SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN TÁI SẢN XUẤT XÃ HỘI DO MÁC THỰC
HIỆN TRONG LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ VỚI VIỆC
NHẬN THỨC VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ HIỆN NAY
Phạm Nguyễn Ngọc Anh – Học viện chính trị
MỞ ĐẦU
Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, nên không thể ngừng sản xuất. Do vậy,
bất cứ quá trình sản xuất xã hội nào, nếu xét theo tiến trình đổi mới không ngừng
của nó, chứ không phải xét theo hình thái từng lúc, thì đồng thời đều là quá trình
tái sản xuất. Trong lịch sử tư tưởng kinh tế của nhân loại đã có nhiều nhà kinh tế
đề cập đến tái sản xuất xã hội. Tiêu biểu phải kể đến đó là nhà kinh tế người
Pháp F.Quesnay với “biểu kinh tế F.Quesnay” nổi tiếng; Adam.Smith cũng để
lại trong lịch sử tư tưởng kinh tế những đóng góp nhất định về tái sản xuất;David
Ricardo với “lý thuyết thực hiện”; đại biểu kinh tế cổ điển cuối cùng của Pháp
J.Sismondi người đã đưa ra những lời cảnh báo về sản xuất thừa và khủng hoảng
kinh tế…Tuy nhiên người đã tạo nên bước ngoặt cách mạng, khoa học trong
kinh tế chính trị nói chung và trong lý luận về tái sản xuất nói riêng không ai
khác đó chính là Các Mác. Nhà lý luận kiệt xuất của nhân loại đã có những phát
kiến và dự báo thiên tài với những lập luận sắc bén, khoa học, Người đã chứng
minh quá trình khủng hoảng kinh tế dưới Chủ nghĩa tư bản là một tất yếu khách
quan, từ đó vạch ra bản chất và sự tất yếu diệt vong của Chủ nghĩa tư bản – điều
mà các nhà lý luận nói chung và các nhà kinh tế chính trị nói riêng trước đó
không làm được, hoặc không thoát ra được gánh nặng giai cấp của mình.
Vào ngày 5-11-2008, trong lúc viếng thăm trường Kinh tế Luân Đôn
(London School of Economics) nổi tiếng, nữ hoàng Anh Elizabeth II hỏi các nhà
kinh tế hiện diện: “Tại sao không ai tiên đoán được cuộc khủng hoảng tín dụng
1
hiện nay?”. Thật ra câu hỏi của nữ hoàng Anh cũng là câu hỏi của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới. Nhân loại vừa mới trải qua những ngày
đen tối có tính chu kỳ.
Một lần nữa nghiên cứu lý luận tái sản xuất trong lịch sử tư tưởng kinh tế
để có cái nhìn khách quan, toàn diện với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Với chút ít
tham vọng đó tác giả chọn chủ đề : “Sự phát triển lý luận tái sản xuất xã hội do Mác thực hiện
- Không tính đến biến động về giá cả ( giá cả bằng giá trị)
- Không tính đến ngoại thương, đây là giả định cần thiết mà sau này
J.Sismondi và phái dân túy Nga đã không hiểu khi phân tích lý luận tái sản xuất
- Tái sản xuất là quá trình thực hiện tổng sản phẩm xã hội cả về hiện vật
và giá trị. Quá trình lưu thông sản phẩm gắn với lưu thông tiền tệ, tiền tệ trở về
điểm xuất phát ban đầu khi hết một chu kỳ tái sản xuất.
