Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
1 BÀI THU HOẠCH ĐIỀN DÃ
ĐỀ TÀI: “Tín ngưỡng – Tôn giáo –
Phong tục – Lễ hội”
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
2
LỜI MỞ ĐẦU
phận thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, cách thành phố Nam Định 5km về phía Bắc.
Nơi đây vốn là quê hương của dòng họ nhà Trần. Tổ tiên các vua Trần vốn làm
nghề chài lưới ở quãng sông Châu chảy qua địa phận Nam Định, sau đó tụ họp lại
thành xóm ấp bên hữu ngạn sông, còn được gọi là hương Tức Mặc (sau này được
nâng lên thành phủ Thiên Trường)
Phải nói thêm rằng, thời nhà Trần bắt đầu phát triển hình thức chùa làng (dân
làng tự đóng góp tiền xây chùa) nhưng chùa Phổ Minh không phải là chùa làng mà
là chùa của Hoàng tộc, lấy tiền kho của nhà nước xây dựng vào thời nhà Trần.
Chỉ dẫn đường đi: Thành phố Nam Định cách Hà Nội khoảng 90km. Từ Hà
Nội, xe đi hướng Đông Nam, đi theo đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Rẽ, qua các
tỉnh Hà Tây – Hà Nam – Nam Định. Hoặc cũng có thể đi bằng tàu hỏa từ ga Long
Biên đến ga Nam Định. Từ thành phố Nam Định đi về hướng Bắc khoảng 5km là sẽ
đến chùa Phổ Minh.
2. Quá trình xây dựng và các đợt trùng tu di tích
Theo sử liệu, địa chí, bi kí thì chùa Phổ Minh khởi dựng từ thời nhà Lý tại
hương Tức Mặc. Cho đến bắt đầu năm 1239, các vua Trần đã biến quê hương Tức
Mặc của mình thành một công trường lớn. Thợ thuyền được tuyển chọn cùng với
phu lính đi làm việc ròng rã mấy chục năm liền để xây dựng những cung điện, đền
miến, dinh thự, lầu gác làm nơi ở cho hoàng thân quốc thích. Đây là trung tâm thứ
hai của đất nước bên cạnh kinh đô Thăng Long. Và để đáp ứng nhu cầu lễ Phật cho
con em hoàng tộc trong vùng, năm 1262, chùa Phổ Minh được xây dựng. Hơn nửa
thế kỷ sau, vào đầu thế kỷ XIV, năm 1305 vua Trần tiếp tục cho xây cây tháp Phổ
Minh, hoàn thiện kiến trúc chùa. Vì vậy ta có thể hiểu “Nhà Lý xây dựng, họ Trần
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
4
điểm tô” – chùa được xây dựng từ triều Lý, sang thời Trần, nhờ phái Trúc Lâm mà
chùa cảnh được mở mang khang trang lộng lẫy.
Chùa Phổ Minh kể từ các đời vua Trần kính thờ đến nay hơn 700 năm, đời
Chùa Phổ Minh là danh lam tiêu biểu đất Thiên Trường. Thế đất và cảnh
quan đã được ghi lại tại “Phổ Minh đỉnh tự”, đúc năm Bính Thìn, niên hiệu Cảnh
Thịnh thứ 4 (1796): “Chùa Phổ Minh trước đây vốn là đại danh lam của nước Việt,
xây dựng vào thời nhà Lý, mở mang trong thời Trần cho hợp cảnh nơi quý hương
(quê vua). Đất nàng, bên trái có nước quanh co uốn khúc, bên phải nhấp nhô như
núi cao thấp, chạy vòng, mặc bắc có sông Hoàng tụ thủy, mặt nam có dòng nước
chảy mênh mang ”
Thời gian cùng với những biến thiên lịch sử đã làm cho quang cảnh nơi đây
thay đổi. Song sự biến dạng không nhiều. Hiện nay, chùa vẫn quay về hướng Nam
mà theo quan niệm của người Việt thì hướng Nam là hướng tốt để dựng nhà - “Lấy
vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”. Chùa tọa lạc trên khu đất cao ráo, rộng khoảng
gần 2ha, đứng biệt lập, không bị các thổ cư lấn át, do vậy vẫn giữ được dáng vẻ
thanh cao, tĩnh mịch của chốn cửa chùa. Điều mà ít chùa cảnh có được là 2 cây
muỗm cổ thụ khoảng vài ba trăm tuổi xum xuê, xanh tốt, cùng với các cây đại,
nhãn, thị cùng cây tháp cổ không chỉ làm tăng vẻ thanh u, còn đăng đối thêm vẻ
đẹp cho tháp và cho chùa.
