Đánh giá nhận thức, thái độ của Sinh viên Điều dường về công tác thu gom, phân loại chất thải y tế - Pdf 50

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ quan trọng
của ngành Y tế. Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm
sóc sức khỏe của nhân dân, hệ thống các cơ sở y tế đã không ngừng được tăng
cường, mở rộng và hoàn thiện. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, hệ thống y
tế đặc biệt là các Bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải bỏ
Chất thải tại các bệnh viện là những chất thải ra trong quá trình điều trị, chẩn
đoán, chăm sóc và sinh hoạt trong môi trường bệnh viện. Chất thải bệnh viện
bao gồm: Chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lây nhiễm, chất thải
thông thường [1].
Theo WHO, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất
thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chất
gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều
trị [3], đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm
bệnh từ bệnh viện tới các vùng xung quanh, dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng
bệnh viện và tăng tỷ lệ bệnh tật đối với cộng đồng dân cư sống trong vùng tiếp
giáp. Do đó, vấn đề xử lý chất thải y tế (CTYT) tại các bệnh viện luôn là vấn đề
quan tâm của toàn xã hội
Bộ Y Tế đã ban hành nhiều quy định về: Phân loại, thu gom và xử lý CTYT
như: Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ
trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế… và gần đây là
Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT – BYT – BTN&MT Quy định về việc phân
loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTYT.
Để thực hiện tốt những quy định này, Trường Cao đẳng y tế Thái Nguyên
cũng đã và đang giảng dạy cho sinh viên cách phân loại, thu gom và xử lý
CTYT để các em có kiến thức và thái độ đúng đắn với công tác phân loại, thu
gom và xử lý CTYT khi đi thực hành chăm sóc người bệnh tại bệnh viện. Tuy
vậy, để đánh giá kiến thức, thái độ của sinh viên Điều dưỡng tại Trường CĐYTTN về vấn đề này trong thời gian qua vẫn chưa có điều tra nào
1



- Thu gom chất thải tại nơi phát sinh: Là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói
và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế.
- Vận chuyển chất thải: Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới
nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy.
- Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy
cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ
hoặc tiêu hủy.
1.1.2. Phân loại chất thải y tế
Theo Thông tư 58/2015/TTLT-BYT-BTN&MT ngày 31/12/2015 của Bộ Y
tế và Bộ TN&MT: Chất thải y tế được phân loại như sau:
1.1.2.1. Chất thải lây nhiễm bao gồm:
a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết
cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của
3


dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh; cưa dùng trong
phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác
b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa
máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ
đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các
phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định
số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại
phòng xét nghiệm
d) Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác
động vật thí nghiệm.
1.1.2.2. Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
a) Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;

loại và thu gom chất thải.
 Bao bì, dụng cụ lưu chứa chất thải y tế:

a) Bảo đảm lưu chứa an toàn chất thải, có khả năng chống thấm và có kích
thước phù hợp với lượng chất thải lưu chứa.
b) Màu sắc của bao bì, dụng cụ lưu chứa CTYT quy định như sau:
- Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ lưu chứa chất thải lây nhiễm;
- Màu đen đối với bao bì, dụng cụ lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm
- Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT thông thường
- Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế.

 Phân loại CTYT tương ứng với màu sắc bao bì, dụng cụ lưu chứa CTYT:

a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;
5


b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có
lót túi và có màu vàng;
c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có
lót túi và có màu vàng;
d) Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và có
màu vàng;
đ) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong
thùng có lót túi và có màu đen;
e) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ
có nắp đậy kín;
g) CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi
hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh;
h) CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong

gom riêng.
1.1.4. Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm:
a) Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chất
thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường.
Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C,
thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày. Đối với cơ sở y tế có lượng chất thải lây
nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, thời gian lưu giữ không quá 03 ngày trong
điều kiện bình thường và phải được lưu giữ trong các bao bì được buộc kín hoặc
thiết bị lưu chứa được đậy nắp kín;
b) Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ cơ sở y tế khác về để xử
lý theo mô hình cụm hoặc mô hình tập trung, phải ưu tiên xử lý trong ngày.
Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở nhiệt độ dưới 20°C và
thời gian lưu giữ tối đa không quá 02 ngày.
1.1.5. Tác hại của chất thải y tế
1.1.5.1. Đối với môi trường
 Môi trường đất: Chất thải y tế được xử lý không đúng cách trước khi thải bỏ vào

môi trường thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngấm sâu vào
môi trường đất gây nhiễm độc, nhiễm mầm bệnh cho môi trường đất
 Môi trường không khí: Từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng, CTYT
đều gây tác động xấu tới môi trường không khí. Nếu không được thu gom, quản
7


lý đúng quy cách, chúng có thể phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi
dung môi, hóa chất… vào không khí. Ở khâu xử lý sẽ phát sinh những khí độc
hại như dioxin, fluran... từ lò đốt hoặc CH 4, NH3, H2S…từ bãi chôn lấp. Các khí
này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của
cộng đồng dân cư xung quanh.
 Môi trường nước: Nước thải từ các cơ sở y tế bao gồm nước thải sinh hoạt và

