TS. LÊ THỊ VÂN ANH
ĐA DẠNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Ở VĨNH PHÚC
NXB. TÔN GIÁO
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nhờ có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong cả nước nói chung, ở từng địa phương
nói riêng rất được quan tâm nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết về tín
ngưỡng, tôn giáo và nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân cũng như
công tác quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của các cấp chính quyền trong
tình hình mới. Đối với Vĩnh Phúc, đời sống vật chất của người dân trong
những năm qua đã được nâng cao một cách đáng kể. Cùng với sự tăng nhanh
về đời sống vật chất thì nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân, trong đó
có nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Vĩnh Phúc là địa bàn có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo cùng hoạt động và
cùng với đó là các cơ sở thờ tự và lực lượng quần chúng tín đồ; trước hết, đó
là các tín ngưỡng truyền thống. Cùng với tục thờ Bách Thần của người dân
trong tỉnh còn có các đền thờ Thánh Mẫu Tây Thiên ở nhiều nơi trên vùng đất
Tam Đảo. Hiện nay, ngoài đền Mẫu Sinh, đền Mẫu Hoá còn có các đền thờ
phụng công lao của Thánh Mẫu. Các hoạt động thờ Mẫu thường gắn với nghi
thức văn hoá dân gian đặc sắc trên địa bàn tỉnh.
Đối với Phật giáo, toàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay có tới 433 ngôi chùa.
Nhiều ngôi chùa cổ bị hoang phế nhờ sự giúp đỡ của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam và Giáo hội Phật giáo tỉnh Vĩnh Phúc cũng như công đức của du khách
thập phương nay đã được sửa sang hay khôi phục lại thành những ngôi chùa
lớn như: chùa Hà Tiên, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm
Tuệ Đức, v.v… Các cơ sở thờ tự này hằng năm thu hút nhiều du khách về
Cuốn sách này với mục đích đưa ra bức tranh toàn cảnh về tín ngưỡng,
tôn giáo ở Vĩnh Phúc với các đặc điểm và những vấn đề đặt ra nhằm: một
mặt, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu tín ngưỡng, tôn giáo và nhu cầu tín ngưỡng,
tôn giáo của người dân địa phương; mặt khác, phục vụ cho sự phát triển kinh
tế và văn hóa - xã hội của tỉnh, trong đó có công tác quản lý nhà nước đối với
3
các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sự phát triển du lịch nói chung, du lịch
tâm linh nói riêng.
Các khái niệm mà chúng tôi sử dụng trong cuốn sách này bao gồm :
Tôn giáo: có nhiều cách trình bày khác nhau về khái niệm tôn giáo. Trong
cuốn sách này chúng tôi sử dụng khái niệm tôn giáo theo cách hiểu phổ thông
nhất đã được chấp nhận ở Việt Nam hiện nay: Tôn giáo là một hình thái ý
thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tin vào các lực lượng
siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực
giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trần thế
cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ
thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ
thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những
hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
Niềm tin đó tác động đến các cá nhân và các cộng đồng theo cả hai chiều
hướng tích cực và tiêu cực phụ thuộc vào từng tôn giáo cụ thể và hoàn cảnh
lịch sử - địa lý cụ thể. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm
mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể
hiện bằng những nghi lễ, những sự kiêng kị. Những nghi lễ và những sự kiêng
kị đó nếu bị đẩy lên đến mức thái quá sẽ dẫn đến mê tín.
Tín ngưỡng: Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi đề cập tới khái
niệm "tôn giáo" và khái niệm "tín ngưỡng". Có người đồng nhất tín ngưỡng
với tôn giáo, có người lại coi tín ngưỡng nằm dưới tôn giáo trong bậc thang
tôn giáo cụ thể, chẳng hạn như: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo,v.v… Ở đây,
từ giáo cũng có thể được dùng để chỉ người theo Công giáo, phân biệt với từ
lương tức những người không theo Công giáo, chẳng hạn như: giáo dân,
lương dân, đoàn kết lương - giáo.
