Quyền của người biểu diễn theo quy định của luật sở hữu trí tuệ 2005 và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật - Pdf 33

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

BÀI TẬP CÁ NHÂN
LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Đề tài: Quyền của người biểu diễn theo quy định của Luật sở hữu trí
tuệ 2005 và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật.

Họ và tên: Phan Quốc Nghiệp
Lớp: K1B
Mã số sinh viên: 1353801010057

Hà Nội, 2015
1


2


MỞ ĐẦU
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005
và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 07 năm 2006, là luật quy định về quyền tác
giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối
với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó.
Trước một thực trạng, ngày nay số lượng ca sĩ, diễn viên… (gọi chung là
người biểu diễn) ngày càng nhiều và nhiều người trong số họ đang bị xâm
phạm đến tác phẩm biểu diễn của mình. Những tác phẩm đó bị sửa đổi, biến
tấu gây ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của mình mà thực tế những người
biểu diễn này không am hiểu đến quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm.
Vậy xuất phát từ những thực trạng đó nên tôi đã quyết định chọn đề tài:

diễn cùng tham gia như một bộ phim, một vở kịch hay một buổi biểu diễn ca
nhạc lớn. Để thực hiện một cuộc biểu diễn lớn như vậy thường cần có sự hợp
tác của rất nhiều người nhưng chỉ những người trực tiếp trình diễn, thể hiện
tác phẩm mới được coi là người biểu diễn và về nguyên tắc họ là chủ sở hữu
quyền đầu tiên đối với cuộc biểu diễn.
Những ai được coi là người biểu diễn được quy định rõ tại điều 3 (a)
Công ước quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức
phát sóng (Công ước Rome): “Người biểu diễn là các diễn viên, ca sĩ, nhạc

4


công, vũ công và các người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày hoặc biểu
diễn khác các tác phẩm văn học, nghệ thuật”1
Trong Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (Hiệp ước WPPT)
năm 1996, khái niệm người biểu diễn được quy định như sau :"Người biểu
diễn" là diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công, và những người khác nhập vai,
hát, đọc, ngâm, thể hiện, diễn xuất hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học
hoặc nghệ thuật hoặc những thể hiện tác phẩm văn học dân gian. 2
Giống như mọi khái niệm pháp lý, khái niệm người biểu diễn không chỉ
biến đổi theo thời gian mà còn có những khác biệt theo phạm vi lãnh thổ.
Pháp luật các nước tuỳ thuộc điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và kỹ năng lập
pháp đã có những điều chỉnh trong việc đưa ra khái niệm người biểu diễn và
cuộc biểu diễn, cũng như điều kiện để được bảo hộ quyền của người biểu diễn.
Trên cơ sở khái niệm người biểu diễn của Công ước Rome, Điều 16 Luật Sở
hữu trí tuệ Việt Nam liệt kê các tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan
theo pháp luật Việt Nam, trong đó quy định trực tiếp người biểu diễn gồm:
“diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm
văn học, nghệ thuật”.3
1.2.

Có lẽ bất cứ ai cũng có thể nhận ra người biểu diễn đã đóng góp không
nhỏ sức sáng tạo trong quá trình biểu diễn các tác phẩm, vì vậy các công ước
quốc tế cũng như luật pháp các quốc gia đã thừa nhận và bảo hộ quyền của
người biểu diễn. Trong đó, pháp luật Việt Nam cũng có quy định về việc này.
Nó được quy định cụ thể trong Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009.
Thực tế, người biểu diễn trình diễn tác phẩm và đưa tác phẩm đến với
công chúng được bảo hộ một cách đúng đắn. Nhưng việc người biểu diễn chỉ
thể hiện và chuyển tải tác phẩm đến với công chúng dựa trên tác phẩm văn
học nghệ thuật đã có trước. Vì vậy theo tôi, người biểu diễn chỉ đơn thuần
trình diễn lại tác phẩm, mức độ sáng tạo thấp hơn so với các tác phẩm thông
thường, do đó cho người biểu diễn được hưởng quyền đối với buổi biểu diễn
của mình ở cấp độ thấp hơn dưới dạng quyền liên quan đến quyền tác giả
được gọi tắt là quyền liên quan.
Dù cuộc biểu diễn được bảo hộ như một sản phẩm sáng tạo độc lập hay
như một đối tượng của quyền liên quan, việc bảo hộ quyền của người biểu
diễn là rất cần thiết. Bởi sự phát triển của công nghiệp ghi âm, công nghiệp
điện ảnh và đặc biệt gần đây là Internet đã giúp người biểu diễn định hình,
sao chép và truyền phát cuộc biểu diễn của mình tới đông đảo công chúng
một cách nhanh chóng, nhưng cũng chính những bản sao cuộc biểu diễn đó đã
ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng kiểm soát công chúng tiếp cận với cuộc
biểu diễn. Nếu như đối với buổi biểu diễn trực tiếp chỉ cần thông qua kiểm
soát vé vào cửa là có thể khống chế được công chúng tiếp cận buổi biểu diễn,
6


