vẫn chỉ dừng lại ở
việc tạo cơ sở cho những niềm tin về mặt tinh thần.

2
Vấn đề khó khăn của khoa học tự nhiên trong việc giải quyết vấn đề này là
ở chỗ, nếu khoa học chỉ căn cứ theo khía cạnh bản thể luận với quan niệm cho
rằng những gì không được “vật hoá” và không thể hiện qua thực tại trực quan thì
dường như không thể tồn tại. Vì cái thực tại bao giờ cũng phải được ghi nhận
một cách khách quan. Và do không thừa nhậ
n các hiện tượng tâm linh tồn tại
theo nghĩa nào khác hơn so với các vật thể của giới tự nhiên đang tồn tại, cho nên
khoa học luận tự nhiên thường đi đến trực tiếp phủ nhận những hiện tượng này.
Nhưng ngược lại, ngay cả trường hợp những người theo quan điểm thừa
nhận những hiện tượng tâm linh, nhưng do không có cách chứng minh nào
khác ngoài việc vẫn phả
i quy đối tượng nghiên cứu của mình theo cách của
khoa học tự nhiên nói trên, và do vậy, với những hiện tượng tâm linh vẫn phải
sử dụng chính phương pháp luận của khoa học “chính xác” để chứng minh,
cho nên trong lúc khoa học tự nhiên còn chưa đủ sức làm rõ đã dẫn đến sự
không nhất quán trong cách giải thích của mình về những hiện tượng này.


(ontology), hay những vấn đề của Siêu hình học, bao gồm siêu hình học tổng
quát (General metaphysics - ontology - vũ trụ luận) và siêu hình học chuyên
biệt (Special metaphysics – theology - thần học, linh hồn). Những vấn đề
chuyên biệt này đều liên quan mật thiết tới vấn đề như: sự khác biệt giữa tâm
lý và vật lý; khả năng tự do của con người; tính chủ thể
của tự nhiên; khả năng
tồn tại của con người sau cái chết; và sự tồn tại của Chúa
1
. Còn trong triết học
phương Đông, cụ thể là triết học Trung Hoa cổ đại, những vấn đề bản thể luận
với hai cấp độ cơ bản của nó cũng bao hàm trong đó cả vấn đề về tâm linh. Đó
là, Hình nhi thượng () và Hình nhi hạ () được coi là cơ sở của
triết học đầu tiên. Trong Hệ từ (Kinh dịch) viết: 
(Hình nhi thượng vị chi đạo, hình nhi hạ vị chi khí): Trong đó hình nhi thượng
được hiểu là những cái cao siêu, vi diệu khó mới hiểu được; hình nhi hạ là
những triết lý thông thường, thậm chí là những cái thực tồn trực quan trong
cuộc sống hàng ngày mà ai cũng có thể hiểu được.
Mặc dù vậy, trải qua quá trình phát triển lâu dài của mình, tính đến thế kỷ
XVII – giai đoạn khoa học tự nhiên có bước phát triển vượt bậc, thì vấn đề v

sự tồn tại thực sự hay chỉ là phản ánh hư ảo của con người về những hiện 1
Bruce Aune - Metaphysics. The elements - Oxford, Basil Blackwell, 1986 p. 11

4
tượng kỳ ảo ấy lại chưa có câu trả lời cuối cùng của riêng lĩnh vực triết học.
Nhưng dù sao, cùng với sự tích luỹ của khoa học thời kỳ này, người ta đã kỳ
vọng việc kết hợp cả hai lĩnh vực triết học và khoa học, nhưng phần nhiều vẫn
1
Nguyễn Hữu Vui (chủ biên – 1998), Lịch sử triết học, Nxb. CTQG, Hà Nội, tr. 303.