Tín đồ: Khái niệm tín đồ được sử dụng trong cuốn sách theo nghĩa là
người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận.
5
Thờ: Trong cuốn sách sử dụng khái niệm thờ theo nghĩa là tỏ lòng tôn
kính thần thánh, tổ tiên hay những vật thiêng, chẳng hạn như: thờ Phật, thờ
Thần, thờ Thành hoàng làng, thờ hồn cây đa, thờ ma cây gạo, thờ ông bà,
v.v…bằng những nghi lễ cúng bái theo tín ngưỡng hay theo phong tục. Khái
niệm thờ thường đi đôi với khái niệm cúng tạo nên một từ ghép là thờ cúng,
chẳng hạn như: thờ cúng tổ tiên, thờ cúng Vua Hùng, thờ cúng những người
có công với nước với dân,v.v…
Tâm linh: Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tâm linh.
Theo quan điểm của tác giả Minh Chi, khái niệm tâm linh dùng để chỉ cho cái
gì cao cả nhất, sâu sắc nhất trong tâm con người. GS.TS Nguyễn Ngọc Kha
thì cho rằng, trên góc độ tôn giáo học, tâm linh là phần còn lại sau khi con
người đã chết. Còn Từ điển tiếng Việt định nghĩa tâm linh là “khả năng biết
trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan điểm duy tâm”
[51, tr.297].
Mặc dù chưa có sự thống nhất trong cách hiểu về khái niệm tâm linh cả
trong khoa học và trong cuộc sống thường nhật, nhưng thuật ngữ này hiện nay
trở thành một từ dùng thông dụng của nhiều người với những nội hàm rất
khác nhau. Vì vậy, theo chúng tôi, cần thiết định khái niệm này trong chừng
mực bao quát nhất có thể được. Dù có ý thức rõ ràng hay không, chúng ta đều
hiểu tâm như nguồn gốc phát sinh của tư duy, tình cảm, ý chí, ham
Mẫu Tam phủ: Khái niệm Mẫu Tam phủ dùng để chỉ ba vị Thánh Mẫu
trong hệ thống tín ngưỡng thờ MẫuViệt Nam, gồm: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu
Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Mỗi vị Thánh Mẫu cai quản một phủ hay một
miền trong vũ trụ. Mẫu Thượng Thiên là vị thần sáng tạo ra bầu trời, trước hết
là đại diện cho nguồn sinh lực vô biên, cốt lõi của sự sống và mọi nguồn hạnh
phúc. Mẫu Thượng Ngàn là mẹ thế gian gắn với người Việt từ thời nguyên
thủy. Trước đây, bà không chỉ có mặt ở rừng núi mà còn có mặt ở khắp mọi
miền theo cơ cấu của làng xóm cổ truyền. Mẫu Thoải là vị thần sáng tạo ra
mọi miền của nước, biển, sông, suối, đầm, hồ. Bà được người nông dân Việt hết
7
sức kính trọng, hệ thống thờ ngài và các thần linh liên quan có mặt hầu như ở
khắp mọi nơi, như một sự đảm bảo cho nguồn nước nông nghiệp luôn được đầy
đủ.
Tứ phủ: Đây là một khái niệm trong đạo Mẫu chỉ bốn miền khác nhau
trong vũ trụ, bao gồm:Thiên phủ (miền trời); Nhạc phủ (miền rừng núi);
Thoải phủ hay Thuỷ phủ (miền sông nước) và Địa phủ (miền đất). Mỗi miền
do một Thánh Mẫu cai quản.
Mẫu Tứ phủ: Khái niệm Mẫu Tứ phủ dùng để chỉ bốn vị Thánh Mẫu
trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, gồm: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu
Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Địa (Địa Tiên Thánh Mẫu) cai quản Địa
phủ (quản lí vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống).
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN): Trong cuốn sách, tên gọi
này dùng để chỉ tổ chức Phật giáo duy nhất được thành lập vào năm 1981 và
đang tồn tại cho tới hiện nay, đại diện cho tăng ni, Phật tử Việt Nam về mọi
mặt trong quan hệ đối nội và đối ngoại.