Phân và chất nôn
Nước bọt, chất tiết
đường hô hấp
Chất tiết ở mắt

8


Các dạng nhiễm khuẩn

Một số tác nhân gây bệnh

Chất truyền bệnh

Nhiễm khuẩn da

Tụ cầu

Mủ

Bệnh than

Trực khuẩn than

Chất tiết qua da

Bệnh suy giảm miễn dịch

HIV


của các biện pháp xử lý chất thải,...), tác hại của CTYT đối với môi trường, biện
pháp giảm thiểu tác hại của CTYT và phòng chống tác hại của CTYT đối với
sức khỏe cộng đồng[6].
1.2.1.1. Tình hình phát sinh chất thải y tế
Chất thải y tế phát sinh thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và phụ
thuộc vào yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện,
lượng người bệnh khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực,
9


phương pháp, thói quen của nhân viên y tế trong việc khám điều trị, chăm sóc,
số lượng người nhà được phép đến thăm
Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng CTYT thay đổi theo từng khu vực
địa lý, theo mùa và theo mức thu nhập của quốc gia. Các nước có thu nhập cao
thì lượng CTYT phát sinh trên đầu người cũng gia tăng, trung bình 0,4 - 5,5kg
/đầu người. Đồng thời lượng CTYT phát sinh cũng thay đổi tùy theo từng loại
hình bệnh viện[7].
1.2.1.2. Công tác phân loại chất thải y tế
Ở các nước phát triển, CTYT phân thành các loại như sau: Chất thải không
độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại);
chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm
khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hóa học và dược phẩm
(không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải
phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao[6]
1.2.1.3. Thu gom và lưu giữ chất thải y tế
Theo WHO, có 18 – 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng
cách. Tại các cơ sở y tế có khoảng 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn
thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT. Tổn thương này cũng là
phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất với nhân viên y tế, chủ yếu là do dùng
hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn [6].

Theo nghiên cứu của Cục Quản lý khám chữa bệnh năm 2009 – 2010, lượng
CTYT phát sinh trung bình 100-140 tấn/ngày (0,86kg/giường/ngày), trong đó có
16-30 tấn thuộc chất thải nguy hại
1.2.2.2. Công tác phân loại chất thải y tế
Chất thải y tế phát sinh ở bệnh viện được phân loại ngay tại nguồn chiếm
(81,25%) nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả. Việc phân loại
chưa theo chuẩn mực như: Chưa tách vật sắc nhọn ra khỏi CTYT, còn lẫn nhiều
chất thải sinh hoạt vào CTYT và ngược lại. Còn nhiều Bệnh viện chưa thu gom
vật sắc nhọn vào các hộp đựng theo đứng tiêu chuẩn qui định, đa số các bệnh
viện (88,6%) thường đựng vào các vật tự tạo như chai truyền dịch, chai nhựa
đựng nước khoáng... [7]
1.2.2.3. Thu gom và lưu giữ chất thải y tế
Theo kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh
11


Môi trường và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương (2007-2009) thì mức
độ phân loại, thu gom chất thải trong các bệnh viện chiếm 95,6% trong đó
91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn. [3]
Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ,
còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường
được đưa vào CTYT nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý; có 63,6% sử dụng
túi nhựa làm bằng nhựa PE, pp; chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo
đúng quy chế; hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTYT được thu gom hàng
ngày[3].

12


CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tác hại của CTYT đối với môi trường
Thái độ của sinh viên Điều dưỡng về công tác thu gom, phân loại và xử lý

CTYT được đánh giá thông qua các nội dung:
 Thái độ của sinh viên về ý nghĩa của công tác phân loại, thu gom và xử lý CTYT
 Mức độ quan tâm của sinh viên đến công tác phân loại, thu gom và xử lý CTYT
 Thái độ của sinh viên đối với học tập về công tác phân loại, thu gom và xử lý
CTYT
2.6. Phương pháp thu thập số liệu:
Bộ câu hỏi thu thập số liệu được xây dựng dựa trên Thông tư liên tịch số
58/2015/TTLT-BYT-BTN&MT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ TN&MT
quy định về quản lý CTYT
Thu thập số liệu: Sử dụng bộ câu hỏi tự điền nhằm tìm hiểu: Nhận thức của
sinh viên về phân loại, thu gom và xử lý CTYT; sự nhận thức về tác hại của
CTYT đối với con người và môi trường của sinh viên; thái độ của sinh viên đối
với công tác quản lý CTYT