- Trao đổi tổng sản phẩm xã hội là sự trao đổi giữa ba giai cấp: Giai cấp sở
hữu, giai cấp sản xuất, giai cấp không sản xuất
- Giá trị tổng sản phẩm xã hội gồm 7 tỷ Frăng, trong đó 5 tỷ là sản phẩm
nông nghiệp, 2 tỷ là sản phẩm của giai cấp không sản xuất. Trong 5 tỷ sản phẩm
nông nghiệp có :( 1 tỷ để bù đắp tư bản ứng trước đầu tiên, 2 tỷ để bù đắp khoản
ứng ra hằng năm, 2 tỷ sản phẩm thuần túy nộp cho giai cấp sở hữu )
- Trong 2 tỷ sản phẩm công nghiệp có ( 1 tỷ bù đắp hao phí nguyên vật
liệu, 1 tỷ bù đắp tư liệu tiêu dùng)
- Để lưu thông 7 tỷ sản phẩm trên, giai cấp sản xuất có 2 tỷ tiền mặt với tư
cách là tiền tô để trả cho giai cấp sở hữu
3
“ Biểu kinh tế” của F.Quesnay phân tích quá trình vận động của tổng sản
phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn được thể hiện thông qua 5 hành vi:
+ Hành vi 1: Giai cấp sở hữu dùng một tỷ tiền tô để mua nông phẩm của
giai cấp sản xuất, vậy là một tỷ nông phẩm ra khỏi lưu thông và đi vào tiêu dùng
của giai cấp sở hữu
+ Hành vi 2: Giai cấp sở hữu dùng một tỷ tiền tô còn lại để mua một tỷ
hàng công nghệ của giai cấp sản xuất, vậy là một tỷ trong hai tỷ sản phẩm công
nghiệp đi vào tiêu dùng của giai cấp sở hữu.
+ Hành vi 3: Sau khi nhận một tỷ tiền của giai cấp sở hữu, giai cấp không
sản xuất đem tiến đó mua tư liệu sinh hoạt ( nông phẩm) của giai cấp sản xuất.
Như vậy giai cấp sản xuất đã thực hiện được 2/5 số sản phẩm của mình.
+ Hành vi 4: Giai cấp sản xuất dùng một tỷ tiền vừa thu được để mua
TLSX của giai cấp không sản xuất, vậy là giai cấp không sản xuất đã thực hiện
này gián tiếp F.Quesnay cho rằng dưới CNTB không có khủng hoảng kinh tế, và
như thế CNTB tồn tại vĩnh viễn như là xã hội cuối cùng trong lịch sử. Một cái
nhìn thiển cận, bảo thủ trì trệ của chủ nghĩa trong nông nói chung và của
F.Quesnay nói riêng.
5
- Không thấy được sự trao đổi trong nội bộ ngành công nghiệp, công
nghiệp không tiêu dùng sản phẩm của mình cũng như không bù đắp chi phí tư
liệu sản xuất của mình. Do vậy, họ không thể tái sản xuất.
Mặc dù vẫn còn tồn tại những hạn chế song “ Biểu kinh tế” được coi là
khởi thủy của học thuyết tái sản xuất tư bản xã hội mà sau này C.Mác tiếp tục
nghiên cứu phát triển. Cũng trên cơ sở học thuyết tái sản xuất của mình chủ
nghĩa Mác - Lê nin đã khẳng định rõ những mâu thuẫn của nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa chỉ ra sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản.
Một nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển khác cung khá nổi tiếng với lý
thuyết về bàn tay vô hình đó chính là Adam Smith (1723-1790). Ông cũng đã dề
cập đến lý luận về tái sản xuất. Adam Smith một nhà kinh tế chính trị tư sản cổ
điển Anh. Các.Mác đã phân tích một cách sâu sắc phương pháp luận của Adam
Smith đó là phương pháp hai mặt: Một mặt, Adam Smith đi sâu tìm hiểu bản
chất bên trong của các hiện tượng, quá trình kinh tế, vạch rõ mối liên hệ bên
trong của chế độ tư bản, tìm hiểu những quy luật vận động của nền sản xuất tư
bản chủ nghĩa; mặt khác, ông vẫn thường dùng phương pháp mô tả , liệt kê, thuất
lại bằng khái niệm có tính chất công thức những biểu hiện bề ngoài của đời sống
kinh tế và do đó cũng thường dẫn đến những kết luận phi lý tầm thường. Hai
phương pháp này của Adam Smith luôn sống bên nhau, quyện chặt vào nhau và
thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Vì vậy mà lý luận của ông thường có mâu
thuẫn, thiếu nhất quán. Phương pháp luận có tính hai mặt vừa khoa học, vừa tầm
thường của Adam Smith có ảnh hưởng tới kinh tế học tư sản sau này.