Hòa thượng: Trong cuốn sách khái niệm hòa thượng được sử dụng
theo nghĩa là hàng giáo phẩm Phật giáo có tuổi đời từ 60 và tuổi đạo từ 40 trở
lên; có đạo hạnh và công đức với đạo pháp và dân tộc, được GHPGVN tấn
Giáo phận: Theo Từ điển Công giáo của Hội đồng Giám mục Việt
Nam, giáo phận là một cộng đoàn Kitô hữu trong một khu vực nhất định được
trao phó cho một giám mục chăm sóc, với sự cộng tác của linh mục đoàn.
Giáo phận còn được gọi là giáo hội địa phương.
Giáo xứ: là thành phần của giáo phận, đơn vị cơ sở của Giáo hội Công
giáo do linh mục chính xứ trông coi việc đạo cho giáo dân với sự giúp việc
của một hoặc nhiều linh mục phó xứ, dưới quyền của giám mục giáo phận.
Giám mục: Theo Từ điển Công giáo của Hội đồng Giám mục Việt
Nam, giám mục là người kế vị các thánh tông đồ để chăm sóc mục vụ cho
công đoàn Kitô hữu. Thông thường giám mục là người đứng đầu giáo phận.
9
Trong giáo phận, cùng lúc có thể tồn tại ba phẩm cấp giám mục: giám mục
chính tòa, giám mục phó, giám mục phụ tá. Người Công giáo Việt Nam
thường gọi giám mục bằng Đức Cha hay Đức Giám mục. Trong cuốn sách
chúng tôi sử dụng khái niệm giám mục.
Linh mục: Theo Từ điển Công giáo của Hội đồng Giám mục Việt Nam,
linh mục là cộng tác viên của giám mục, liên kết với hàng giám mục trong
phẩm chức tư tế và tùy thuộc các ngài trong công tác mục vụ. Linh mục được
mời gọi chia sẻ trách nhiệm với giám mục về giáo hội địa phương: rao giảng
Phúc Âm, hướng dẫn các tín hữu, cử hành phục vụ, chăm sóc cộng đoàn giáo
xứ hay một công việc phục vụ Hội Thánh. Người Công giáo Việt Nam gọi
linh mục là cha và xưng mình là con.
Linh mục chính xứ: là người cai quản chính, coi sóc mục vụ giáo xứ
dưới quyền của giám mục giáo phận. Người Công giáo Việt Nam gọi linh
mục chính xứ là linh mục quản xứ, cha xứ, cha chính xứ, v.v... Trong cuốn
sách chúng tôi sử dụng khái niệm linh mục chính xứ.
Đạo Tin Lành: Đây là những cộng đoàn Kitô giáo được hình thành và
phát triển trong cuộc Cải cách tôn giáo ở Châu Âu, bắt đầu từ thế kỷ XVI do
CHƯƠNG I
ĐỐI NÉT VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO VĨNH PHÚC
1.1.Vị trí địa lý và tình hình kinh tế - xã hội của Vĩnh Phúc hiện nay
Vĩnh Phúc - cửa ngõ Tây - Bắc của Thủ đô Hà Nội, thuộc vùng châu
thổ sông Hồng; là một trong bảy tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Phía Bắc giáp Thái Nguyên và Tuyên Quang, Phía Đông và phía Nam giáp
Thủ đô Hà Nội. Phía Tây giáp Phú Thọ. Do tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội và
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nên các nhà đầu tư có thể sử dụng
các công trình kỹ thuật hạ tầng hiện có của khu vực này.
Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hằng
năm 24,20 oC; diện tích tự nhiên 1.231,76 Km2 , dân số 1.014.488 người.
Tỉnh có 09 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc là: Thành phố Vĩnh Yên trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh; Thị xã Phúc Yên và 07
huyện là Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo, Lập
Thạch và Sông Lô.
