Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ hiện hành - Pdf 50

Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005
(sửa đổi, bổ sung 2009).
A.

Mở đầu.
Trong khi lượng hàng hóa, dịch vụ đang ngày càng gia tăng về cả chủng loại

và chất lượng thì nhãn hiệu ngày càng đóng một vai trò quan trọng. Nhãn hiệu
giúp phân biệt hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt những nhãn hiêu này đã khi trở nên nổi
tiếng, đem lại những lợi thế rất lớn cho các cá nhân tổ chức trong quá trình kinh
doanh. Những nhãn hiệu nổi tiếng này có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của đất
nước, vì vậy đòi hỏi phải có cơ chế bảo hộ chặt chẽ và hành lang pháp lý rõ ràng để
có thể điều chỉnh về vấn đề này cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ thể trong sản xuất kinh doanh.

Nội dung.
I.
1.

Khái niệm cơ bản.
Khái niệm nhãn hiệu và nhãn hiệu nổi tiếng.
Với bối cảnh của nền kinh tế thị trường, nhãn hiệu ra đời và được coi là một

biện pháp pháp lý hữu hiệu chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhằm
bảo vệ uy tín cũng như quyền lợi hợp pháp cho mọi chủ thể trong sản xuất kinh
doanh. Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009 đã đưa ra khái niệm nhãn
hiệu như sau: “ Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các
tổ chức, cá nhân khác nhau”. Như vậy, nhãn hiệu thường là các dấu hiệu như một
từ, ngữ, hình ảnh, biểu tượng, logo hoặc sự kết hợp các yếu tố này được sử dụng
trên hàng hóa hoặc dịch vụ giúp phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá
nhân khác nhau, thông tin cho người tiêu dùng có thêm thông tin và chỉ dẫn nguồn

hiệu như các loại nhãn hiệu thông thường khác.
II.

Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005,

sửa dổi, bổ sung 2009.


1.

Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng.
Trong các văn bản pháp luật quốc tế như Công ước Paris, Hiệp định TRIPs chỉ

đặt ra vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng mà không quy định các tiêu chí cụ thể xác
định như thế nào là nhãn hiệu nổi tiếng. Việt Nam là thành viên của hai văn bản
trên nên có nghĩa vụ phải thiết lập một hành lang pháp lý rõ ràng và cụ thể để các
quy định của công ước, hiệp định có thể đi vào thực tiễn áp dụn. Các tiêu chí được
các cơ quan nhà nước xem xét khi tiến hành thủ tục công nhận một nhãn hiệu nổi
tiếng được quy định tại Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009.
Trên đây là những tiêu chí để được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu nổi
tiếng. Có thể khẳng định đây là một bước tiến trong việc quy định pháp luật về
nhãn hiệu nổi tiếng. Nhãn hiệu nổi tiếng khác với nhãn hiệu thông thường ở danh
tiếng của nhãn hiệu đó trong bộ phận công chúng có liên quan thông qua các hoạt
động quảng cáo của nhãn hiệu, thông qua số lượng và doanh số hàng hóa được bán
ra hay dịch vụ được cung cấp… Các quy định này là những quy định mở, dựa vào
các tiêu chí này, các tổ chức, cá nhân sẽ thu thập các chứng cứ liên quan đến quá
trình sử dụng của nhãn hiệu để yếu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem
xét, đánh giá.
2.


xét, công nhận một nhãn hiệu nổi tiếng khi có yêu cầu của các cá nhân, tổ chức là
chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng. Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam đã dành cho nhãn
hiệu nổi tiếng những cơ chế bảo hộ được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng đương nhiên có quyền đối với nhãn hiệu nổi
tiếng được bảo hộ mà không cần thủ tục đăng kí. Chủ sở hữu muốn nhãn hiệu của
mình được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng thì phải cần chuẩn bị các tài liệu để
chứng minh quyền sở hữu của mình đối với nhãn hiệu và chứng minh nhãn hiệu
đáp ứng các điều kiện để được coi là nổi tiếng theo quy định của pháp luật, cụ thể
là điểm 42.3 Mục 42 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN.


Như vậy, căn cứ vào thực tiễn sử dụng nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu có
quyền cung cấp các tài liệu chứng minh nhãn hiệu đáp ứng các điều kiện để được
công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng. Tòa án hoặc Cục sở hữu trí tuệ sẽ căn cứ vào các
tài liệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cung cấp và thực tiễn sử dụng nhãn hiệu ra quyết
định công nhận một nhãn hiệu là nhãn hiệu nổi tiếng và ghi nhận vào Danh mục
nhãn hiệu nổi tiếng được lưu giữ tại Cục Sở hữu trí tuệ.
3.