Vế lý luận tái sản xuất, Adam Smith dựa trên cơ sở lý luận về giá trị lao
động để xây dựng lý luận tái sản xuất, song cho rằng giá trị của hàng hóa bao
gồm các thu nhập: tiền lương, lợi nhuận. địa tô. Theo ông tiền lương, lợi nhuận,
Các Mác coi ông là người đã hoàn thành lý luận của trường phái kinh tế chính trị
tư sản cổ điển. Ông là nhà tiền bối lớn nhất của Mác.
David Ricardo sống trong thời kỳ hoàn thành cách mạng công nghiệp ở
Anh. Đó chính là điều kiện khách quan làm cho việc nghiên cứu của ông vượt
qua được giới hạn mà AdamSmith dừng lại. Thế giới quan của ông có tính duy
vật, tuy nhiên chủ nghĩa duy vật của ông là chủ nghĩa duy vật máy móc. Là tư
tưởng gia của giai cấp tư sản công nghiệp, David Ricardo coi khát vọng tăng thu
nhập của giai cấp tư sản là một tiêu chuẩn kinh tế (ông xuất thân từ một người
buôn chứng khoán), ông ít quan tâm đến lợi ích và vận mệnh của giai cấp vô sản
và cho rằng phương thức sản xuất phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là
phương thức có ợi nhát để tạo ra của cải. Ông đã có những giả định đúng, xem
tiêu dùng là do sản xuất quyết định, muốn tái sản xuất mở rộng thì phải làm cho
sản xuất vượt quá tiêu dùng. Sản xuất phát triển sẽ tạo ra thị trường
Theo ông phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có hai mâu thuẫn chi
phối đó là: tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm trong quá trình tích lũy tư bản và
mâu thuẫn về kinh tế giữa các giai cấp trong xã hội. Ông không nhận thấy những
mâu thuẫn khác bắt nguồn từ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. David
Ricardo phủ nhận khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản, ông khẳng định
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể dẫn đến những cuộc khủng hoảng phổ
biến, vì lượng cầu thường là những lượng cầu có khả năng thanh toán. Lượng
cầu đó được củng cố thêm bằng lượng cung hàng hóa và “ sản phẩm bao giờ
cũng được mua bằng sản phẩm hay bằng những sự phục vụ, tiền chỉ làm thước
8
đo khi thực hiện sự trao đổi đó”. Ông chỉ thừa nhận khủng hoảng sản xuất thừa
cá biệt loại sản phẩm này hay loại sản phẩm kia, nhưng chủ nghĩa tư bản có thể
điều chỉnh được mất cân đối chỉ là tạm thời.
Lý luận về thực hiện tổng sản phẩm xã hội của David Ricardo là điểm yếu
nhất trong học thuyết kinh tế của ông. Ông chưa tiến lên một bước nào so với
các nhà kinh tế trước đó. Ông mất năm 1823 nên không được chứng kiến cuộc
khủng hoảng sản xuất thừa đầu tiên của chủ nghĩa tư bản diễn ra năm 1825. Mác
J.Sismondi cũng đã đưa ra những con đường, biện pháp để tránh khủng
hoảng kinh tế.Theo ông, khủng hoảng không nổ ra thường xuyên là nhờ có ngoại
thương, nhưng đó là lối thoát tạm thời, lối thoát thứ yếu là các nhà tư bản tiêu
dùng nhiều hơn, lối thoát cơ bản là phát triển sản xuất nhỏ. Vì sản xuất nhỏ là
sản xuất vừa phải, dẫn đến thu nhập sản xuất nhỏ tăng, do đó sản xuất ăn khớp
nhu cầu tiêu dùng. Như vậy nghiên cứu lý luận khủng hoảng kinh tế của
J.Sismondi có thể nhận thấy các vấm đề sau:
- Điều hợp lý ở S.Sismondi là ông đã khẳng định khủng hoảng kinh tế là
tất yếu, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa sẽ có sản xuất thừa đó là kết quả của mâu
thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng
- Do đồng nhất sản xuất với thu nhập nên ông không phân biệt được sự
khác nhau giữa tư bản và thu nhập quốc dân, không phân biệt được tiêu dùng sản
xuất và tiêu dùng cá nhân và do đó không thấy được vai trò tích lũy sản xuất.