Do đặc điểm vị trí địa lý nên nơi đây hình thành ba vùng sinh thái rõ
rệt: Đồng bằng, trung du và miền núi hết sức thuận tiện cho phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch - dịch vụ. Một trong những ưu
thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh xung quanh Hà Nội là có diện tích đất đồi
khá lớn của vùng trung du, có đặc tính cơ, lý tốt thuận tiện cho việc xây dựng
và phát triển công nghiệp.
Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân
văn. Nơi đây có quần thể danh lam, thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng như rừng
Quốc gia Tam Đảo, thác Bản Long, hồ Đại Lải,… và rất nhiều di tích lịch sử,
văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tín ngưỡng tâm linh như danh
thắng Tây Thiên, tháp Bình Sơn, đền thờ Trần Nguyên Hãn, di chỉ Đồng Đậu
cùng nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc.
12
trường sản xuất kinh doanh, thu hút mạnh các nguồn lực từ các thành phần
kinh tế đầu tư cho phát triển, trước hết là đẩy mạnh phát triển công nghiệp,
dịch vụ. Song song với đẩy mạnh phát triển kinh tế, tỉnh còn quan tâm phát
triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục; chăm lo đời sống người
dân; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo môi
trường ngày càng thuận lợi cho phát triển kinh tế, xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân, động viên sức mạnh của các tầng lớp nhân dân cùng hướng tới mục
tiêu vì sự phát triển chung của tỉnh nhà.
1.2.Khái quát về văn hóa và tín ngưỡng, tôn giáo ở Vĩnh Phúc hiện nay
Người dân Vĩnh Phúc luôn mang trong mình niềm tự hào về truyền thống
đấu tranh dựng nước, giữ nước và một nền văn hóa rực rỡ. Cho đến nay, Vĩnh
Phúc vẫn mang đậm dấu ấn của văn hóa Hùng Vương, Kinh Bắc, Thăng Long
với nền văn hóa dân gian đặc sắc, khoa bảng, với lối sống xã hội và chuẩn
mực đạo đức luôn được giữ gìn và phát huy. Nguồn lao động của Vĩnh Phúc
khá dồi dào, chiếm khoảng 61,6% tổng dân số, trong đó chủ yếu là lao động
trẻ, có kiến thức văn hóa và tinh thần sáng tạo để tiếp thu kỹ thuật và công
nghệ tiên tiến. Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong những năm qua, đặc biệt
là công nghiệp, đã trở thành môi trường nâng cao tay nghề cho người lao
động.
Vĩnh Phúc là vùng đất có bề dày lịch sử trải qua hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước. Con người và vùng đất nơi đây đã để lại một kho tàng di
sản văn hoá phong phú và đặc sắc, đó là một tài sản vô giá của Vĩnh Phúc
trong tiến trình phát triển của dân tộc. Bên cạnh những di chỉ khảo cổ ở Lũng
Hoà, Đồng Đậu, Thành Dền… khẳng định Vĩnh Phúc là một trong những
vùng đất cổ, là trung tâm của nước Văn Lang xưa, nơi đây để lại nhiều di tích
lịch sử và di sản văn hoá, tạo nên một nét độc đáo riêng.
Ngoài những di sản văn hoá vật thể, Vĩnh Phúc còn là vùng văn hoá dân
gian đặc sắc trên nhiều loại hình như: Văn học dân gian, mỹ thuật dân gian,
14
(Sông Lô) trở thành tả tướng quốc, "tên ông gắn liền với tên Vua đủ thấy ông
được Vua coi trọng như thế nào"[103, tr.14, 15, tr.43].
Thời bình thì văn học huy hoàng, những con em người Vĩnh Phúc xuất
thân vào chốn trường nho thi đỗ cao, làm quan giỏi, tên tuổi được ghi trên bia
đá, bảng vàng, trở về quê được suy tôn (đưa lên bậc cao quý), được tôn thờ,
tên tuổi ghi lên bia đá, còn sáng mãi hai chữ Thân - Danh.