13


2.7. Phương pháp xử lý số liệu:
Các thông tin sẽ được mã hóa, làm sạch trước khi nhập số liệu bằng phần
mềm Epidata 3.1.
Số liệu được phân tích dựa trên phần mềm SPSS 18.0, chủ yếu các phân tích
đưa ra là các tần số về tỷ lệ phần trăm

14


CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


92,2

22

7,8

281

100

247

87,9

34

12,1

281

100

255

90,7

26

9,3

~90%. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên hiểu biết về các hoạt động quản lý CTYT còn
khiêm tốn, chỉ chiếm 77,6% .
Bảng 2. Nhận thức của sinh viên về phân loại chất thải y tế
Đúng

Nội dung

Sai

Tổng

n

%

n

%

n

%

Số nhóm CTYT

241

85,8

40


281

100

15


Nhận xét: Sinh viên biết đúng, đủ số nhóm CTYT và tên các nhóm CTYT
chiếm: 85,8%, biết đúng về thời điểm phân loại CTYT chiếm tỷ lệ: 91,1%
Bảng 3. Nhận thức của sinh viên về phân loại chất thải y tế với mã màu sắc
của bao bì đựng chất thải y tế tương ứng
Nội dung

Đúng

Sai

Tổng

n

%

n

%

n


Màu xanh đựng chất thải thông thường

268

95,4

13

4,6

281

100

Màu trắng đựng chất thải tái chế

262

93,2

19

6,8

281

100

Nhận xét: Đa số sinh viên nhận thức được các mã màu sắc bao bì đựng
CTYT tương ứng với từng loại chất thải. Tuy nhiên mã bao bì màu đen đựng

23,8

281

100

Số lượng CTYT trong túi cần thu gom

209

74,4

72

25,6

281

100

Xử lý ban đầu trước thu gom

173

61,6

108

38,4


133

47,3

148

52,7

Nhân viên y tế

201

71,5

80

28,5

Nhân viên thu gom CTYT

251

89,3

30

10,7

Người dân xung quanh bệnh viện


91,5

24

8,5

Phát sinh côn trùng truyền bệnh

178

63,3

103

36,7

Gây chấn thương do vật sắc nhọn

186

66,2

95

33,8

Gây ung thư, nhiễm độc

215



248

88,3

Quan trọng

33

11,7

Không quan trọng

0

0

281

100

Tổng

Nhận xét: Có 88,3% sinh viên cho rằng công tác phân loại, thu gom và xử lý
CTYT có ý nghĩa của rất quan trọng, không có sinh viên nào cho rằng công tác
phân loại, thu gom và xử lý CTYT không quan trọng
Bảng 8. Mức độ quan tâm của sinh viên đến công tác phân loại, thu gom và
xử lý CTYT
Mức độ quan tâm của sinh viên


Bảng 9. Thái độ của sinh viên đối với học tập về công tác phân loại, thu gom
và xử lý CTYT
Thái độ của sinh viên

n

%

Tích cực

259

92,2

Thỉnh thoảng

22

7,8

Không tham gia

0

0

281

100


chiếm tỷ lệ 91,1%. Điều này phù hợp với công việc hàng ngày khi tham gia thực
hành chăm sóc người bệnh của sinh viên luôn làm phát sinh chất thải.
Việc nắm rõ các nhóm chất thải và thời điểm phân loại CTYT giúp cho việc
phân loại tốt hơn, hạn chế sự nhầm lẫn góp phần làm giảm lượng chất thải phát sinh
 Nhận thức của sinh viên về phân loại CTYT với mã màu sắc của bao bì đựng

CTYT tương ứng
Mỗi nhóm chất thải phải bỏ vào bao bì, thùng đựng chất thải phù hợp. Do
thực tế phân loại tại nguồn là công việc hàng ngày được lặp đi lặp lại nhiều lần
khi chăm sóc người bệnh. Bên cạnh đó, sinh viên cũng thường xuyên được các
nhân viên y tế hướng dẫn phân loại CTYT khi tham gia thực hành chăm sóc
người bệnh tại bệnh viện nên sinh viên trả lời đúng về cách phân loại chất thải
với mã màu sắc dụng cụ đựng chất thải tương ứng chiếm tỷ lệ rất cao, đều đạt từ
95 – 97%.
20


Riêng mã màu đen đựng chất thải phóng xạ và hóa học nguy hại chỉ có
82,2% sinh viên nắm được. Điều này cũng phù hợp với tình hình tại các khoa
lâm sàng mà sinh viên đi thực tập không có phát sinh chất thải phóng xạ, nên
việc sử dụng túi và thùng màu đen rất hạn chế.
 Nhận thức của sinh viên về thu gom CTYT