Thời hạn bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng.
Pháp luật dành cho những nhãn hiệu nổi tiếng một ưu đãi đặc biệt: quyền sở

hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ vô thời hạn tính từ ngày
nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng ghi trong quyết định công nhận
nhãn hiệu nổi tiếng. Đây là một trong những sự khác biệt của nhãn hiệu nổi tiếng so
với nhãn hiệu thông thường đó là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực
từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, chủ sở hữu có thể đăng ký gia
hạn nhiều lần liên tiếp và mỗi lần là mười năm. Nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ vô
thời hạn và chỉ cần công nhận một lần mà không cần phải đăng ký nhiều lần. Chỉ
khi nhãn hiệu không còn nổi tiếng nữa, hay nói cách khác là khi các tiêu chí làm

tiếng nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá,
dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh
sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
Như vậy, mọi hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi
tiếng cho hàng hóa hoặc dịch vụ bất kỳ, dịch vụ không cùng loại, không tương tự,
không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang
nhãn hiệu nổi tiếng đều bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu nổi tiếng theo điểm d khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ
sung 2009. Chủ nhãn hiệu nổi tiếng có quyền phản đối việc đăng ký hoặc yêu cầu
hủy bỏ hiệu lực các Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với các nhãn hiệu
trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng của mình, kể cả trong
trường hợp nhãn hiệu đăng ký cho các hàng hóa, dịch vụ không trùng hoặc không
tương tự. Ví dụ, một công ty sản xuất đồ chơi cho trẻ em và có đăng kí nhãn hiệu là


CocaCola. Tuy rằng sản phẩm của công ty này không phải là sản phẩm trùng hoặc
tương tự gây nhầm lẫn với những sản phẩm đồ uống của CocaCola nhưng
CocaCola là nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng nên CocaCola có
quyền ngăn cản công ty sử dụng nhãn hiệu này do có thể là giảm khả năng phân
biệt của CocaCola hoặc lợi dụng uy tín của CocaCola để đăng kí nhãn hiệu và sản
xuất sản phẩm.
III.

Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam hiện nay.

1.

Mặt tích cực thực hiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam
Luật Sở hữu trí tuệ ra đời cùng với các văn bản pháp luật khác đã tạo thành


sung 2009 quy định: “ Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết
đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”. Tuy nhiên, tại Điều 75 Luật Sở hữu trí
tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009 lại đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá nhãn hiệu nổi
tiếng, trong đó có quy định “số lượng các quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi
tiếng”, tức là nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam phải là nhãn hiệu được công nhận nổi
tiếng trên nhiều quốc gia và đáp ứng được điều kiện phổ biến rộng rãi trên lãnh thổ
Việt Nam. Như vậy, giữa hai quy định này còn có sự không thống nhất về tiêu chí
đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng. Điều này gây ra hiều khó khăn cho các cơ quan chức
năng khi xác định nhãn iệu nổi tiếng và quyền của chủ sở hữu các nhãn hiệu nổi
tiếng cũng khó có thể được bảo vệ.
Thứ hai, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, nhãn hiệu nổi tiếng
được bảo hộ tại Việt Nam không cần qua đăng kí, tính nổi tiếng của nhãn hiệu chủ
yếu phụ thuộc vào quá trình tự chứng minh của các chủ thể và khi xảy ra tranh
chấp, hoạt động công nhận và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng mới được thực hiện. Quy
định này khiến công tác chứng minh nhãn hiệu nổi tiếng mất nhiều thời gian, tiền
của, rất khó khăn; từ đó kéo theo việc quyền lợi của chủ sở hữu những nhãn hiệu
này bị xâm hại sẽ không được bảo vệ một cách kịp thời.
Thứ ba, về công tác thực thi pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng; cho đến
thời điểm này, Việt Nam chưa cấp giấy chứng nhận cho bất kì một nhãn hiệu nào là
nhãn hiệu nổi tiếng. Thực tế các nhãn hiệu như CocaCola, Honda, Samsung hay
Nokia... chỉ đăng kí và được cấp giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hàng hóa ở
Việt Nam; cụ thể, CocaCola được cấp giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hàng hóa


số 7114 và 7119 ngày 26/02/1992 và số 15868 năm 1995;... tuy nhiên, đây chỉ là
giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu thông thường mà không phải là chứng nhận
nhãn hiệu nổi tiếng. Điều này được giải thích bởi theo quy định của Luật Sở hữu trí
tuệ 2005, nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ với cơ chế tự động, đồng thời do mâu
thuẫn trong các quy định tại khoản 20 Điều 4 và Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ 2005
cũng cho thấy rất khó để chứng minh đâu là nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam.