5
không? Trong những biểu tượng và khái niệm của chúng ta về thế giới hiện
thực, chúng ta có thể phản ánh được đúng đắn hiện thực không?"
1
.
Với quan điểm triết học đó, trong điều kiện phát triển của khoa học hiện
đại ngày nay, quan điểm về vai trò của triết học mà các nhà kinh điển mác-xít chỉ
ra càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Bởi chính hiện nay, có nghiên cứu đã
chỉ ra rằng : “Khoa học càng tiến lên, chính các nhà khoa học cũng trở nên bối rối,
lạ lùng – thậm chí hoang mang – trước sự đối lập giữa “Hi
ện thực khách quan” với
những phát hiện Khoa học của chính mình: Những phát hiện đó, đi ngược lại sự
gắn bó chặt chẽ của nhận thức truyền thống, đã ăn rất sâu vào tiềm thức đối với
hiện thực nội tại. Vì quá trăn trở với những đối lập ấy, đến nỗi một nhà Vật lý lừng
danh như Schodinger, cũng phải than thở
với đồng nghiệp Niels Bohr rằng: “Tôi
rất lấy làm tiếc là mình đã có lúc dây dưa với lý thuyết Lượng tử”!
2

Vấn đề đặt ra là, những hiện tượng mới trong đời sống tinh thần đang
nằm “trong tầm mắt”, hay nằm “ngoài tầm mắt” mà có thể hướng đến giải
quyết theo Học thuyết phản ánh của V.I.Lênin. Về điều này, V.I.Lênin đã chỉ
rõ: “Bắt đầu từ chỗ mà tầm mắt (Gesichtskreis) của chúng ta dừng lại thì tồn
tại hoàn toàn là một vấn đề
chưa được giải quyết (offene Frage)”

. Và có được điều khẳng
định ấy, theo V.I.Lênin là ở chỗ, đó là quan điểm đã được “Nhất trí với các
khoa học tự nhiên, những người duy vật kiên quyết bác bỏ điều đó.”
2

Đặt niềm tin vào khả năng nhận thức thế giới, ngược lại không có nghĩa
là hoàn toàn tuyệt đối hoá: hoặc là vai trò của triết học, hoặc là vai trò của
khoa học tự nhiên. V.I.Lênin nhấn mạnh sự hiểu biết con người muốn có được
chân lý thì phải trải qua “một quá trình phát triển lâu dài và vất vả của triết
học và của các khoa học tự nhiên”
3
.
Như vậy, những nhà kinh điển mác-xít đã gắn chặt giữa triết học và khoa
học tự nhiên trong việc giải quyết những vấn đề này. Hơn nữa, các nhà kinh
điển mác-xít còn sớm chỉ ra sự thống nhất ấy về lâu dài sẽ trở thành một khoa
học thống nhất, và nếu hiểu triết học chính là khoa học về con người, thì như
C.Mác đã nhấn mạnh: “V
ề sau khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học
về con người cũng như khoa học về con người bao hàm trong nó khoa học tự
nhiên: Đó sẽ là một khoa học”
4
- Khoa học về con người với đời sống tinh thần
đích thực.
Trước những vấn đề mới trong đời sống tinh thần hiện nay cần được làm
sáng tỏ, đặc biệt trên cơ sở triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ 1
V. I. Lênin, Toàn tập, t. 18, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr. 135.
2

s n nh xó hi trờn c s ca mt i sng tinh thn xó hi phỏt trin lnh
mnh l vn cú mt ý ngha thc tin cp bỏch. Vỡ l ú, ti s tp trung
vo lm rừ nhiu vn c
v lý lun v thc tin ang t ra xoay quanh
nhng hin tng mi trong i sng tinh thn Vit Nam hin nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nh ó núi trờn nhng vn mi hay nhng hin tng l trong i
sng tinh thn luụn c quan tõm nghiờn cu trong mt phm vi rng ln, v
hin c nhiu nghiờn cu trong nc v nc ngoi quan tõm t cỏc gúc
khỏc nhau. Trong
ú, phi k n nhng nghiờn cu trong truyn thng lch