Vào khu sân ngoài của chùa, hai bên đường chính đạo là 2 hồ sen nhỏ. Xưa
kia đây chỉ là 2 giếng nhỏ mà dân gian gọi là “mắt rồng”, sau này được mở rộng
thành hồ sen. Vào thời gian này, đến thăm chùa, du khách sẽ được thưởng thức
hương thơm và vẻ đẹp xanh tươi, mát mắt của hồ sen. (Ảnh minh hoạ 2)
Phía sau chùa là vườn bia, được bao bọc bởi vườn cây xanh mát và có ao.
Tuy nhiên, diện tích ao ngày càng bị thu hẹp lại.
2. Kết cấu bộ khung gỗ toàn nhà chính (đính kèm)
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
6
3. Trang trí kiến trúc nội ngoại thất
Lạc. Đầu rồng, đầu chim ngẩng lên hướng vào lòng vạc. Trên vành vạc khuyết 100
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
7
lỗ hình quả trứng. Trong mỗi lỗ đặt 1 tượng rồng vàng, để thu linh khí của 100
người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ và của Bách Việt. Trên bệ vạc có khắc tên
tất cả các vị vua của tộc Việt, cao nhất là King Dương Vương, Lạc Long Quân,
cho đến Lý Thánh Tông để các vị tiên đế cùng nhau phù hộ dân giàu, nước mạnh,
mưa thuận, gió hòa. Cho đến năm 1428, giặc Minh cho rằng sở dĩ Bình Định Vương
Lê Lợi thắng được chúng là nhờ đỉnh tháp Báo Thiên, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm
và vạc Phổ Minh nên Vương Thông cho phá đi.
Tại khu sân chùa còn có 2 cây hương đá cao khoảng 1m60, tạo hình bát giác,
mỗi cạnh khắc hàng chữ tỏ ý kính trọng các đức Phật và chư vị Bồ Tát. Phía trong 2
cây hương, có 2 cột kinh đá, cũng tạc theo kiểu bát giác cao gần 4m. Phần giữa 2
cây hương còn có bát hương cổ bằng đá khá lớn, đục chạm mây tản, mặt nguyệt
công phu, nghệ thuật. Đặc biệt, ngay chân bát hương có cây đại cổ thụ tuyệt đẹp.
Dáng cây như cúi rạp vào tháp, thân cây sần sùi, nổi cộm thật sinh động khiến ngoại
cảnh có sức gợi cảm.
Tháp Phổ Minh: Trước chùa là tháp Phổ Minh cao 13 tầng (chưa kể đế tháp),
cao 21,2m bề thế và vững chắc, được xây dựng năm 1305. Đây là tháp mộ, có đặt 1
viên xá lị Điều ngự Giác hoàng đệ nhất cổ phái Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông.
Nhiều thế kỷ nay, tháp vẫn hiên ngang vươn cao, tạo điểm nhấn độc nhất vô nhị cho
cổ tự. (Ảnh minh hoạ 5, 6)
Mái của các tầng đều rất hẹp. Điều đáng chú ý là kiến trúc đã biết giải quyết
các tầng mái bằng cách xây gạch nhô dần ra thành nhiều lớp cấp nhỏ, uốn cong lên,
hoà vào cái thế vươn lên chung của toàn bộ kiến trúc. Càng lên cao, các tầng thu
hẹp dần và kết thúc bằng một chỏm hình bầu rượu có nhiều cạnh.