Qua bảng 4 chúng tôi thấy: Chỉ có 76,2% sinh viên trả lời đúng về tần suất
thu gom CTYT, 74,4% trả lời đúng về số lượng chất thải trong túi cần thu gom
và 61,6% trả lời đúng về việc cần phải xử lý sơ bộ chất thải có nguy cơ lây
nhiễm cao trước khi lưu giữ và tiêu hủy. Tình trạng sinh viên không nắm vững
quy trình thu gom CTYT là do thu gom chất thải là nhiệm vụ của nhân viên vệ
sinh, sinh viên không tham gia vào công việc thu gom CTYT nên không nhớ
được kiến thức về giới hạn cho phép thu gom của túi, thùng đựng chất thải cũng

Nhận thức của sinh viên về tác hại của CTYT đối với môi trường
CTYT được xử lý không đúng cách trước khi thải bỏ vào môi trường sẽ
mang những mầm bệnh, những vật dụng sắc nhọn, những hóa chất độc hại…
phát tán vào trong đất, nước và không khí làm cho môi trường bị ô nhiễm. Khi
môi trường bị ô nhiễm sẽ gây những ảnh hưởng xấu ngược lại tới sức khỏe của
những người tiếp xúc với CTYT như: Chấn thương, bệnh về da và đường hô
hấp, nặng hơn là mắc những bệnh truyền nhiễm, nhiễm độc, ung thư…
Từ kết quả ở bảng 6 chúng tôi thấy: Có 91,5% sinh viên ý thức được việc
không xử lý tốt CTYT trước khi thải bỏ vào môi trường sẽ làm lan truyền bệnh
truyền nhiễm còn các yếu tố nguy cơ như: chấn thương do vật sắc nhọn, gây ung
thư, gây nhiễm độc và các bệnh về da, hô hấp… thì chỉ có trên dưới 70% sinh
viên ý thức được. Điều này cũng phù hợp với tình hình tại các khoa lâm sàng mà
sinh viên đi thực tập chủ yếu là phát sinh chất thải lây nhiễm, không có phát sinh
chất thải phóng xạ, hóa chất độc hại… nên sinh viên chưa ý thức được các yếu
tố nguy cơ gây các bệnh về da, hô hấp, ung thư, nhiễm độc…
4.3. Thái độ của sinh viên trong công tác phân loại, thu gom và xử lý CTYT
Chất thải y tế là vấn đề rất quan trọng trong hoạt động của bệnh viện, ngoài
kiến thức về CTYT, thì thái độ của sinh viên về công tác phân loại, thu gom và
xử lý CTYT cũng hết sức quan trọng.
Từ kết quả ở bảng 7, 8 và 9 cho thấy: Có 100% sinh viên cho rằng công tác
phân loại, thu gom và xử lý CTYT có ý nghĩa từ quan trọng đế rất quan trọng;
95,7% sinh viên quan tâm đến công tác phân loại, thu gom và xử lý CTYT và
92,2% sinh viên tích cực học tập về công tác phân loại, thu gom và xử lý CTYT
22


Đây là tín hiệu rất đáng mừng, khi sinh viên có thái độ đúng với công tác
phân loại, thu gom và xử lý CTYT thì họ sẽ tích cực học tập, tìm hiểu nhằm
nâng cao kiến thức về phân loại, thu gom và xử lý CTYT và có thái độ đúng đắn
trong việc thực hành phân loại rác tại nơi phát sinh, tích cực nhắc nhở người

chuyển CTYT
71,5% sinh viên cho rằng CTYT có tác hại đối với cán bộ y tế
47,3% sinh viên cho rằng CTYT có tác hại đối với người bệnh
42,7% sinh viên cho rằng CTYT có tác hại đối với cộng đồng dân cư
Nhận thức của sinh viên về tác hại của CTYT đối với môi trường
Có 91,5% sinh viên cho rằng sẽ làm lan truyền bệnh truyền nhiễm
63,3% sinh viên cho rằng sẽ phát sinh côn trùng truyền bệnh
66,2% sinh viên cho rằng sẽ gây chấn thương do vật sắc nhọn
76,5% sinh viên cho rằng sẽ gây ung thư, nhiễm độc

24


-

75,8% sinh viên cho rằng sẽ gây bệnh về da và đường hô hấp
5.3. Thái độ của sinh viên trong công tác phân loại, thu gom và xử lý chất
thải y tế

-

100% sinh viên cho rằng công tác phân loại, thu gom và xử lý CTYT có ý nghĩa

từ quan trọng đến rất quan trọng
- 95,7% sinh viên có thái độ quan tâm và rất quan tâm đến công tác phân loại, thu
gom và xử lý CTYT
- 92,2% sinh viên có thái độ tích cực và rất tích cực với việc học tập về công tác
phân loại, thu gom và xử lý CTYT

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status