8
sử triết học và cả khoa học tự nhiên. Trước hết, đối với những nghiên cứu
trong lĩnh vực triết học kể từ cổ đại đến nay trong cả triết học phương Tây và
phương Đông. Đó chính là những vấn đề về hiện tượng tinh thần, tâm linh,
linh hồn, quỷ thần, mệnh trời, thiên ý, luôn được đặt ra nghiên cứu gắn liền
với bản th
ể luận hay siêu hình học của triết học.
Những tư tưởng triết học lớn kể từ cổ đại đến nay vẫn được quan tâm
nghiên cứu và nó luôn được coi là căn bản nghiên cứu trong vấn đề tinh thần,
tâm linh, linh hồn , đáng chú ý có nghiên cứu của: Hugh Tredenick Translat.
Oeconomica. Magna Moralia, G Cyril Arstrong Transl, Aristotle, (In 23
volumes/Aristotle-Vol. 18) (1969) Metaphysics, Havard University Press.
Trong đó, nghiên cứu đã sưu tập và biên soạn 3 tác phẩm lớn của nhà triết học
Hy Lạp cổ đại củ
a Aristot về: "Siêu hình học" bàn về những vấn đề vượt qua
ngoài kinh nghiệm mà khoa học hiện thời chưa chứng minh được (thần linh,
linh hồn, tự do ý chí ); Còn trong cuốn: Aristotle, On the Heavens, With an
english translation by W. K. C. Guthrie, London: Harvard university Press, đã

Huy Canh (2008), Bàn về phạm trù vật chất của V.I.Lênin, Tạp chí Triết học,
số 3; Phạm Văn Chung (2008), Lại nói về phạm trù vật chất của V.I.Lênin,
Tạp chí Triết học, số11;
Cùng với những nghiên cứu về phạm trù vật chất và ý thứ
c trong triết học
Mác-Lênin, còn có nhiều nghiên cứu cũng bàn về bản thể luận và nhận thức
luận trong lịch sử triết học: Nguyễn Đình Tường (1995), Quan niệm của
Hêghen về triết học cận đại, Tạp chí Triết học, số 9; Nguyễn Hào Hải (1995),
Vấn đề con người và Thượng đế trong triết học phương Tây hiện đại, Tạp chí
Tri
ết học, Số 3; Đặng Hữu Toàn (1996), Thuyết đơn tử trong triết học Lépnít,
Triết học, số 5; Đỗ Minh Hợp (2001), Triết học tôn giáo phương Tây hiện đại,
Tạp chí Triết học, số 3; Trần Đức Thảo (2004), Hiện tượng học và chủ nghĩa
duy vật biện chứng, Người dịch: Đinh Chân, Nxb. ĐHQG, Hà Nội; E. E.
Nexmeyanov
(chủ biên, 2004), Triết học – Hỏi và đáp, Người dịch: Trần
Nguyên Việt, Nxb. Đà Nẵng;Nguyễn Anh Tuấn (2005), Gi.P.Xáctơrơ với
hiện tượng học Huxéc trong vấn đề quan hệ giữa tồn tại và ý thức, Tạp chí
Triết học, Số 10; Trần Văn Phòng (2006), Triết học Hy Lạp cổ đại, Nxb. Lý
luận chính trị, Hà Nội; Nguyễn Chí Hiế
u (2007), Bản thể luận và cách tiếp
cận bản thể luận trong triết học phương Tây, Tạp chí Triết học, số 6 ; Lê

10
Công Sự (2007), Học thuyết phạm trù trong triết học I.Kant, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, cũng bàn về những vấn đề bản thể luận và nhận thức luận
trong triết học của Kant như là một bước ngoặt trong sự phát triển của lịch sử
triết học về vấn đề này;… Lê Tôn Nghiêm (2007), Đâu là căn nguyên tư
tưởng hay con đường triết lý từ Cant
ơ đến Haiđơgơ, Nxb. Văn học, Hà Nội;