Cũng như chùa, tháp Phổ Minh quay mặt về hướng Nam, mặt bằng được bố cục
vuông, cạnh đáy của đế dài 5,21 m. Các tầng trên đều có cửa bốn phía, được trổ
theo lối cuốn tò vò. Riêng tầng dưới cao trội hẳn lên (2,2 m), cửa của nó người lớn
nét cứ hiện ra dưới lưỡi đục sắc, khi thì nhịp nhàng chính xác, lúc lại vung vẩy
phóng khoáng. Hình khắc rạch trên phần đá của tháp Phổ Minh tạo ra các hoa văn
hoa lá, sóng nước, mây trời đơn giản, sáng sủa rất sinh động bao viền quanh thân
tháp và các cửa tháp. Sự vận dụng những đường cong khéo léo tạo cho tác phẩm có
chất tươi mát, cuồn cuộn và sinh động rất lạ thường.
Tầng tháp thứ nhất được bắt đầu bằng một vòng những cánh sen hai lớp, lớp
dưới cúp xuống, lớp trên ngửa lên nở xoè, tạo cảm giác cây tháp như mọc trên một
đoá hoa sen khổng lồ. Khác hẳn với cánh sen thời Lý thanh dài và bên trong thường
được trang trí đôi rồng rắn, những cánh sen ở đây đều mập mạp, có mũi cong xoắn
lại, nó vẫn hiện thực nhưng đã được nâng lên theo trí tưởng tượng của nghệ sĩ. Bên
trong cánh sen còn trang trí những móc câu, hoa và nhánh hoa dây móc nhau. Cùng
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
9
với các cánh sen ở bệ tháp, việc xây hồ quanh tháp phải chăng là do những người
xây dựng muốn tạo cho tác phẩm kiến trúc của mình thành một hình tượng búp sen
khổng lồ đang nổi trên mặt nước, một hình tượng mang ý nghĩa của nhà Phật (kiến
trúc mô phỏng hoa sen khác với kiến trúc chùa Một Cột).
Bốn cửa tháp ở tầng dưới đều có gờ nhô ra, trên mặt gờ rất nhẵn, được khắc rạch
những nét nhỏ hoa lá cách điệu. Đó là những vòng tròn ở chính tâm có bông hoa
nhỏ sáu cánh (đôi khi năm hoặc bảy cánh), rồi từ đó toả ngược ra hai nhánh lượn
thành đường xoắn ốc kép. Hai bên mỗi nhánh lại rậm rạp những lá nhỏ ken xít
nhau. Giữa các hoa lá ấy là những nhánh lá cùng loại, cũng xoắn lại, rất dày và hợp
thành hình giống như chữ “X”. Lại có những nhánh hoa to mập, uốn cong lưỡi liềm
rất duyên dáng, mà phần đài hoa vừa như mây cụm, vừa như thứ nấm gần gũi với
cỏ linh chi, cứ thế lặp đi lặp lại nhiều lần thành một dải dài. Khác với thời nhà Lý,
tháp có tính thực tế, tháp là để thờ Phật nên 4 mặt có Bát bộ kim cương canh giữ
nhưng dưới thời nhà Trần, tháp chỉ mang tính tượng trưng lại là tháp nhỏ nên không
có hình tượng Bát bộ kim cương.
Chân cột góc của tầng tháp dưới này được trang trí cũng bằng lối khắc rạch
chùa - nhất là những phật tử vốn giầu lòng sùng kính - một cảm giác siêu thoát linh
thiêng. Nhất là khi đứng dưới chân tháp nhìn ngược lên, các rìa mái cứ nối nhau
tầng tầng lớp lớp, lên mãi không trung dễ gây lên sự choáng ngợp trước cảnh Phật.