10
- Ông xem xét khủng hoảng theo quan điểm sản xuất nhỏ, quan điểm tiểu
tư sản, giải thích sự giảm sút của thị trường do suy đồi của nền sản xuất nhỏ. Sở
dĩ như vậy là vì ông không hiểu nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng kinh tế -
đó là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản.
Kế thừa có phê phán những thành tựu tư tưởng nói chung và lịch sử các
học thuyết kinh tế nói riêng Mác đã làm nên một cuộc cách mạng trong kinh tế
chính trị trong đó có lý luận về tái sản xuất tư bản xã hội. Mác là người đầu tiên
vạch trần bản chất và chỉ ra tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản.
Bằng việc vận dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học một cách
nhuần nhuyễn trong phân tích các vấn đề kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản Mác đã
xây dựng lý luận tái sản xuất xã hội một cách khoa học và triệt để. Mác đã gạt bỏ
những sai lầm của A.Smith và Quesney khi đưa ra các giả định dựa trên hai
nguyên lý : Giá trị tổng sản phẩm xã hội gồm ba bộ phận C+V+m (xét về mặt giá
trị) tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng ( xét về mặt hiện vật) ; phân chia nền sản
xuất thành hai khu vực là sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất tư liệu tiêu dùng.
Mác đưa ra những giả định khoa học:
Khả năng khủng hoảng kinh tế đã tiềm tàng trong sản xuất hàng hoá giản
đơn. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, khủng hoảng kinh tế trở thành hiện
thực. Nguyên nhân cơ bản sâu xa của khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản
là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ
xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ
12
nghĩa về các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Những biểu hiện chính của mâu
thuẫn đó gồm:
1. Mâu thuẫn giữa tính có tổ chức, có kế hoạch trong từng xí nghiệp với
tính chất tự phát vô chính phủ của sản xuất xã hội nhất là trong giai đoạn tự do
cạnh tranh. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù có sự can
thiệp, điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư bản thông qua các kế hoạch và chương
trình kinh tế nhưng nền tảng của nền kinh tế của xã hội tư bản vẫn không thay
đổi. Do đó, các tỷ lệ cân đối của nền kinh tế vẫn bị phá vỡ vì nó phục tùng trước
hết lợi ích của các tập đoàn tư bản độc quyền. Nhà nước tư sản hiện đại phải
phục tùng ý chí của giai cấp tư sản.
2. Mâu thuẫn giữa xu hướng mở rông sản xuất vô hạn của chủ nghĩa tư bản
và sức mua có hạn của quần chúng
3. Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Đặc điểm
của sản xuất TBCN là sự tách rời giữa tư liệu sản xuất và người lao động. Tư
liệu sản xuất thì tập trung trong tay giai cấp tư sản còn người công nhân ngoài
sức lao động của mình không còn gì để kiếm sống. Sự tách rời 2 yếu tố đó của
sản xuất biểu hiện rõ rệt trong khủng hoảng kinh tế. Lúc này tư liệu sản xuất
không được sử dụng còn người lao động không có việc làm.
Khủng hoảng luôn là bạn đồng hành của kinh tế tư bản chủ nghĩa có
tính chu kỳ với biên độ ngày càng dầy hơn.