quan đến đời sống tinh thần của đời sống xã hội, trong đó có các công trình
như: Phạm Minh Hạc (2005), Vấn đề tiềm năng con người, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội. Đây là những kết quả tìm hiểu bước đầu về nghiên c
ứu tiềm năng con
người: cận tâm lí học và vấn đề tiềm năng con người; Dự báo tương lai - một tiềm
năng bí ẩn của con người; Tìm hiểu khả năng đặc biệt của con người
Quốc Hùng (biên soạn) (2005), Thế giới những điều kỳ thú, Nxb Thanh
niên, Hà Nội. Giới thiệu những mẩu chuyện về những điều bí ẩn, kỳ thú về th
ế
giới tự nhiên và khả năng của con người như: Bí ẩn trong sự "hoạ vô đơn chí",
ngày lễ tình yêu, vùng đất; Thông tấn (2005), Những bí ẩn thế kỷ, Nxb Thông
tấn, Hà Nội. Tìm hiểu những bí ẩn về con người, khả năng đặc biệt của con
người; bí ẩn về những lời nguyền. Những hiện tượng kỳ lạ. Giải mã những
nền văn minh c
ổ. Những vụ án chưa có lời giải.
Vũ Tuyên Hoàng, Phan Anh, Phạm Minh Hạc (2007), Nghiên cứu và
ứng dụng tiềm năng con người, Nxb Tri thức, Hà Nội. Ghi lại một số nét về
các mặt hoạt động của Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người, kết quả
điều tra một số người có khả năng đặc biệt như tìm mộ, gọi hồn, chữa bệnh,
dự báo, xác định phong thuỷ
Nguyễn Chu Phác, Hàn Thuỵ Vũ (2007), Hành trình thiêng liêng tìm
hài cốt liệt sĩ: Sự mách bảo tâm linh và những khả năng kỳ diệu của con
người, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội. Gồm những câu chuyện thật, người
thật được phản ánh trong hành trình thiêng liêng tìm hài cốt liệt sĩ, và được
nhìn nhận một cách nghiêm túc như là những hiện tượng tự nhiên mà khoa
học chưa giải thích được.
Cũng v
ới chủ đề này, còn có nghiên cứu: Bí ẩn mãi mãi là bí ẩn (2008),
Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, trình bày về những hiện tượng bí ẩn, kì lạ xảy ra trong


tinh thần Và còn có nghiên cứu nổi tiếng về triết học linh hồn hiện nay của:
David J. Chalmers (1993), The Conscious Mind: In Search of a Fundamental
Theory, David J. Chalmers, Oxford University Press; David J. Chalmers

13
(2002) Philosophy of Mind: Classical and Contemporary Readings, published
by Oxford University Press in July 2002.
Nhưng đáng chú ý là trước những vấn đề phức tạp trong đời sống tinh
thần hiện nay đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội, thì phải kể đến
nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này đứng trên lập trường của chủ nghĩa
duy vật biện chứng mác-xít cũng đang được bàn luận khá sôi nổi ở Trung
Qu
ốc, để lấy đó làm căn cứ định hướng đời sống tinh thần xã hội ở Trung
Quốc phát triển lành mạnh như các công trình:
 (2005), ,  : : Trong Lược khảo tư
tưởng bản thể Trung Quốc cổ đại, tác giả Phương Quang Hoa đã khái quát tư
tưởng bản thể luận Trung Quốc thời cổ đại: thời Xuân Thu Chiến quốc, văn
hoá Tần Hán, Tố
ng Minh Thanh, Tuỳ Đường. Giá trị nghiên cứu tư tưởng bản
thể luận. Đặc trưng và lý luận của bản thể luận qua các thời kì. Ảnh hưởng
của sự phát triển bản thể luận đối với phật học, huyền học;  (2005), 
 ,: Tác giả Dư Nghị Mạnh đã so sánh bản thể luận trong
triết học phương Tây và “Đạo” của triết h
ọc Trung Hoa truyền thống, và qua
đó tìm hiểu khái niệm linh hồn;  (2007), ,

: Tác giả Vu Thành Tuấn đã nhấn mạnh bản thể luận triết học Mác trong
việc nghiên cứu những vấn đề nhạy cảm trong lĩnh vực của đời sống tinh thần;
 (2000), , : Vượng Bang Kinh đã đi vào
nghiên cứu bản thể luận trong triết học của Sáctơ, sự ảnh hưởng của triết học

ồn.
() (2007), :, 
: Dưới tiêu đề:
Triết học nghịch biện: Mê cung của triết học và tâm linh, tác giả đã đưa ra cả
cách chứng minh về sự tồn tại và không tồn tại của Thượng đế cũng như
những vấn đề phức tạp trong đời sống tinh thần hiện nay trên cơ sở của những
tư tưởng triết học trong lịch sử;  () (2005) ——
: Tâm linh và niềm tin – khái lu
ận triết học Hoa kỳ đương đại -Tác
giả Trần Gia Minh đã xuất phát từ việc phân tích triết học của chủ nghĩa thực
dụng mới; thực tại luận; triết học tâm linh, tri thức luận, triết học đạo đức, triết
học chính trị, triết học Mác ở Mỹ, để đi vào phân tích về sự biến đổi trong đời
sống tinh thần nước M
ỹ trong kỷ nguyên công nghệ.