Tháp còn đẹp vì nó gắn với môi trường của cả ngôi chùa rộng lớn xung quanh.
Toàn bộ cây tháp in bóng xuống mặt ao phía trước, nó hoà vào trong độ cao chung
của các cây cổ thụ um tùm cạnh sân. Nhờ vậy, tuy là cảnh Phật mà vẫn ấm cúng,
gần gũi với con người trần tục. Ngày xưa, giữa cảnh lầu gác cung điện của phủ
Thiên Trường trù phú, với dáng cao thanh đẹp như vậy, chắc chắn tháp sẽ thu hút
được sự chú ý của mọi người.
Việc tồn tại của tháp ngót bảy trăm năm ở một xứ khí hậu nhiệt đới, chiến
tranh liên miên như nước ta, quả đã có giá trị vô bờ. Nó không chỉ là niềm tự hào
của nhân dân, mà còn là tài sản vô giá do tổ tiên ta đã tốn bao nhiêu công sức, trí
tuệ, tiền của để tạo dựng trong quá trình lịch sử của dân tộc.
Tháp vút lên trên nền trời xanh thẳm như thể hiện ý chí hiên ngang bất khuất
của hào khí dân tộc một thời - hào khí Đông A - đã từng đánh bại 3 lần xâm lược
của phương Bắc. Đồng thời qua đó cũng thấy được triều đình nhà Trần đã nối tiếp
các triều đại trước có ý thức xây dựng quốc gia Đại Việt độc lập và tự chủ. Trong
quá trình đó, bên cạnh việc xây dựng nền chính trị tự cường, các vua Trần đang cố
gắng xây dựng một nền văn hoá - nghệ thuật riêng mang đậm bản sắc dân tộc.
Trong quần thể kiến trúc chùa Phổ Minh, tháp nằm ngay ở sân trước không còn
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
11
chiếm vị trí trung tâm như kiến trúc chùa tháp thời Lý. Vị trí kiến trúc của tháp như
một sự tiếp nối quá trình chuyển đổi từ chỗ tháp là trung tâm của chùa về đúng với
vai trò ban đầu và nguyên thuỷ của nó là mộ thờ Phật.
Đầu thế kỷ XX, có một nhà buôn nổi lòng từ thiện, bỏ tiền xin trùng tu tháp
đã dùng vôi vữa trát kín toàn bộ mặt ngoài lại. Kể cả quả hồ lô (chỏm tháp) vốn
bằng đồng cũng đã bị lấy cắp mất từ bao giờ. Trải qua bao đời, tuy có được trùng tu
sửa chữa nhiều lần, nhưng nhìn chung, tháp vẫn giữ được cốt cách, hình dáng xưa.
uốn lượn tinh tế, nhỏ dần về phía đuôi, đều đặn, mang tính chất Lý. Tính chất nhà
Lý còn được thể hiện rõ nét hơn là con rồng ở đây không có sừng và không có tai.
Tuy nhiên, đây là một công trình lớn có tính nhà nước nên phải làm theo kiến trúc
chính thống. Rồng là hình ảnh tượng trưng cho nhà vua nhưng ở Việt Nam, tại đình,
chùa người ta cũng dùng hình ảnh con rồng, đơn chiếc hoặc từng con uốn lượn, đan
xen để thể hiện tình làng nghĩa xóm của người Việt ta. Hình ảnh rồng ở đây được
chạm theo lối chạm trinh hay chạm nổi, khi ảnh sáng chiếu vào sẽ làm tôn hình ảnh
được chạm. Cánh cửa được sơn đen đều đặn, tạo ấn tượng vững chắc, khỏe mạnh.