Theo thống kê của nhà nghiên cứu Lê Kim Thuyên, chỉ tính từ năm 1124
(Triều Lý) đến năm 1889 (Triều Nguyễn) đã thành đạt 98 danh Nho (nổi tiếng
trong làng Nho học), tức là các bậc thi đỗ vào hàng Đại Khoa, đạt danh hiệu
từ Phó bảng đến Trạng Nguyên, được phân theo các huyện hiện thời như sau:
Huyện Vĩnh Tường có 23 người đỗ; Huyện Lập Thạch ( cũ) có 22 người đỗ;
Huyện Yên Lạc có 22 người đỗ; Huyện Mê Linh có 15 người đỗ; Huyện
Bình Xuyên có 12 người đỗ; Huyện Tam Dương có 1 người đỗ; Thành phố
Vĩnh Yên có 3 người đỗ[103, tr.41, 127].
Về tín ngưỡng, ngoài tục thờ Thánh Mẫu Tây Thiên được đa số người
dân tin theo, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều tục thờ thần, thờ bách thần của
người dân thuộc nhiều dân tộc khác nhau như Kinh, Dao, Sán Dìu,v.v...
Về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có ba tôn giáo được Nhà nước
công nhận tư cách pháp nhân là Phật giáo, Công giáo và đạo Tin Lành. Theo
số liệu mới nhất, hiện nay tại Vĩnh Phúc: Phật giáo có 433 chùa, trong đó có
101 chùa đã có sư trụ trì; Công giáo có 45 nhà thờ, nhà nguyện, có 49 họ đạo
thuộc 10 xứ đạo; đạo Tin Lành có 1 chi hội, với tổng số các tín đồ hoạt động
tôn giáo trên 140.000 người.
Ngoài 3 tôn giáo kể trên, còn xuất hiện nhiều hội, nhóm mang màu sắc
tôn giáo mới như: Hội Tiên Rồng, Hội Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Tổ tiên
Chính giáo và một số điểm, nhóm, cá nhân hoạt động đạo Tin Lành ở các xã
16
Yên, còn 6 điểm nhóm Tin Lành khác đang hoạt động không được sự thừa
nhận của các cấp chính quyền địa phương. Tuy vậy, thực hiện nghiêm chỉnh
Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các cấp chính quyền
địa phương ở Vĩnh Phúc đang từng bước khắc phục những bất cập để đưa các
hoạt động của đạo Tin Lành ở Vĩnh Phúc theo phương châm của Hội Thánh
Tin Lành Việt Nam: “Sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc
và Dân tộc”.
Ngoài 3 tôn giáo nói trên, trên địa bàn tỉnh còn xuất hiện các hiện
tượng tôn giáo mới như Long Hoa Di Lặc, Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Hoàng
Thiên Long, v.v… Các hiện tượng tôn giáo mới này mới chỉ tồn tại như
những tín ngưỡng mới ra đời, chưa đủ các yếu tố cấu thành của một tôn giáo
và hầu hết chưa được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân.
Thực trạng này làm cho bức tranh tôn giáo ở Vĩnh Phúc có nhiều màu
sắc khác nhau, phong phú, đa dạng và cũng làm cho tình hình tôn giáo ở đây
thêm phức tạp, nhất là trong thời kỳ hiện nay.
1.3. Vĩnh Phúc là một trong số các địa phương có tín ngưỡng thờ nhiều
thần nhất
Có thể nói rằng, tín ngưỡng thờ nhiều thần hay còn gọi là tín ngưỡng
thờ bách thần là một trong những đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo ở Vĩnh
Phúc. Các thần trong tín ngưỡng thờ bách thần ở Vĩnh Phúc rất phong phú.
Bao gồm các thần có nguồn gốc tự nhiên - nhiên thần và các thần có nguồn
gốc từ con người - nhân thần. Các thần có nguồn gốc tự nhiên như: Thần là
linh hồn của các ngọn núi, thần trông coi cai quản núi - thần núi; thần có
nguồn gốc từ các loài sống dưới nước, cai quản sông nước - thủy thần; thần là
các loài muông thú, cây cỏ, các hiện tượng của tự nhiên, v.v…Ở Vĩnh Phúc
hiện nay có hàng trăm vị thần được nhân dân thờ cúng, trong đó phong phú nhất
là các thần ở vùng núi Tam Đảo.