15
Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào lấy Học thuyết
phản ánh của V.I.Lênin làm cơ sở lý luận để đi vào nghiên cứu một cách có
hệ thống những vấn đề mới trong đời sống tinh thần với nhiều hiện tượng xuất
hiện như hiện nay. Và với cách tiếp cận từ góc độ triết học chúng tôi sẽ tập
trung vào làm sáng tỏ những vấn đề này
để trên cơ sở đó làm luận cứ cho
nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực triết học và nhiều khoa học về tiềm năng con
người và đời sống tinh thần của xã hội.
3. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở Học thuyết phản ánh của V.I.Lênin, đề tài góp phần giải đáp
những vấn đề mới trong đời sống tinh thần, đồng thời phê phán sự sai trái của
những quan điểm duy tâm, tôn giáo đang lợi dụng những vấn đề mới trong đời
sống tinh thần để phá hoại trật tự xã hội.
4. Nhiệm vụ của đề tài.

trong đó đáng chú ý là những nghiên cứu của Trung Quốc dựa trên quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lênin về tri
ết học tâm linh.
Đề tài nhấn mạnh việc sử dụng phương pháp tiếp cận lôgic và lịch sử;
phân tích và tổng hợp, trừu tượng và cụ thể, khảo sát khoa học thực nghiệm…
Đồng thời, tiến hành một số khảo sát về những biến đổi trong đời sống tinh
thần đang ảnh hưởng đến đời sống xã hội hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của
đề tài
* Ý nghĩa lý luận:
Trên cơ sở nghiên cứu của mình, đề tài tiếp tục góp phần bảo vệ cơ sở
khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và Học thuyết phản ánh của
Lênin với tư cách là cốt lõi duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hơn nữa, về
mặt triết học đề tài góp phần so sánh để tìm kiếm những điểm t
ương đồng và
khác biệt giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây trong vấn đề cơ
bản của triết học, trên cơ sở đó tiếp tục cổ vũ cho sự phát triển của triết học và
khoa học trên cơ sở của Học thuyết phản ánh.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở lý luận nêu trên, đề tài sẽ t
ập trung vào làm rõ nhiều vấn đề
thực tiễn đang đặt ra xoay quanh những hiện tượng mới trong đời sống tinh

17
thần. Đặc biệt, đề tài cố gắng tập trung làm rõ để lý giải gốc rễ nhiều vấn đề
đang đặt ra trong đời sống tinh thần hiện nay. Trên cở sở đó, đề tài có thể làm
luận cứ cho nhiều nghiên cứu trong nhiều lĩnh cả triết học và khoa học, đặc biệt
là lĩnh vực văn hoá tư tưởng trong việc hạn chế việc lợi dụng nh
ững hiện tượng
mới trong đời sống tinh thần dẫn đến sự mất ổn định trong đời sống xã hội.

tương ứng khác nhau.
Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
,
mặc dù không đưa ra một mệnh đề định nghĩa phạm trù phản ánh, nhưng qua
những nội dung của tác phẩm, các nhà triết học Xô viết đã rút ra định nghĩa
phạm trù phản ánh theo quan điểm của V.I.Lênin: Phản ánh là “quá trình và là
một trong các kết quả tác động của một hệ thống vật chất này (cái được phản
ánh) đến hệ thống vật chất khác (cái phản ánh), là sự tái hiện dưới hình thứ
c
khác các đặc điểm của hệ thống thứ nhất trong hệ thống thứ hai”
1