Bất kỳ khủng hoảng nào cũng chỉ xuất hiện khi bị mất thăng bằng, bị mất
cân đối giữa những phần cấu thành sự thống nhất. Trong phạm trù kinh tế thì
khủng hoảng xuất hiện khi thăng bằng giữa cầu và cung của hàng hóa hoặc dịch
vụ bị mất. Có bao nhiêu lý thuyết về kinh tế, thì có bấy nhiêu loại khủng hoảng
nhau, cho dù lĩnh vực và quốc gia hứng chịu đầu tiên, mức độ mạnh yếu, phạm
vi lan tỏa, độ dài thời gian có thể khác nhau. Tóm lại, khủng hoảng kinh tế lặp đi
lặp lại như một quy luật khách quan, vận hành theo một cơ chế đại thể như nhau
với một số khác biệt tùy theo bối cảnh từng nước và từng thời kỳ. Cái khác căn
bản là ngày nay, dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, tính tùy thuộc giữa các
quốc gia quá chặt chẽ, đứng trước hiểm họa chung các nước đều phải cụm lại đối
phó. Do đó, khủng hoảng đỡ nghiêm trọng hơn và không đưa tới chiến tranh thế
giới.
Khủng hoảng kinh tế tác động tới nước ta và những vấn đề cần quan
tâm
Về mặt nhận thức, theo nguyên phó thủ tướng Vũ Khoan cần làm rõ hai
điều
Một là, hiện nay có hai luồng ý kiến về tác động của khủng hoảng kinh tế
thế giới đến kinh tế nước ta. Một luồng cho rằng, tác động đó sẽ có độ trễ và
không lớn do nước ta hội nhập chưa sâu; luồng ý kiến thứ hai cho rằng, tác động
đó rất nhanh và khá sâu. Có lẽ, cách đề cập thứ hai chuẩn xác hơn, và thực tế vừa
qua đã chứng minh như vậy. Thực tế là, ngày nay không có bất kỳ nền kinh tế
nào có thể tách biệt hoàn toàn với kinh tế thế giới, vả lại nước ta lại tùy thuộc
quá nhiều vào kinh tế thế giới cả ở đầu vào (vốn, máy móc, thiết bị, nguyên –
nhiên – vật liệu nhập khẩu) lẫn đầu ra (xuất khẩu); nay lại hội nhập đầy đủ với
kinh tế thế giới. Điều này khác hẳn thời kỳ nổ ra cuộc khủng hoảng khu vực cuối
những năm 90 thế kỷ trước.
15
Hai là, một số người cho rằng, những khó khăn của nền kinh tế nước ta
đều do quá trình hội nhập kinh tế thế giới gây ra. Đúng như ta đã lường trước,
một khi hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế thế giới thì tất yếu ta sẽ chịu tác
động của nó, cả về chiều thuận lẫn chiều nghịch. Lạm phát cao một phần do điều
này, kinh tế suy giảm một phần cũng do tác động của khủng hoảng toàn cầu. Nói
như vậy không có nghĩa là mọi chuyện đều do hội nhập, mà một phần không nhỏ
còn do sự yếu kém vốn có của nền kinh tế, cùng những bất cập trong điều hành
Thứ ba, khủng hoảng đồng hành với chủ nghĩa tư bản hay là quy luật của
sản xuất hàng hóa? Các nước xã hội chủ nghĩa dưới thời kế hoạch hóa tập trung
có tránh được khủng hoảng không? Các nước chủ trương cải cách và mở cửa
theo định hướng xã hội chủ nghĩa có bị khủng hoảng không?
Về mặt thực tiễn, cần tính đến các tác động ngắn hạn cũng như tác động
trung và dài hạn. Về tác động ngắn hạn đã được bàn thảo nhiều và đang được xử
lý.Những tác động dài hạn là điều đáng được bàn nhiều hơn cả về mặt lý luận lẫn
thực tiễn.