Trước hết, cần có quy định hướng dẫn áp dụng thống nhất qui định tại khoản
20 Điều 4 và tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ
2005. Chúng ta nên chia mức độ nổi tiếng của các nhãn hiệu thành các cấp độ khác
nhau và tương ứng với đó là những biện pháp, cấp độ bảo hộ khác nhau được áp
dụng. Bởi vì trong thực tế thường những nhãn hiệu vô cùng nổi tiếng như
CocaCola, Microsoft, Sony, Toyota…thì đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí tại Điều 75
Luật Sở hữu trí tuệ và được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Tuy nhiên có
những nhãn hiệu chỉ đáp ứng được một vài trong số những tiêu chí đó nhưng cũng
là nổi tiếng ở nhiều quốc gia mặc dù không phải cả thế giới đều biết đến nó. Khi
phân ra các cấp độ khác nhau sẽ đảm bảo khả năng áp dụng của các quy định pháp
luật đã được ban hành và tạo sự công bằng cho các nhãn hiệu. Một vấn đề nữa là
cần xác định các tiêu chí thế nào là nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia, thế nào là nhãn
hiệu nổi tiếng thế giới và cấp độ bảo hộ ra sao. Như vậy sẽ đảm bảo quyền lợi cho
các chủ thể một cách toàn diện hơn, bởi các nhãn hiệu được biết đến rộng rãi ở Việt
Nam nhưng lại chưa đáp ứng đủ các tiêu chí để được đánh giá là nhãn hiệu nổi
tiếng thế giới, nên khi xảy ra tranh chấp quyền lợi sẽ được bảo hộ ở cấp độ khác mà
không phải nhãn hiệu nổi tiếng.
Hai là, để tránh tranh chấp phát sinh khi cùng một nhãn hiệu mà quốc gia này
công nhận là nổi tiếng còn quốc gia khác lại không, nên lập danh mục các nhãn
hiệu nổi tiếng và được bổ sung hàng năm như một số nước trên thế giới đã xây
dựng. Thủ tục lập các danh mục này có thể là do các chủ sở hữu đăng kí tại Cục Sở


hữu trí tuệ hoặc giao cho các Hiệp hội về công thương nghiệp, dịch vụ thành lập
ban thẩm định. Hơn nữa danh mục các nhãn hiệu nổi tiếng cũng là một văn bản cần
thiết mà Việt Nam nên xem xét ban hành để tiện quản lý và tránh tình trạng đã cấp
văn bằng bảo hộ cho các nhãn hiệu vi phạm rồi mới phát hiện ra nó gây nhầm lẫn
với nhãn hiệu nổi tiếng. Mặt khác, danh sách này cần được thừa nhận trong nội bộ
các quốc gia thành viên WTO hay Công ước Paris.
Ba là, để ngăn chặn việc đăng kí tên miền trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu

các lớp tập huấn hoặc cử cán bộ đi nghiên cứu, học tập tại các nước có nền pháp
luật về sở hữu trí tuệ phát triển là điều rất cần thiết.
Sáu là, thiết lập và áp dụng mạnh tay hơn nữa các biện pháp bảo vệ nhãn hiệu
nổi tiếng. Hiện nay vẫn chủ yếu áp dụng các biện pháp hành chính để xử lý vi
phạm. Tuy nhiên mức phạt tiền còn thấp, chưa đủ tính răn đe cũng như so sánh với
lợi nhuận có được từ hành vi xâm phạm thì chỉ bằng một phần rất nhỏ nên các đối
tượng vẫn mặc nhiên xâm phạm. Đẩy mạnh việc áp dụng đa dạng các biện pháp
dân sự, hình sự, cũng như biện pháp kiểm soát biên giới, tịch thu tang vật… để
ngăn chặn và xử lí kịp thời hành vi xâm phạm. Có như vậy khả năng giáo dục,
thuyết phục và ngăn chặn hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng mới hiệu quả.
B.

Kết luận.
Qua quá trình tìm hiểu thì nói chung chúng ta đã có những bước tiến lớn trong

việc xây dựng nên một hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, cũng đã đáp ứng được
một phần nào đó nhu cầu của Việt Nam trong việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng hiện
nay. Tuy nhiên, cơ chế bảo hộ của nhãn hiệu nổi tiếng của Việt Nam vẫn còn nhiều
điểm hạn chế, thiếu xót cũng như còn nhiều điểm vẫn chưa rõ ràng. Nhìn ở một góc
độ nào đó thì chúng ta vẫn còn phải học hỏi rất nhiều về các quy định trong lĩnh
vực này của các nước đang phát triển và rồi vận dụng một cách phù hợp với kinh tế
xã hội nước ta. Vì vậy việc tham khảo các thành tựu quốc tế là rất cần thiết.


Dưới góc nhìn của một sinh viên luật năm ba trước một vấn đề mới mẻ có thể
không tránh nổi thiếu sót. Chính vì vậy chúng em rất mong sự đánh giá và góp ý
của thầy, cô giáo sau khi đọc bài tiểu luận này. Em xin chân thành cảm ơn!

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status