Nhìn chung, phản ánh là kết quả của mối liên hệ, tác động qua lại giữa
một hệ thống vật chất với một hay nhiều hệ thống vật chất khác. Nó nói lên
khả năng tiếp nhận thông tin, lưu giữ thông tin của hệ thống vật chất khác
trong quá trình tác động của hệ thống vật chất đó với hệ thống vật chất chịu sự
tác động.
Đặ
c điểm của phản ánh phụ thuộc vào mức độ tổ chức của vật chất trong
giới hữu cơ và vô cơ, trong thế giới động vật và trong môi trường xã hội,
trong các hệ thống có tổ chức đơn giản và các hệ thống có tổ chức cao.
1.1.2. Nguồn gốc của phản ánh
Như trên đã chỉ ra, theo quan điểm của V.I.Lênin, phản ánh là một thuộc
tính vốn có củ
a vật chất, nói đến nguồn gốc của phản ánh không thể không nói
đến vật chất. V.I.Lênin viết: “Chủ nghĩa duy vật, hoàn toàn nhất trí với khoa
học tự nhiên, coi vật chất là cái có trước, coi ý thức, tư duy, cảm giác là cái có
sau, vì cảm giác trong hình thái rõ rệt của nó, chỉ gắn liền với những hình thái
các yếu tố cấu thành nên nó là bình đẳng, tùy theo góc độ, mục đích của người
quan sát mà chúng ta quy ước hệ thống vật chất này là cái phản ánh và hệ
thống vật chất khác là cái được phản ánh. Khi hệ thống vật chất đóng vai trò
là cái phản ánh thì đồng thời nó cũng đóng vai trò chủ thể phản ánh. Khi hệ
th
ống vật chất đóng vai trò là cái được phản ánh thì đồng thời nó cũng đóng
vai trò khách thể phản ánh. Nhìn tổng quát, thế giới vật chất, về phương diện 1
V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, t.18, tr.43
2
sđd. tr.104

20
phản ánh, vừa thể hiện với tư cách là chủ thể phản ánh, vừa thể hiện với tư
cách là khách thể phản ánh.
1.1.3. Mối quan hệ giữa phản ánh với sự vận động của vật chất.
Ăngghen viết:"Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là
một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính c
ố hữu của vật chất,
thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ
sự thay đổi vị trí đơn giản đến tư duy ….”
1

Theo quan điểm duy vật biện chứng, vận động của vật chất là tự thân vận
động; bởi vì tất cả các dạng vật chất đều là một kết cấu vật chất bao gồm các
yếu tố, các mặt, các quá trình liên hệ, tác động qua lại với nhau. Chính sự tác
động đó đã dẫn đến sự biến đổi nói chung, tức là vận động. Vận động là hình
thứ

độ tổ chức, kết cấu của vật chất phát triển từ thấp đến cao và thuộc tính phản
ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao với nhiều hình thái khác nhau.
a. Các hình thái phản ánh cơ bản có thể được phân loại như sau
+ Hình thái phả
n ánh vật lý: là hình thái phản ánh đơn giản nhất ở giới
vô sinh, thể hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý của hệ thống phản ánh khi
tiếp nhận tác động, thông tin của hệ thống được phản ánh.
+ Hình thái phản ánh hóa học: là hình thái phản ánh được sinh ra nhờ tác
động qua lại giữa các nguyên tử của hệ thống phản ánh và hệ thống được phản
ánh. Hình thái phản ánh hóa học trong quá trình phát triển của thế giới v
ật
chất từ dạng vô cơ lên dạng hữu cơ cho ta hai hình thái phản ánh hóa học khác
nhau: hình thái phản ánh hóa học vô cơ và hình thái phản ánh hóa học hữu cơ.
+ Hình thái phản ánh sinh học: là hình thái phản ánh của các cơ thể sống
trong quá trình tác động lẫn nhau giữa cơ thể sống với môi trường, thể hiện
thông qua quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường. Hình thái
phản ánh sinh học trong giới hữu sinh cũng có nhiều hình th
ức khác nhau ứng
với mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật:
+ Hình thái phản ánh tâm lý: là hình thái phản ánh của các cơ thể sống, ở
trình độ cao hơn trình độ phản ánh sinh học, được hình thành trong quá trình
tác động qua lại lẫn nhau giữa cơ thể sống và môi trường, gắn liền và được thể
hiện thông qua các cảm xúc chủ quan (vui, buồn, đau khổ, sung sướng v.v )
của hệ thống phản ánh dưới tác
động của hệ thống vật chất được phản ánh.