Về lý luận, như trên đã nói, cần làm rõ "cơ chế vận hành" của tình trạng
suy giảm, suy thoái, thậm chí khủng hoảng kinh tế dưới chế độ xã hội chủ nghĩa;
mối quan hệ giữa sự điều tiết của thị trường và nhà nước trong điều kiện thể chế
thị trường và hội nhập. Bên cạnh đó, tác động của cuộc khủng hoảng lần này đặt
ra vấn đề về sự cần thiết xử lý thỏa đáng các mối quan hệ sau:
17
- Mối quan hệ giữa tốc độ với chất lượng, hiệu quả; giữa phát triển theo
chiều rộng với phát triển theo chiều sâu. Đứng trước nguy cơ bị tụt hậu ngày
càng xa về trình độ phát triển kinh tế, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh", đương
nhiên nước ta cần phát triển nhanh. Vấn đề chỉ là bằng giá nào và nên xử lý thế
nào mối tương quan giữa yêu cầu "nhanh"và yêu cầu "bền vững"? Kinh nghiệm
thế giới và bản thân nước ta cho thấy, chất lượng, hiệu quả tăng trưởng mới có ý
nghĩa quyết định và lâu bền. Bản thân khái niệm "kinh tế" (economy) đã có
nghĩa là sản xuất ra nhiều của cải nhất với chi phí ít nhất.
Từ nhận thức như vậy, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề về cơ cấu đầu tư, cơ sở
sản xuất, cơ chế thị trường… Để bảo đảm chất lượng và hiệu quả tăng trưởng thì
hệ số sử dụng đồng vốn mới quan trọng chứ không chỉ là hệ số đầu tư so với
GDP.
Vừa qua, kinh tế nước ta phát triển chủ yếu theo chiều rộng, thậm chí có
thể coi là một nền kinh tế tiêu hao. Nhân tố vốn chiếm tới 57,5% tăng trưởng,
nhân tố lao động chiếm 20%, trong khi ở các nước trong khu vực tỷ lệ đó là 35%
– 40%. Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP quá cao, trong nhiều năm trên 40%, năm
tranh để phân chia lại thị trường, xu hướng chủ yếu sẽ là tìm cách dàn xếp mâu
thuẫn, dung hòa lợi ích để tránh sự sụp đổ toàn hệ thống. Điều đó càng củng cố
nhận định của Đảng ta rằng, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, trong vài
thập kỷ tới ít có khả năng nổ ra chiến tranh thế giới; hòa bình và hợp tác và phát
triển là xu thế lớn.
19
Mặt khác, khi nước ta đã hội nhập quốc tế và có vị thế quốc tế khá cao thì
cần chủ động tham gia vào quá trình dàn xếp, hợp tác quốc tế để hình thành trật
tự kinh tế quốc tế mới công bằng và dân chủ.
- Cuộc khủng hoảng lần này cho thấy có sự chuyển dịch "quyền lực toàn
cầu". Chúng ta cần theo dõi chặt chẽ, nghiên cứu thấu đáo để có quyết sách thích
hợp có lợi nhất cho đất nước cả về chính trị lẫn kinh tế.
KẾT LUẬN
Lý luận tái sản xuất của Mác là sự kế thừa có phê phán các tư tưởng của
các nhà kinh tế học tư sản cổ điển. F.Quesney là người đầu tiên nghiên cứu về tái
sản xuất, ông đã có nhiều cống hiến khoa học, song cũng còn nhiều hạn chế bởi
tư tưởng trọng nông. Tiếp đó đến AdamSmith, D.Ricardo, J.Sismondi, nhưng sự
bổ sung không được bao nhiêu, thậm chí có nhiều điểm thụt lùi so với
F.Quesney.Trên những thành tựu đó Mác đã bổ sung và phát triển làm cho lý
luận tái sản xuất được hoàn thiện và khoa học, đây chính là một trong những nội
dung rất quan trọng trong cuộc cách mạng trong kinh tế chính trị học do Mác-
Ăngghen tiến hành.
Nghiên cứu lý luận tái sản xuất tư bản xã hội trong lịch sử các học thuyết
kinh tế cho ta một cách nhìn khách quan khoa học trong nhận thức cả về lý luận
và thực tiễn với vấn đề khủng hoảng kinh tế . Một trong những vấn đề nóng bỏng
của các nền kinh tế hiện nay.
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tê thế giới,
với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội trong đó có lĩnh cực kinh tế. Tiếp tục đổi mới, xây dựng hoàn thiện
và phát triển thể chế cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với sự tham