18
19
thờ thần - chốn linh thiêng, họ đều tỏ rõ thái độ cung kính từ cử chỉ, ăn mặc
chỉnh tề, đi đứng đàng hoàng, đến lời nói cũng nhẹ nhàng từ tốn. Tuy nhiên,
thần ở vùng Tam Đảo lại không quá xa lạ với con người mà có phần thân thiết,
đồng cảm với con người. Vì thế, nên người dân nơi đây đã xây dựng cho thần
một lí lịch rất con người nếu thần là nhiên thần, tức là "phàm trần hóa" thần;
còn nếu thần là nhân thần, họ lại tạo dựng cho thần có những điểm khác hẳn
với người thường. Chính vì thế, nên thần vừa là người nhưng cũng không hẳn
là người. Do vậy, các thần "không đứng ngoài trần thế" mà "vẫn sống" xung
quanh con người, theo dõi hoạt động của con người để phù trợ con người.
Đặc điểm của việc thờ bách thần ở Vĩnh Phúc là có những vị thần do
dân làng tạo ra, mang những đặc trưng riêng của làng xóm quê hương, mang
dấu ấn của mỗi làng xã. Vì thế đối với người dân, việc tôn thờ thần cũng thể
hiện lòng yêu quê hương làng xóm, giữ gìn bản sắc truyền thống văn hóa làng
xã.
1.4. Tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Tây Thiên là một tín ngưỡng của đa tộc
người
Tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Tây Thiên ở Vĩnh Phúc là tín ngưỡng của
đa tộc người, điển hình nhất là của người Kinh (hay còn gọi là người Việt) và
người Sán Dìu, góp phần làm nên sự đa dạng văn hoá trên mảnh đất này. Đây
là một trong những đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Vĩnh Phúc.
Ngoài người Kinh là tộc người đa số, chiếm hơn 96% dân số trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc, thì người Sán Dìu là tộc người có số lượng dân số đứng ở
vị trí thứ hai trên địa bàn, chiếm gần 3% dân số toàn tỉnh. Theo số liệu của
Ban Dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc, tính đến năm 2007, người Sán Dìu tại tỉnh này
có 8.412 hộ với 39.539 nhân khẩu, là dân tộc thiểu số có số dân đông nhất,
chiếm 91,82% dân số các dân tộc thiểu số toàn tỉnh, trong đó nam chiếm 49%,
nữ 51%, địa bàn cư trú tập trung ở sườn phía Tây Nam dãy núi Tam Đảo, thuộc
phủ. Còn Tứ phủ bao gồm Đệ nhất Thiên phủ (cõi trời), Đệ nhị Nhạc phủ
21
(miền núi rừng), Đệ tam Thoải phủ (miền sông nước), Đệ tứ Địa phủ (cõi
đất).
Theo chúng tôi, quan điểm thứ hai phổ biến hơn vì cách sắp xếp như
vậy là hợp lý. Quan điểm này ngày nay rất phổ biến và nhiều người không
còn biết đến sự sắp xếp Tam phủ, Tứ phủ như xưa kia nữa. Theo quan điểm
thứ hai, cao nhất là tầng trời (Thiên), sau đó đến vùng rừng núi (Nhạc), tiếp
đến vùng sông nước (Thủy hay còn đọc chệch là Thoải) và cuối cùng mới đến
cõi đất (Địa).
Tứ Phủ được đặc trưng bởi bốn màu : màu đỏ (Thiên phủ); màu xanh
(Nhạc phủ), màu trắng (Thoải phủ), màu vàng (Địa phủ). Để dễ theo dõi
chúng tôi lập bảng tổng hợp ở phần phụ lục (Bảng 7.3- Phụ lục 7].