Một nét đặc sắc nữa của đôi cánh cửa này là khi khép lại tạo thành hình lá
cây bồ đề, có người cho rằng đó là hai hình nửa giọt nước. Lá đề là biểu tượng cho
đức Phật. Hệ thống cửa khá hài hòa với hàng rồng đá ở bậc thềm và làm duyên cho
khu bảo tháp ở ngày trước chùa. (Ảnh minh hoạ 8)
Nhà bái đường (tiền đường) làm theo lối chồng giường, bẩy kẻ, 4 hàng cột
gỗ lim chắc nịch đặt trên chân tảng hoa sen. Hai hồi để cửa nách ra vào, mặc sau
liên đới với tòa tam bảo nên có sự giao mái bắt vần, tạo bộ mái phẳng phiu vừa phải
độ dốc, lại tránh được thấm nước, nhà bị dột. Hệ thống cột, giường, bẩy, kẻ, tuy
không có sự gia công đục chạm họa tiết nhưng cũng như hệ thống xà làm kiểu ống
tơ, tạo mạng, mộng khá tài tình nên từ bẩy, kẻ đến xà lòng, xà nách câu vào tứ trụ
đều rất bén, khít khó tìm ra khuyết điểm. Do vậy bộ khung tuy mộc mạc mà vẫn có
vẻ thanh thoát trong sự chắc nịch của kiến trúc cổ dân tộc.
Tại gian giữa tiền đường có bức cửa võng chạm họa tiết, sơn thếp lộng lẫy
làm cho gian chính điện thêm trang nghiêm, đồng thời làm đẹp cho cửa tam bảo.
Phía trong tiền đường có toàn tam bảo. Công trình này giao mái với tiền
đường, cũng được thiết kế theo lối chồng giường, tứ trụ, cột trong đứng trên chân
tảng hoa sen nên hai công trình có sự gắn bó, liên kết với nhau. Tòa tam bảo này bài
trí rất nhiều tượng Phật, theo nhiều cấp khác nhau từ cao xuống thấp nên quy cách
tam bảo mới đáp ứng được 7 cấp theo độ dốc, để khách hành hương có thế ngước
nhiền lên đủ thấy hết chư vị Phật cũng như Bồ Tát.
Sau Tam bảo là Thượng điện. Công trình này cao hẳng lên bởi nền cũng
được tôn cao. Do nhà to, cao nên cột cũng phải to, đường kính cột lên đến 50cm,
PHẦN 3 : GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT
1. Nội dung lí lịch các pho tượng thờ chủ yếu
Chùa Phổ Minh thể hiện rất rõ dấu ấn tam giáo đồng tôn nên trong chùa
không chỉ có 1 hệ thống tượng Phật.
Tại tòa Tiền đường, ở gian chính giữa đước bố trí ban thờ. Trên ban thờ có
bát hương thờ chung thế giới Phật mà dân gian thường gọi là bát hương công đồng.
Hai bên của ban công đồng có 2 pho tượng lớn. Đây là hình tượng Hộ pháp, một
ông là Trừng Ác và một ông là Khuyển Thiện có nhiệm vụ bảo vệ pháp báu của nhà
Phật. Phía bên phải tượng Hộ pháp Trừng Ác là ban thờ Sư Tổ Đạt Ma – người đầu
tiên truyền bá đạo Phật vào Việt Nam (Luy Lâu – nay là Thuận Thành, Bắc Ninh).
Trên ban có tượng Sư Tổ và tượng người hầu. Bên cạnh ban thờ tổ Đạt Ma là ban
thờ Đức Ông là người cai quản trông nom Phật đường.
Phần nửa tòa tiền đường ở phía đông, bên trái tượng Hộ pháp Khuyến Thiện
là có tượng Thổ Địa, cai quản khu vực đất đai xây dựng chùa. Bên trái tượng Thổ
Địa có bạn thờ Đức Thánh Hiền. Thực ra đó chính là Atnanđà (có nghĩa là hoan hỉ).
Người là đệ tử tin cậy, thường được hầu cận bên cạnh Phật.