thì nay với vô số bản sao băng từ hay bản lưu dưới dạng điện tử, khả năng
kiểm soát và khống chế các cá nhân, tổ chức tiếp cận, sử dụng và khai thác
cuộc biểu diễn của người biểu diễn bị thu nhỏ, khả năng thụ hưởng thù lao,
thu hồi chi phí và đầu tư cho cuộc biểu diễn bị đe doạ. Vì vậy yêu cầu bảo hộ
quyền của người biểu diễn càng trở nên bức thiết.

cuộc biểu diễn cũng là một trong những điều kiện bảo hộ cuộc biểu diễn. Pháp
luật các nước thường chỉ bảo hộ cuộc biểu diễn của công dân nước mình, cuộc
biểu diễn được thực hiện trên phạm vi lãnh thổ quốc gia mình và các trường
hợp khác tuỳ thuộc vào các Hiệp định song phương hoặc đa phương về các
vấn đề có liên quan mà quốc gia tham gia hoặc ký kết. Luật Sở hữu trí tuệ Việt
Nam quy định với các cuộc biểu diễn mà người biểu diễn là công dân Việt
Nam dù được thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài đều được Pháp luật
Việt Nam bảo hộ. Ngoài ra, cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại
Việt Nam cũng được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam và một số trường hợp cụ
thể khác theo quy định của pháp luật như sau :
1. Cuộc biểu diễn được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc
nước ngoài;
b) Cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam;
c) Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ
theo quy định tại Điều 30 của Luật này;
d) Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã
phát sóng được bảo hộ theo quy định tại Điều 31 của Luật này;
đ) Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.5
3. Nội dung quyền của người biểu diễn.
Khi thoả mãn các điều kiện luật định thì người biểu diễn được hưởng
các quyền đối với cuộc biểu diễn của họ. Theo quy định của Luật Sở hữu trí
5 Khoản 1, Điều 17 luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

8


tuệ Việt Nam, quyền của người biểu diễn gồm có quyền nhân thân và quyền

9


phát sóng cuộc biểu diễn cắt xén hoặc thay đổi trình tự của các động thái đó
sẽ gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người biểu diễn.
3.2. Quyền tài sản.
• Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình. 9
Quyền này được hiểu là quyền được ghi âm, ghi hình trực tiếp các cuộc
biểu diễn. Với tư cách là quyền tài sản nên quyền này luôn thuộc về chủ sở hữu
quyền liên quan cuộc biểu diễn. Theo đó, chủ sở hữu quyền liên quan có thể tự
mình thực hiện việc ghi âm, ghi hình, có thể thông qua người khác thực hiện
công việc này theo mục đích và lợi ích của mình hoặc có quyền cho hay không
cho phép người khác ghi âm , ghi hình trực tiếp cuộc biểu diễn đó.


Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định
hình trên bản ghi âm, ghi hình.10
Sao chép cuộc biểu diễn là việc tạo ra các bản sao ghi âm, ghi hình cuộc

biểu diễn. Trong đó, được coi là sao chép trực tiếp nếu bản sao ghi âm, ghi
hình được tạo ra từ bản định hình lần đầu tiên về âm thanh, hình ảnh của
cuộc biểu diễn (còn gọi là băng gốc, đĩa gốc), được coi là sao chép gián tiếp
nếu bản sao ghi âm, ghi hình không được tạo ra từ chính bản ghi âm, ghi hình
gốc. Điều này còn được quy định như sau :
 Sao chép trực tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm,
ghi hình theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật Sở hữu trí
tuệ là việc tạo ra các bản sao khác từ chính bản ghi âm, ghi hình đó. 11
 Sao chép gián tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm,
ghi hình theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật Sở hữu trí
tuệ là việc tạo ra các bản sao khác không từ chính bản ghi âm, ghi hình

quyền nói trên cần phải căn cứ vào tư cách chủ thể của họ đỗi với cuộc biểu
diễn. Như đã xác định chủ thể của quyền liên quan ở trên thì người biểu diễn
có thể mang một trong hai tư cách chủ thể; hoặc là chủ sở hữu quyền liên
quan hoặc là chỉ mang tư cách người biểu diễn. Nếu được xác định là chủ sở
12 Khoản 2, Điều 31 nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định về chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.
13 Điểm c, khoản 3, điều 29 luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
14 Khoản 11, điều 3 luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
15khoản 3 điều 31 nghị định số 100/2006/NĐ-CP: “Truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa
được định hình quy định tại điểm c khoản 3 Điều 29 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc phổ biến cuộc biểu diễn
chưa được định hình đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngoài phát sóng.”
16 Điểm d, khoản 3, điều 29 luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