Về Tam tòa Thánh Mẫu ở Vĩnh Phúc hiện nay: Theo khảo sát của
chúng tôi ở thành phố Vĩnh Yên, Tam tòa Thánh Mẫu được người dân xem là
ba vị Thánh Mẫu quyền năng tối cao, tương ứng với tam phủ như vừa trình
bày. Nhưng trong các khoa cúng thường thỉnh danh hiệu bốn vị Thánh Mẫu
sau:
1. Mẫu Đệ nhất Thiên Tiên, Cửu Trùng Thanh Vân công chúa
2. Mẫu Đệ nhị Địa Tiên, Liễu Hạnh công chúa
3. Mẫu Đệ tam Thuỷ Cung, Xích Lân công chúa
4. Mẫu Đệ tứ Nhạc Tiên, Sơn Lâm công chúa
Như vậy, có bốn vị Thánh Mẫu tương ứng với bốn phủ nhưng Tam tòa
Thánh Mẫu mà chúng tôi khảo sát ở thành phố Vĩnh Yên chỉ nói về ba trong
số bốn vị Thánh Mẫu mà thôi. Vì vậy, hiện đang tồn tại hai quan điểm về thứ
bậc các Thánh Mẫu trong Tam tòa Thánh Mẫu [Bảng 7.4- Phụ lục 7].
Hai quan điểm này giống như hai quan điểm về Tam phủ đã nói ở trên
(thiên - địa - thoải và thiên - nhạc - thủy). Theo chúng tôi, Mẫu Liễu Hạnh
sát các điểm di tích tôn giáo ở đây hiện nay có thể thấy rõ một điều là không
gian thờ tự nơi đây có sự kết hợp chặt chẽ giữa thờ Mẫu và thờ Phật. Ở đâu có
23
chùa thờ Phật là có đền thờ Mẫu, hoặc có nơi thì tiền Phật, hậu Mẫu. Điều này
phản ánh đời sống tâm linh của con người nơi đây có sự cân bằng rõ rệt giữa
đời sống hiện tại với thế giới luân hồi. Người ta vừa hướng đến một đời sống
có sức khỏe, hạnh phúc, vừa hướng đến một cõi vĩnh hằng thanh tịnh. Song
sự tồn tại giữa thờ Mẫu và thờ Phật chính là một trong các đặc trưng văn hóa
tâm linh mang tính bản địa rất đặc sắc của vùng đất này.
Theo chúng tôi, Tam toà Thánh Mẫu ở Vĩnh Phúc hiện nay không chỉ
nói về số lượng, số đếm thông thường mà còn nói về sự bao quát, đầy đủ mà
người xưa quan niệm. Số ba có thể nói là một số thiêng: Tam giới (Dục giới,
Sắc giới và Vô sắc giới); Tam thời (Quá khứ, Hiện tại, Tương lai).Vì vậy, tín
ngưỡng thờ Mẫu ở Vĩnh Phúc gắn bó chặt chẽ với Phật Giáo.
Ngoài ra, trong điện Mẫu ở Vĩnh Phúc còn có hệ thống thờ Thần. Theo
các nhà nghiên cứu, tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ dưới ảnh hưởng của Phật
giáo và Đạo giáo (Trung Hoa) tôn thờ chư Phật , Bồ Tát... và rất nhiều vị
thần. Các vị thần được nhắc đến khá đầy đủ trong bản văn Công Đồng.Tuy
nhiên, với tín ngưỡng bản địa Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng,
không như Trung Quốc, các vị thần của Đạo giáo khá mờ nhạt. Trong điện
thờ Mẫu ở Vĩnh Phúc người ta chỉ biết tới Ngọc Hoàng Thượng Đế (Vua Cha
Ngọc Hoàng) và Bát Hải Long Vương (Vua Cha Động Đình). Còn lại các vị
thánh được chia làm các hàng bậc rõ rệt .
Các vị thánh bản đền có thể được hầu riêng trước khi hầu Tứ phủ, thí
dụ, giá chúa Sơn Trang được hầu sau giá Thánh Mẫu và trước khi hầu các giá
Tứ phủ. Thánh Mẫu thường được coi ở ngôi cao nhất nên phải hầu đầu tiên.
Theo quan sát của chúng tôi, hiện nay ở Vĩnh Phúc có trường hợp các vị
thánh bản đền được hầu sau khi thỉnh giá cuối cùng của một hàng nào đó.