Như vậy, tòa Tiền đường thờ Hộ Pháp, sư tổ Đạt Ma, Thổ Địa, Đức Ông và
Đức Thánh Hiền là nhưng vị có công đưa đạo Phật vào Việt Nam, bảo vệ Phật pháp
cũng như bố thí chúng sinh, cai quản lịnh địa giữ cho cửa thiền đc trang nghiêm.
Tòa tam bảo được bài trí theo hàng ngang và từ cao xuống thấp, từ trong ra
ngoài. Nghĩa là các vị tối thượng được xếp ở bệ cao nhất, trong cùng nhất. Do vậy,
tam bảo có 6 hàng tượng đặt trên bệ như sau :
Cấp cao nhất có pho tượng Phật Adiđà đứng trên tòa sen cao 1,6m, một tay
chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất. Tượng đứng trên tòa sen bên trái tượng Phật
Adiđà là Quan Thế Âm Bồ Tát, tiêu biểu cho sự từ bi và trí tuệ. Bên tay phải tượng
Đức Phật là Bồ Tát Đại Thế Chí có trí tuệ soi khắp 10 phương.
Cấp thứ hai chính giữa là tượng Phật Thích Ca, còn hai bên là Bồ Tát Phổ
16
2. Hình thức thể hiện các pho tượng thờ kể trên
Tượng Hộ Pháp: (Ảnh minh hoạ 9) Tượng Hộ Pháp mặc giáp trụ, cân đai oai
phong ngồi trên lưng sư tử rất đường bệ nhưng sắc thái hai vị khác nhau. Tượng
mặc như những vị võ tướng, thân hình vạm vỡ khoẻ mạnh – lối thể hiện này chủ
yếu có vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Tuy nhiên trên thân mình ông Hộ
Pháp có hình tượng con rồng đang quấn. Nếu ta để ý kỹ thì đuôi rồng nhỏ dần, cho
thấy pho tượng không thể tạc vào thế kỷ XVIII mà phải từ thế kỷ XIX trở về sau.
Ông Khuyến Thiện (Thiện Hữu) bao giờ cũng được coi trọng hơn ông Trừng Ác.
Tượng ông Khuyến Thiện có khuôn mặt hiền từ, khuôn mặt trắng hồng, tay cầm
viên ngọc hoặc báu vật luôn tỏ ý khuyên răn làm điều đúng đắn. Trong khi đó,
tượng ông Trừng Ác mặt dữ tợn, đỏ au, tay cầm vũ khí, có động tác mạnh như
muốn bổ xuống đầu người khác. Hai pho tượng Hộ Pháp cao khoảng 3,2m, là tượng
được đắp bằng đất từ thời Hậu Lê to thể hiện ước mơ, nguyện vọng bảo vệ tôn giáo
mà họ đang tôn thờ. Hai pho tượng này tuy không đẹp bằng ở chùa Bút Tháp và
Tây Phương nhưng cũng thể hiện được cái thần qua dáng ngồi, đôi mắt, tà áo tung
bay Sang đến thời Nguyễn tiếp tục sửa sang, quang diện lộng lẫy cầu kỳ, khiếp
chùa thêm phần đẹp đẽ nghiêm trang.
Tượng Sư Tổ Bồ Đề Đạt Ma: (Ảnh minh hoạ 10) Tượng được tạc bằng gỗ, to
bằng người thật, tóc xoăn đen, râu quai nón, quang diện màu hơi hồng (có nơi màu
đen, thể hiện cho người Ấn Độ), cốt cách hàm chứa vẻ từ bi của đạo thiền.
Tượng Đức Ông: to hơn người thật, được coi như là một vị thần. Vị thần này
coi sóc phần tinh khí của đất chùa, trực tiếp bảo vệ tài sản của chùa Phật. Đức Ông
là người có công mua đất của thái tử Vi Đà để cúng dường cho Đức Phật làm nơi
thuyết pháo nên ông được giao nhiệm vụ coi giữ cảnh chùa.