22
Khác với các động vật bậc thấp, trong quá trình hoạt động sống, các động
vật bậc cao không những biết phản ánh những tác động bên ngoài một cách
tích cực, phân biệt được những tác động có lợi hoặc có hại cho sự tồn tại và

nhận thức thần bí, siêu lý tính, không dung hợp với lôgic và lịch sử, chủ nghĩa
duy vật biện chứng đã giải thích một cách khoa học bản chất của trực giác.
Trực giác có những tính chất như bỗng nhiên (bất ngờ), tính trực tiếp và
tính không ý thức được. Tuy nhiên, tính bỗng nhiên, bất ngờ của trực giác
không có nghĩa nó không dựa gì trên tri thức trước đó mà nó dựa trên những
kinh nghiệm, những hiểu biế
t được tích lũy từ trước. Trực giác là tri thức trực
tiếp song có liên hệ với tri thức gián tiếp. Trực giác được môi giới bởi toàn bộ
thực tiễn và nhận thức có trước của con người, bởi kinh nghiệm của quá khứ.
Tính không ý thức được của trực giác không có nghĩa nó đối lập với ý thức,
với những qui luật hoạt động của lôgic. Trực giác là kết quả của hoạt
động
trước đó của ý thức; có thể coi trực giác như một hành vi lôgic (trực giác trí
tuệ) mà ở đó có nhiều khâu lập luận, nhiều tiền đề đã được giản lược. Trực
giác là kết quả của sự dồn nén trí tuệ và tri thức dẫn đến sự “bùng nổ”‚ bằng
nhiều thao tác tư duy phát triển ở trình độ khác nhau. Trực giác là sản phẩm
của tài năng và sự say mê, sự kiên trì lao
động khoa học một cách nghiêm túc.
Vì vậy, trong nhận thức khoa học, trực giác có vai trò hết sức to lớn, thể hiện
tính sáng tạo cao. Trong lịch sử khoa học, nhiều phát minh khoa học đã ra đời
bằng con đường nhận thức trực giác.
Khái niệm trực giác này lại là phạm trù trung tâm trong triết học của
Bergson (Henri Bergson 1859-1941). Trong triết học của mình ông gạt bỏ chủ
nghĩa duy vật, đoạn tuyệt với lý tính và tư duy lôgic khi ông cho rằng: trí tu

và khoa học không hiểu được hiện thực. Chúng chỉ là những công cụ thực
dụng của con người sử dụng để tồn tại vật chất. Chỉ có trực giác (intuition)
mới nắm được những hiện tượng luôn luôn chuyển biến của sự sống và ý thức.
Ở Bergson trực giác được hiểu là một sự hiểu thấu trực tiếp, bí ẩn mà trong
đó hành vi nhận thức trùng hợp v

tinh thần của con người, nó tồn tại trong mối tương quan với lĩnh vực vật
chất . Lĩnh vực tinh thần c
ủa con người là rộng lớn và còn thật nhiều bí ẩn mà 1
Còn Spinoza cho rằng vạn vật có linh hồn nhưng linh hồn ở Spinoza không phải là một sự thần bí.Ông theo
Vật hoạt luận (hylozoism) –(cái này khác với Hoạt lực luận). Thuyết này cho rằng sự sống và tính cảm giác
là vốn sẵn có của mọi sự vật trong tự nhiên. Thuyết này gán cho mọi hình thức của vật chất đều có khả
năng cảm giác và tư duy. Thực ra cảm giác là đặc tính chỉ có
ở vật chất hữu cơ đã phát triển cao). Các đại
biểu: Thales, Anaxagortas, J.Toland, Spinoza, Diderot. Marx đánh giá đây là biểu hiện chưa hoàn chỉnh của
chủ nghĩa duy vật có tính nhân hình hóa (anthropomorphisme)(một quan niệm gán cho các vật và các lực
lượng tự nhiên những thuộc tính và khả năng riêng biệt của con người. Đây cũng là một đặc điểm của tôn
giáo – con người dựa vào đặc điểm của bản thân mà tạo ra th
ần thánh. Trong quá trình phát triển của tri thức
có những quan niệm nhân hình hóa xuất hiện ngay trong khoa học; nhân hình hóa cũng liên quan đến chủ
nghĩa duy linh; xem them Feuerbach)

Trích đoạn Cơ sở của phản ỏnh ý thức Từ điển triết học, tr Breton Philippe & Proulx Serge (1996), Bựng nổ truyền thụn g sự ra đời một ý thức hệ mới, NXB Văn hoỏ thụng Phản ỏnh, thụng tin và sự sỏng tạo Khỏi niệm “đời sống tinh thần”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status