11


hữu quyền liên quan thì người biểu diễn có tất cả các quyền nhân thân và
quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn của mình. Nếu chỉ là người biểu diễn mà
không đồng thời là chủ sở hữu quyền liên quan thì người biểu diễn chỉ có các
quyền nhân thân. Tuy nhiên, trong trường hợp này, ngoài các quyền nhân
thân, người biểu diễn được hưởng một khoản tiền thù lao khi người khác sử
dụng bản ghi âm, ghi hình đã được công bố nhằm mục đích thương mại để
thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc tiền dưới bất cứ
hình thức nào hoặc được sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được công bố trong
hoạt động kinh doanh, thương mại. Việc hưởng tiền thù lao của người biểu
diễn trong các trường hợp này tùy thuộc vào thỏa thuận giữa người biểu diễn
với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình khi thực hiện chương trình ghi âm, ghi
hình.
Ngoài ra, với tư cách là người sủ dụng tác phẩm của người khác, người
biểu diễn phải có các nghĩa vụ nhất định đối với tác giả của tác phẩm mà họ

nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao
1. Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi
hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng
cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải
trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể
từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy
định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình
đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng
cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép,
nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả,
người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ
khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.

17 Khoản 1, Điều 34 luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009: “Quyền của người biểu diễn được bảo
hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình”.
Khoản 3, Điều 34 luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009: “Thời hạn bảo hộ quy định tại
các khoản 1, 2 và 3 Điều này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo
hộ các quyền liên quan”

13


2. Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt
động kinh doanh, thương mại không phải xin phép, nhưng phải trả tiền
nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả,
người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ
khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định
của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

pháp luật và biết cách tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì công
tác bảo hộ quyền của người biểu diễn mới đạt hiệu quả cao.
Khác với các loại hình quyền khác, quyền của người biểu diễn là quyền
độc lập nhưng được hình thành và khai thác trong mối quan hệ đa dạng và
phức tạp giữa người biểu diễn, tác giả tác phẩm được biểu diễn, nhà sản xuất
bản ghi âm, các hãng phim và các nhà đầu tư cho cuộc biểu diễn. Vì vậy khi
thực hiện cuộc biểu diễn người biểu diễn cần đặc biệt lưu ý thoả thuận và làm
rõ trong hợp đồng mối quan hệ cũng như quyền và nghĩa vụ giữa người biểu
diễn với nhau, người biểu diễn với tác giả và người biểu diễn với người sản
xuất. Các thoả thuận hợp đồng sẽ giúp giảm thiểu tranh chấp và đồng thời
cũng là cơ sở để giải quyết nếu tranh chấp phát sinh.
Quyền của người biểu diễn có thể được thực hiện trực tiếp bởi từng nghệ
sĩ nhưng một cá nhân riêng lẻ, đặc biệt trong điều kiện môi trường kỹ thuật số
khó có thể kiểm soát và quản lý toàn bộ việc khai thác, sử dụng cuộc biểu diễn
và bản ghi âm cuộc biểu diễn của mình. Vì vậy, việc thành lập một tổ chức
nghề nghiệp hay hiệp hội chịu trách nhiệm quản lý tập thể quyền của người
biểu diễn góp phần tăng cường hiệu quả công tác bảo hộ loại hình quyền này.
Với thực trạng người biểu diễn tại Việt Nam có thể là một lao động trong biên
chế nhà nước, là lao động của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh hay một
lao động tự do, cần thiết thành lập một tổ chức quản lý tập thể quyền của
người biểu diễn, tổ chức này có thể là đại diện và quản lý quyền cho người
biểu diễn thuộc mọi thành phần kinh tế và hoạt động biểu diễn trong mọi lĩnh
vực.

15


KẾT LUẬN
Trên đây là bài viết của tôi nói về quyền của người biểu diễn, có nêu
quyền của người biểu diễn là gì? Tại sao lại phải bảo hộ quyền của người biểu

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự,
Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, có hiệu lực thi

hành kể từ ngày 17 tháng 10 năm 2006.
5. Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP
ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về
quyền tác giả và quyền liên quan, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10
tháng 11 năm 2011.
6. Công ước quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và
tổ chức phát sóng (Công ước Rome).
7. Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (Hiệp ước WPPT) năm
1996.
8. Hiệp định Trips.
9. Web của cục sở hữu trí tuệ Việt Nam.

17


MỤC LỤC

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status