Tượng Thổ Địa: (Ảnh minh hoạ 12) Tượng được đặt ngồi trên bục gỗ cao
1,4m. Khuôn mặt từng trải, râu tóc bạc phơ. Việc thờ Thổ Địa là do chịu ảnh hưởng
của tín ngưỡng dân gian. Vị thần này trực tiếp trông nom đất đai trong khuôn viên
chùa. Dân gian coi như thần bản xứ, giúp đỡ tạo điều kiện đối với thiền tự Phổ
Tượng Nam Tào, Bắc Đẩu: tay cầm bút, tay cầm sổ như để ghi chép sinh, tử
của cõi trần . Dân gian tin việc sống chết là do số Trời định đoạt. Do vậy thờ Ngọc
Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu nhằm để cầu mong được che chở, sống lâu.
Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát nhiều tay, nhiều mắt (24 tay): Trong số 12 cặp
tay của bà, hoặc chắp trước ngực, hoặc để ở thế thiền định và nhiều tư thế giơ cao
như hòa đồng vũ điệu một cách sinh động. Quan Âm là dưới đức Phật một bậc, là
một vị bồ tát đã đắc đạo nhưng chịu lời nguyền không lên cõi niết bàn mà ở lại trần
gian để phổ độ chúng sinh nên tượng của bà được đặt ngồi trên tòa sen. Đây là vị bồ
tát biểu hiện cho tính Phật tiêu biểu nhất, có nhiều biến hóa, nhiều tay, nhiều mắt để
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
18
vươn được tới những nơi xa xôi và nhìn thấy hết được nỗi thống khổ của các Phật
tử. (Ảnh minh hoạ 14)
Tượng Phạm Thiên – Đế Thích: được tạc giống nhau, nằm ở hai bên tả hữu
Quan Thế Âm Bồ Tát. Đây là 2 vị Phật của đạo Bà La Môn nhưng tôn kính đạo
Phật nên tự nhận mình là những vị Phật. Khi Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới gốc cây
bồ đề ngộ đạo, các vị có xuống chúc mừng, đồng thời hỗ trợ Thích Ca thắng bọn ma
vương, giảng giải giáo lý nhà Phật. Đây cũng là một cách để tuyên truyền Phật
Giáo.
Tượng Di Lặc: Di Lặc cũng là vị thần như các vị khác, vượt qua ngoài kiếp
luân hồi. Đây là vị Phật mới đc bổ sung trong các tu viện ở Trung Quốc vào thế kỷ
thứ X. Di Lặc là hình ảnh Phật ở thế vị lai. Để làm cho phái Đại Thừa đông đúc
thêm các Phật tử, người ta đã đưa ra quan niệm, nếu tu hành đắc đạo thì sẽ đến được
nước Di Lặc (Quốc đạo). Vì vậy tượng Di Lặc được tạc với thân hình béo tốt, bụng
to, nét mặt hoan hỉ, hiền từ, miệng cười cởi mở.
Tượng Quan Âm Tọa Sơn: Bệ tượng thể hiện hình núi. Thường được thờ ở
vùng trung du và miền núi. Dáng vẻ hiền lành, chững chạc. Một tay đặt trên đầu
gối, một tay giữ hạt ngọc
Tượng Quan Âm Thị Kính: Duy nhất ở Việt Nam mới có tượng thờ này. Đôi
xưa nhân dân đã coi Trần Nhân Tông như đức Phật, do vậy hình tượng Người được
tạc theo thế Phật đang nhập cõi niết bàn ung dung, tự tại - thể hiện mức cao nhất
của việc tu hành. Hai bên ban thờ có hình tượng chim hạc đứng trên lưng rùa. Hình
tượng này bình thường không có trong chùa Phật nhưng đây là ban thờ thần thánh
nên có hình tượng này. Chim hạc thể hiện sự thanh cao, quyền quý. Rùa thể hiện
cho sự trường thọ. (Ảnh minh hoạ 16)
Tượng Đệ nhị tổ Pháp Loa: đặt bên trái tượng nằm Trần Nhân Tông.
Tượng Đệ tam tổ Huyền Quang: đặt bên phải tượng Trần Nhân Tông
Vì chùa Phồ Minh là chùa của hoàng tộc nhà Trần, được đặt trên quê hương
của dòng họ nhà Trần nên có tượng thờ Trần Nhân Tông. Hai vị Pháp Loa và
Huyền Quang là những người đã giúp ông sáng lập và truyền bá phái Trúc Lâm
Tam Tổ nên cũng được đưa về đây thờ cúng.
Tượng Thích Ca: đặt ở cấp trong cùng cao nhất của gian thượng điện. Tượng
được đặt trên toà sen, bàn tay trái để ngửa trên đầu gối như giữ ấn, bàn tay phải giơ
hay ngón tay kiểu đang thuyết pháp khiến Phật thời quá khứ tĩnh mà lại động, tự tại
mà như hoá thân khắp vùng miền tế độ lương dân.
Tượng vị tổ thứ nhất Maha Cadiếp: được đặt ở hai bên tượng Thích Ca là hai
vị tổ. Maha Cadiếp là vị tổ thứ nhất, họ trò của Thích Ca Mầu Ni, theo Thích Ca từ
lâu, là con của một người lao động nhưng rất thông minh. Ông có công ghi chép lại
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
20
bộ ‘Kinh Phật nguyên thuỷ’ khi Thích Ca đi truyền đạo. Tượng ông có thêm râu thể
hiện là người già dặn, từng trái, dáng khoẻ mạnh, nhanh nhẹn. Dáng đứng trụ vào
một chân, chân trước, chân sau. Tượng ông còn có hình tượng khoát tay.
Tượng vị tổ thứ hai Átnanđà: ông là cháu của Thích Ca Mầu Ni. Dáng vẻ
hân hoan, thoả mãn đầy khoái lạc, nét mặt tươi cười hỉ hả. Khi ông kế nghiệp Maha
Cadiếp thì bộ kinh Phật đã được biên soạn sau. Do vậy nên các nghệ nhân thường
thể hiện một vị tổ trẻ tuổi, mặt mũi nhẵn nhụi, tỏ vẻ thoả mãn sung sướng.
Tượng Ngũ vị Tôn Quan: Được đặt trước ban thờ Tam toà Thánh Mẫu. Mỗi
sen
Tam Quan
Vườn
cây
Vườn
cây
Bàn th
ờ
3. Sơ đồ các pho tượng thờ và chú thích1. Đ
ức Ông
14. B
ắc Đẩu
27. Tr
ần Nhân Tông
2. Sư T
ổ Đạt Ma
15. Ph
ạm Thi
ên
28. Pháp Loa
12. Nam Tào
25. Quan Âm B
ồ Tát
38. Đ
ệ Nhị V
ương Cô
13. Ngọc Hoàng 26. Đại Thế Chí 39. Linh Từ Quốc Mẫu
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
22PHẦN 4: THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách tham khảo
1. Hà Văn Tấn – ‘Chùa Việt Nam’
NXB Khoa học xã hội (năm 1992)
2. Hồ Đức Thọ (Nghiên cứu – biên soạn) – ‘Chùa Phổ Minh với Giác Hoàng Trần
Nhân Tông’
NXB Văn Hoá – Thông Tin (Quý I năm 2008)
Bản photo trang Web (đính kèm)
Bản vẽ mặt bằng di tích (đính kèm)
Ảnh 2: Hồ Sen
Bài Thu hoạch điền dã Tín ngưỡng – Tôn giáo – Phong tục – Lễ hội
24 Ảnh 4: Mái thẳng, bít đốc
Ảnh 6 : Đế tháp Phổ Minh